ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ LÝ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mai Hương
Vũ Thị Lý
ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu Nguyên nghĩa
1 BCH Ban chấp hành
2 BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
3 ĐHQGHN Đại học Quốc Gia Hà Nội
4 GS Giáo sư
5 NQ Nghị Quyết
6 NXB Nhà xuất bản
7 PGS Phó Giáo sư
8 QĐ Quyết định
9 SL Số lượng
10 SV Sinh viên
11 TB Trung bình
12 TCN Trước Công nguyên
13 TSKH Tiến sỹ khoa học
14 TTg Thủ tướng
15 TW Trung Ương
tự học
65
Bảng 2.9
Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp tự
học của sinh viên
69
Bảng 2.10
Kết quả khảo sát mức độ đánh giá của sinh viên về các
điều kiện phục vụ tự học
71
Bảng 2.11
Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng thời gian dành cho
tự học của sinh viên
73
Bảng 2.12
Thực trạng quản lí việc xây dựng và thực hiện đề
cương môn học
77
Bảng 2.13
Thực trạng mức độ thực hiện quản lí đổi mới nội dung,
phương pháp dạy học
79
Bảng 2.14
Thực trạng quản lí tự học của sinh viên
80
Bảng 2.15
Thực trạng quản lí quá trình kiểm tra- đánh giá kết quả
học tập
82
Biểu đồ biểu diễn sự đánh giá nội dung tự học của
sinh viên
68
vMỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ iv
Mục lục v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 6
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1. Trên Thế Giới 6
1.1.2. Ở Việt Nam 7
1.2. Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1. Các khái niệm về quản lí 8
1.2.2. Khái niệm về dạy học và tự học 13
1.3. Đào tạo theo tín chỉ và hoạt động tự học của sinh viên trong học chế tín
chỉ 18
1.3.1 Học chế tín chỉ 18
1.3.2. Hoạt động tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ 23
2.3.1. Đặc điểm của sinh viên và đặc điểm đào tạo của Đại học Hòa Bình 56
2.3.2. Thực trạng nhận thức của sinh viên về vai trò và ý nghĩa của tự học 61
2.3.3. Thực trạng nhận thức về động cơ tự học của sinh viên 65
2.3.4. Thực trạng nội dung tự học của sinh viên 67
2.3.5. Thực trạng sử dụng các phương pháp tự học của sinh viên 69
2.3.6. Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên 70
2.3.7. Nhận xét chung 74
2.4. Thực trạng công tác quản lí hoạt động tự học của sinh viên Đại học Hòa
Bình 75
2.4.1. Thực trạng quản lí hoạt động hướng dẫn tự học của giảng viên 75
2.4.2. Thực trạng quản lí hoạt động học và tự học của sinh viên 79
vii2.4.3. Thực trạng quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh
viên 81
2.4.4. Thực trạng quản lí các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật
phục vụ hoạt động tự học 83
2.5. Đánh giá chung về mức độ thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động tự
học của sinh viên Đại học Hòa Bình 85
2.5.1. Những thuận lợi 85
2.5.2. Những khó khăn, tồn tại cần khắc phục 86
2.5.3. Nguyên nhân 87
Tiểu kết chương 2 89
CHƯƠNG 3. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC HÒA BÌNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO
TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 90
3.1. Nguyên tắc xác định các biện pháp 90
3.1.1. Đảm bảo tính khoa học 90
PHỤ LỤC 121 1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, với mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, mạnh
mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo; Đáp ứng ngày càng tốt hơn
công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân; Giáo
dục con người Việt Nam phát triển toàn diện; Cuối năm 2013, Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung
ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam. Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu
của đổi mới lần này là: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp,
dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với
xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng và hội
nhập quốc tế; Đặc biệt, mục tiêu đối với giáo dục đại học là cần phải tập trung
đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng
yêu cầu của xã hội.
Tự học là yếu tố quyết định chất lượng học tập, chất lượng đào tạo, là
con đường nhanh chóng đưa sự nghiệp giáo dục nước ta tiến kịp các nước
trong khu vực và trên thế giới. Tự học xuất phát từ chính nhu cầu muốn học
hỏi, muốn gia tăng sự hiểu biết để làm việc và sống tốt hơn của mỗi người, là
hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các
trường đại học. Để hoạt động tự học của sinh viên đạt được những thành quả
như mong đợi thì đổi mới công tác quản lí giáo dục được xem như là giải
pháp quan trọng.
Trường Đại học Hòa Bình được thành lập theo quyết định số 244/QĐ-
TTg ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Trường định
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các biện
pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên để từ đó đề xuất ra những biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học cho sinh viên Đại học Hòa
Bình là một việc cấp thiết cả về lí luận và thực tiễn.
3
Chính vì vậy tôi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Quản lí hoạt
động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Đại
học Hòa Bình” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tế quản lí hoạt động tự học của
sinh viên Đại học Hòa Bình, đề tài nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản
lí hoạt động tự học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên Đại học
Hòa Bình đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tự học và quản lí hoạt động tự học của sinh viên
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tự học và quản lí hoạt động
tự học của sinh viên Đại học Hòa Bình.
- Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động tự học cho sinh viên Đại
học Hòa Bình để nâng cao chất lượng đào tạo và khảo nghiệm tính khả thi của
những biện pháp đó.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của sinh viên Đại học Hòa Bình
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động tự học của sinh viên Đại học
Hòa Bình.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên ở trường Đại học Hòa Bình
hiện nay như thế nào?
- Biện pháp nào có thể được sử dụng để tăng cường quản lí hoạt động tự
+ Phương pháp quan sát, phân tích thực tế: Đề tài quan sát toàn bộ quy
trình quản lí và thực hiện việc quản lí hoạt động tự học trong tín chỉ tại
Trường, phân tích và đưa ra những đánh giá tổng quan.
+ Phương pháp thống kê số liệu: Các số liệu, thông tin về quản lí hoạt
động tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ được thống kê theo các tiêu
chí cụ thể, liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp xử lí thông tin:
5
Các thông tin định tính và định lượng được xử lí để xây dựng các luận
cứ, khái quát hóa thực trạng phục vụ mục đích nghiên cứu. Đối với những
thông tin định lượng, các dữ liệu thu thập được xử lí bằng chương trình thống
kê toán học trên Excel. Thông tin định tính được xử lí logic bằng việc đưa ra
các phán đoán về bản chất các sự việc, đồng thời thể hiện những liên hệ logic
của các sự việc.
- Viết báo cáo tổng kết đánh giá, so sánh và đề xuất
9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9.1. Ý nghĩa lí luận
Nghiên cứu đề tài là cơ hội để tìm hiểu thực trạng quản lí hoạt động tự
học của sinh viên Trường Đại học Hòa Bình và từ đó đề xuất biện pháp tăng
cường quản lí hoạt động từ học cho sinh viên, tạo ra sự hứng thú về tự học
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của nhà trường.
9.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho Trường Đại học Hòa Bình,
các cơ sở liên kết đào tạo. Đồng thời có ý nghĩa tham khảo đối với các
Trường Đại học khác.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
điểm “Sự học tập do người học là chủ đạo”.
Jan Amos Komenxki (1592 - 1670) nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp
Khắc đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành
tài năng”. Năm 1657, trong tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” ông nêu
rõ: “Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần
mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ”[11, tr. 40]
J.Vial, nhà sư phạm Pháp cho rằng “Việc dạy học phải tạo ra tình
huống học tập lí tưởng, tạo điều kiện cho đông đảo học sinh hoạt động tự
giác, tích cực độc lập, sáng tạo, tạo điều kiện cho học sinh kiểm soát việc tự
học của mình”. [20, tr. 98]
Bobbi Deporter và Mike Hernacki, trong cuốn sách có tựa đề “Phương
pháp học tập siêu tốc” đã trình bày khá đầy đủ về kỹ thuật học tập. Các ông
7
coi trọng vai trò tự giác học tập của người học, xác định động lực tự học được
hình thành từ tình cảm, từ ý thức của người học. [4, tr.116].
1.1.2. Ở Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm
trong tự học, tự rèn luyện. “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là
nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó mà
tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”. Bác cũng luôn nhắc nhở cán
bộ về cách học tập “Học là lấy tự học làm cốt, do chỉ đạo và thảo luận góp
vào”. Tư tưởng của Người về giáo dục đã được vận dụng, quán triệt trong các
Nghị quyết của Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ II - BCH TW Đảng khoá
VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học… nâng cao khả năng tự
học, tự nghiên cứu của người học”. [17, tr.226].
Vấn đề tự học của học sinh, sinh viên cũng đã được nhiều nhà khoa
học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu gồm: “Quá trình dạy - tự học” của GS.
quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lí có
vai trò rất lớn. Khi đưa ra khái niệm về quản lí, các tác giả thường đứng trên
nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận, có những cách định nghĩa
khác nhau. Cụ thể:
Theo từ điển Tiếng Việt Quản lí là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của
một đơn vị, một cơ quan” [33]
K.Marx: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung
phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động
của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [6, tr.480].
Theo tác giả Harold Koontz: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó
đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích
của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian,
9
tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì
quản lí là một nghệ thuât, còn kiến thức có tổ chức về quản lí là một khoa
học”. [14, tr.33].
F.W. Taylor (1856 - 1915) là người được coi là cha đẻ của thuyết quản
lí khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lí là: "Mỗi loại công việc dù nhỏ
nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lí chặt chẽ". "Quản lí là nghệ
thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương
pháp tốt nhất và rẻ nhất" [14, tr.33].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lí là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các
quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung
: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Kế hoạch hóa là "xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương
lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu
mục đích đó" [7, tr.13].
Kế hoạch hóa có vai trò quan trọng vì nó là chức năng khởi đầu của quá
trình quản lí, tạo tiền đề cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác. Nó cho
phép nhà quản lí hình dung rõ hơn về quá trình phát triển của tổ chức, kịp thời
phát hiện, ứng phó với sự thay đổi và tính không chắc chắn của môi trường,
giúp tổ chức tập trung sự chú ý vào các mục tiêu và tạo điều kiện thuận lợi
cho việc kiểm tra.
Tổ chức là "quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các
thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện
thành các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức" [7, tr.13].
Tổ chức được coi là chức năng cốt lõi của quản lý vì khi được tiến hành
khoa học và có hiệu quả nó sẽ giúp người quản lý sử dụng triệt để nhất các
nguồn lực của tổ chức, nhất là nguồn nhân lực, giúp cho các thành viên trong
tổ chức phát huy tốt nhất năng lực sở trường, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao
trình độ.
Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ sẵn sàng, cố
gắng, hăng hái hướng tới việc hình thành các mục tiêu. Như vậy, chức năng
11
này bao hàm "việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn
thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức" [7, tr.13].
Lãnh đạo là một trong những hoạt động chủ yếu của các nhà quản lý vì
nó giúp biến những sản phẩm của quá trình kế hoạch hóa và tổ chức thành
hiện thực thông qua việc tác động đến con người. Cũng thông qua lãnh đạo,
tài năng của nhà quản lý được thể hiện rõ nét với các công việc như tạo lập
ảnh hưởng, hình thành uy tín với các thành viên, dẫn dắt tổ chức
Chỉ đạo
Quản lí vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Quản lí mang tính khoa học
vì nó luôn là hoạt động có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật,
12
những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể. Quản lí còn mang tính
nghệ thuật vì nó là một hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú đầy biến động,
không có những nguyên tắc chung cho mọi tình huống. Để đạt được mục tiêu
đề ra của tổ chức, người quản lí cần có những bí quyết sắp xếp nguồn nhân
lực, nghệ thuật giao tiếp, kĩ năng ứng xử, khả năng thuyết phục đối với mọi
thành viên trong tổ chức.
Cùng với sự phát triển chung của xã hội hiện nay, vai trò của quản lí
ngày càng được nâng cao. Vì vậy, mỗi cấp quản lí, mỗi lĩnh vực hoạt động
cần vận dụng lí luận chung và lí luận cụ thể để phù hợp với quy mô và đặc thù
của tổ chức mình qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động quản lí.
1.2.1.3. Quản lí nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lí giáo dục là quản lí nhà trường, vì nhà trường
là cơ sở giáo dục, là nơi diễn ra các hoạt động và thực hiện các mục tiêu giáo
dục. Vì vậy, quản lí nhà trường là một loại quản lí giáo dục đặc thù được thực
hiện ở tầm vi mô.
mà chỉ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra) hoạt động của trò, nhằm làm cho
trò đạt tới mục đích dạy học [26, tr.91].
Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
và những phương thức hành vi mới, do vậy ta thấy học chính là hoạt động
nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững. Để
lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách chiếm lĩnh
khác nhau. Đó có thể là do được truyền thụ, do tự quan sát, đúc kết từ lao
động, môi trường sống…
Dạy- học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt
động học. Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau,
sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác [19,
tr.26]. Theo cách tiếp cận hệ thống, ngoài hai thành tố trung tâm là giảng viên
và sinh viên thì quá trình Dạy- học còn được cấu thành bởi các thành tố khác
như: mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, các hình thức tổ chức
dạy và học. Một quá trình dạy- học bao gồm 3 giai đoạn (Chuẩn bị, thực thi,
14
đánh giá cải tiến) với các thành tố liên kết với nhau theo một chu trình và tác
động qua lại với nhau.
Sơ đồ 1.2. Cấu trúc của quá trình dạy - học
1.2.2.2. Tự học
Tự học (self-learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản
thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích
nhất định.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh thì: “Tự học là học một cách tự động”,
Người đã từng khuyên: “Phải biết tự động học tập”. [24, tr. 257], [25, tr. 28]
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não,
suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng
loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân
người học.
1.2.2.3. Dạy học và tự học ở đại học
Dạy học ở đại học là Dạy cách học. Do đặc điểm mục tiêu bậc học đại
học là đào tạo nguồn nhân lực tư duy cho xã hội và nội dung đào tạo ở đại học
phải có tính hiện đại và phát triển, bám sát mục tiêu nghề nghiệp nên việc
dạy và học ở đại học có đặc thù; như GS Tạ Quang Bửu đã nói: “ Đại học là
tự học ” và bậc đại học chú trọng rèn luyện năng lực tư duy và năng lực thực
hiện công tác chuyên môn. Vai trò của giáo viên ở bậc đại học là giúp sinh
viên tìm kiếm lựa chọn, xử lí nội dung để biến tri thức của nhân loại về lĩnh
vực khoa học, nghề nghiệp nào đó thành của mình, từ đó tự mình vận dụng
chúng vào cuộc sống, nghề nghiệp.
Theo tác giả Lê Đức Ngọc dạy cách học ở trường đại học gồm năm vấn
đề sau:
- Dạy cách lập kế hoạch học tập: gồm dạy cách lập kế hoạch phấn đấu
trong học tập để đạt được mục tiêu đề ra và dạy cách lập kế hoạch sử dụng
quỹ thời gian học tập một cách hợp lí.
- Dạy cách nghe giảng và ghi bài trên lớp: Nguyên tắc chung là nghe
và ghi bài học đầy đủ, chi tiết. Kết hợp đồng thời thính giác, thị giác, tri giác
16
để lĩnh hội bài học một cách nhanh nhất, có thể tái hiện lại thông tin- tri thức
một cách dễ dàng và chính xác nhất.
- Dạy cách học bài: có thể là tự học hoặc học theo nhóm. Tự học là học
theo các bậc nhận thức cao của Bloom, học tư duy trừu tượng, tư duy phê
phán…. trong mối quan hệ hệ thống của các kiến thức. Học nhóm giúp người
học học cách giao tiếp, học cách trình bày diễn đạt bằng lời, học cách thuyết
phục đồng nghiệp, học cách quản lí và tổ chức từ một nhóm nhỏ học tập đến
một hội thảo đông đảo…