NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA THANH NIÊN QUẬN LIÊN CHIỂU – TP ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG MA TÚY - Pdf 30



1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA TÂM LÍ HỌC

KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA THANH NIÊN QUẬN LIÊN
CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG
CHỐNG MA TÚY

sống xã hội.
TN là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng
quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh
vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi sự hy sinh, gian khổ, sức khỏe và
sáng tạo. TN là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí truệ, luôn
năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình. Vị trí của TN là lực lượng
xung kích cách mạng; công tác TN là vấn đề sông còn của dân tộc. Và trong 3
công tác PCMT TN cũng là lực lượng xung kích. Tham gia tích cực vào công
tác PCMT TN sẽ có những kiến thức, sự hiểu biết về tác hại của ma túy, giáo
dục họ những kĩ năng sống để họ tự ra quyết định cho chính bản thân mình về
việc phòng và chống ma túy có hữu hiệu. Đồng thời họ cũng góp phần đẩy lùi
tệ nạn ma túy. Nhưng trong thực tế nhiều TN chưa tích cực tham gia công tác
PCMT. Hơn nữa, vấn đề thái độ của TN đối với công tác PCMT chưa được
nghiên cứu nhiều. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu thái độ của thanh niên
quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đối với công tác phòng, chống ma túy”
để nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần định hướng thái độ
đúng đắn, tích cực cho TN quận Liên Chiểu trong công tác PCMT đạt hiệu
quả.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thái độ của TN quận Liên Chiểu- Tp. Đà Nẵng đối với công
tác PCMT. Từ đó đề xuất những biện pháp cần thiết góp phần xây dựng thái
độ đúng đắn, tích cực cho thanh niên đối với công tác PCMT.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của TN quận Liên Chiểu đối với
công tác PCMT.
3.2. Khách thể nghiên cứu: TN quận Liên Chiểu
3.3. Khách thể khảo sát: Khảo sát 165 TN quận Liên Chiểu, thành phố

5
PHẦN : NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA TN ĐỐI
VỚI CÔNG TÁC PCMT
1.1.Tổng quan các nghiên cứu về thái độ
1.1.1.Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu thái độ ở phương Tây
Khi nghiên cứu lịch sử thái độ trong tâm lý học phương Tây, nhà tâm
lý học người Nga P.N. Shikhirev đã chia quá trình này thành ba thời kỳ [9].
- Thời kỳ thứ nhất: (Từ khi khái niệm về thái độ được sử dụng đầu tiên
vào năm 1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai). Đây là thời kỳ phát
triển mạnh mẽ, với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào định
nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ với hành
vi.
- Thời kỳ thứ hai (Từ chiến tranh thế giới lần thứ hai cho đến cuối
những năm 50): Nét đặc trưng của nghiên cứu thái độ thời kỳ này là sự hoài
nghi của thái độ trong nghiên cứu hành vi. Vì lý do chiến tranh diễn ra trên
toàn thế giới, cùng với sự bế tắc trong quá trình lý giải các nghịch lý nảy sinh
khi nghiên cứu thái độ, nên ở thời kỳ này, các công trình nghiên cứu về thái
độ giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng.
- Thời kỳ thứ ba: (Từ cuối những năm 50 trở lại đây). Các nước phương

nhằm khắc phục tính đơn giản và cơ học, quan điểm trực tiếp của hành vi đã
từng đóng góp một vai trò quan trọng trong tâm lý học truyền thống và tâm lý
học hành vi. Đồng thời, Uznatze cũng đưa ra phương pháp củng cố và thay
đổi tâm thế, một phương pháp nghiên cứu tâm thế độc đáo. Tuy nhiên, khái
niệm tâm thế mà Uznatze sử dụng lại là cái vô thức để giải thích hành vi của
con người. Ông mới chỉ đề cập đến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu sinh 7
lý mà không tính đến một cách đầy đủ các hình thức hoạt động phức tạp, cao
cấp khác của con người. Ông cũng không tính đến sự tác động của các yếu tố
xã hội cũng như vai trò của quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội tới việc quy
định các hành vi của con người. Nhưng có thể nhận thấy rằng với những phát
hiện mới, “thuyết tâm thế” đã đóng vai trò là phương pháp luận khoa học cho
nhiều lĩnh vực cụ thể của tâm lý học hiện đại.
- Thuyết định vị: Dựa trên “thuyết tâm thế” của Uznatze, V.A.Iadov đã
phát triển khái niệm tâm thế và đưa ra “Thuyết định vị” [theo 7], nhằm điều
chỉnh các hành vi, hoạt động xã hội của cá nhân. Iadov cho rằng con người có
một hệ thống các định vị khác nhau, rất phức tạp, và hành vi của con người bị
điều khiển bởi các tổ chức “định vị ” này. Theo Iadov, tâm thế của Uznatze
chỉ là các định vị ở bậc thấp nhất. Nó chỉ được hình thành khi có sự tiếp xúc
giữa nhu cầu sinh lý và đối tượng cần thoả mãn nhu cầu đó, đâu chỉ là “các
định vị điều chỉnh hành vi, phản ứng của cá nhân trong các tình huống đơn
giản nhất”, mà phải ở bậc cao hơn các “định vị”, phức tạp hơn, được hình
thành trên cơ sở các hoạt động giao tiếp của con người trong các nhóm nhỏ.
Trên cấp bậc này là các “định vị” được hình thành trên cơ sở cũng như những
định hướng, sở thích được hình thành trong các lĩnh vực xã hội cụ thể. Còn
cấp bậc cao nhất của “định vị”, theo tác giả, tạo nên sự định hướng giá trị của
nhân cách, có tác dụng điều chỉnh hành vi và hoạt động trong những tình
huống mà tính tích cực xã hội có giá trị nhất đối với nhân cách. Như vậy có

phân tích vai trò định hướng của giá trị, sự liên kết, sự ràng buộc. Sự tình
cảm, ác cảm, hứng thú và các mặt khác trong nhân cách, từ đó ông cho rằng,
khái niệm chung nhất chỉ rõ các đặc điểm nêu trên của nhân cách là khía niệm
“thái độ chủ quan cá nhân”. Vì theo Lomov, “thái độ” ở đây không chỉ là mối
quan hệ khách quan của cá nhân với xung quanh, mà còn bao hàm cả việc
đánh giá, biểu hiện hứng thú của các cá nhân. 9
- Theo quan điểm của tâm lý học Mácxit: Thái độ là sự sẵn sàng ổn định
của cá nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống,
thái độ vốn có xu hướng rõ rệt, hình thành theo quy định nhất quán phương
thức xử thế của cá nhân.
Nói tóm lại, khi nghiên cứu các vấn đề của thái độ, các nhà tâm lý học
Xô Viết đã vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách, gắn thái độ với
nhu cầu, với điều kiện hoạt động, với nhân cách, coi thái độ như là một hệ
thống, từ đó đưa ra cách lý giải hợp lý và khoa học về sự hình thành thái độ,
vị trí và chức năng của thái độ trong quá trình điều chỉnh hành vi và hoạt
động của cá nhân.
1.1.2. Các nghiên cứu thái độ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thái độ nói chung, thái độ xã
hội nói riêng còn ít vì chịu ảnh hưởng nhiều của TLH Liên Xô (cũ). Tuy
nhiên, gần đây các quan điểm của TLH phương tây về thái độ đã bắt đầu được
các nhà nghiên cứu Việt Nam chú ý. Có thể kể tới một vài nghiên cứu của các
trác giả như: “Thái độ học tập của viên trường đại học An ninh nhân dân”
(Nguyễn Đức Hưởng- Luận văn thạc sĩ) [theo 14]; “Thái độ đối với quan hệ
tình dục trước hôn nhân của sinh viên Học viện Ngân hàng, phân viện thành
phố Hồ Chí Minh” (Lê Thị Linh Trang- Luận văn thạc sĩ); “Thái độ của sinh
viên trường đại học Luật Hà Nội đối với việc bảo vệ môi trường tự nhiện”
(Chu Liên Anh- Luận văn thạc sĩ). Nhìn chung các nghiên cứu đều mang tính

1.2. Những cơ sở lý luận của đề tài.
1.2.1. Lý luận về thái độ.
1.2.1.1. Các lý thuyết về thái độ. 11
- Thuyết hành động hợp lý: Ajzen và Fishbein (1890) phát triển lý
thuyết hành động hợp lý trên cơ sở giả định rằng con người thường xuyên
hành xử theo các nhạy cảm, tính đến thông tin và thái độ trong hành động.
Có nghĩa là chúng ta chủ ý thực hiện một hành vi nếu chúng ta đánh giá nó
tích cực và thái rằng hành vi đó đã được xã hội chấp nhận, ủng hộ, chúng ta
hành động theo những chuẩn mực, tiêu chuẩn thường có trong xã hội. Những
điều này dựa vào kinh nghiệm của bản thân trước một sự vật hiện tượng nào
đó, trên cơ sở kinh nghiệm gắn kết hành vi của chúng ta theo một tình huống
cụ thể, tù đó đánh giá hành vi đó hợp lý hay không hợp lý, khi đó sẽ hình
thành nên thái độ của cá nhân.
Những tiêu chuẩn cảu xã hội này chủ yếu nằm trong một nhóm xã hội cụ thể
theo những tiêu chuẩn, chuẩn mực này.
- Thuyết cân bằng của Heider (1944): Ông cho rằng tìm hiểu nhận thức
hay quan điểm của con người về các mối quan hệ của họ là tiền đề để tìm hiểu
các hành vi của họ. Theo ông con người luôn có mong muốn thái độ của mình
luôn nhất quán với nhau, do đó nếu không nhất quán sẽ gây nên tình trạng mất
cân bằng nhận thức, điều này có thể dẫn đến sự mệt mỏi, căng thẳng cho con
người, vì vậy họ sẽ luôn có xu hướng tìm kiếm sự cân bằng trong thái độ.
- Thuyết đồng hóa và tương phản: Trong khi Thurstone ngụ ý rằng con
người có thể đưa ra những phán đoán vô tư hoàn toàn độc lập về tính có lợi
hay bất lợi của nhiều phát biểu thái độ khác nhau, thì Sherif và Hovland
(1961) cho rằng con người thường sử dụng kinh nghiệm cá nhân của riêng
mình như một chuẩn đánh giá các phát biểu khác. Vì nếu cá nhân đó nhận
thấy rằng việc đó là có thể chấp nhận được sẽ đánh giá có lợi hơn và tích cực

qua kinh nghiệm, điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đến các phản ứng
của cá nhân với tất cả khách thể và tình huống mà nó quan hệ”, “ thái độ là xu 13
hướng phản ứng của một người theo cách có lợi hoặc bất lợi với các đối
tượng và tình huống mà người đó gặp phải” [theo 7]. Ông nhấn mạnh điều
kiện ứng xử khi ông định nghĩa “thái độ là trạng thái suy nghĩ hay thần kinh
của sự phản ứng có ảnh hưởng điều khiển hoặc tạo động cơ thúc đẩy ứng xử
và được cấu trúc qua kinh nghiệm” [theo 7]. Tổng kết 17 định nghĩa về thái
độ, Allport đã rút ra 5 đặc điểm của thái độ như sau: Thái độ là trạng thái tinh
thần và hệ thần kinh; thái độ là sự sẵn sàng phản ứng; thái độ là trạng thái có
tổ chức; thái độ được hình thành trên kinh nghiệm của quá khứ; thái độ là
điều khiển ảnh hưởng tới hành vi.
Định nghĩa này được nhiều nhà TLH thừa nhận vì nó trả lời kha rõ các câu
hỏi cơ bản như: Thái độ là gì? Nguồn gốc của thái độ? Vai trò và chức năng
của thái độ? Tuy nhiên, tác giả lại không đả động gì đến vai trò của môi
trường xã hội, nhu cầu, động cơ trong quá trình hình thành thái độ.
Sau này, nhà tâm lý học T.M.Newcom cũng đưa ra một định nghĩa
tương tự như định nghĩa của Allport. Ông cho rằng: “thái độ chính là một
thiên hướng hành động, tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân tới một đối
tượng hay sự việc có liên quan”
Vào năm 1964, nhà tâm lý học nhân cách người Mỹ là J.P.Guilford đã
đưa ra một định nghĩa về “thái độ”, dựa trên quan niệm cho rằng nhân cách
bao gồm bảy khía cạnh tạo nên một cấu trúc độc đáo. Bảy khía cạnh đó là:
Năng lực, khí chất, giải phẫu, hình thái, nhu cầu, hứng thú và thái độ. Và ông
đã định nghĩa: “Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến
những hoàn cảnh xã hội” [theo 7] , không chỉ một mình Guilford, mà hầu như
tất cả các tác giả viết về tâm lý học nhân cách đều coi “thái độ” như là một
thuộc tính của nhân cách.


15
Trong khi đó, khi nghiên cứu về thái độ, một nhà tâm lý học Xô Viết
không sử dụng khái niệm “thái độ ” mà dùng thuật ngữ tương đương là “tâm
thế” khi giải thích hành vi của con người, mà điển hình là Uznatze với “thuyết
tâm thế”. Uznatze cho rằng “thái độ không phải là một nội dung cục bộ của ý
thức, không phải là nội dung tâm lý bị tách rời, đối lập lại với các trạng thái
tâm lý khác của ý thức và ở trong mối quan hệ qua lại với nó, mà nó là một
trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể…Tính khuynh hướng năng động mà
tâm thế là một yếu tố toàn vẹn theo một khuynh hướng nhất định nhằm một
tính năng động nhất định. Đó là sự phản ánh cơ bản, đầu tiên đối với tác động
của tình huống, mà trong đó, chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ”. Còn
các nhà tâm lý học xã hội Lêningrat (Liên Xô cũ) lại quan niệm “thái độ là
những cơ cấu tâm lý sẵn có, định hướng cho sự ứng phó của cá nhân.”
Qua các ví dụ trên, ta thấy, hầu hết các định nghĩa đều giải thích “thái độ”
dưới góc độ chức năng của nó. Thái độ định hướng hành vi, ứng xử của con
người. Nó thúc đẩy, tăng cường tinh thần sẵn sàng của những hành vi, phản
ứng của con người tới đối tượng có liên quan.
Tâm lý học nói chung và tâm lý học Macxit nói riêng một cách cụ thể và
chính xác, “cần phải chọn tiêu chuẩn chức năng làm điểm tựa”.
Trong tâm lý học Macxit, đó là chức năng của thái độ trong hoạt động
hợp tác”. Trong tâm lý học xã hội Mỹ hiện đại, khi định nghĩa về thái độ, một
số tác giả thường đề cập nhiều đến khía cạnh nhận thức hơn là về mặt chức
năng của thái độ, như Davis Myers đã coi “thái độ” là “phản ứng có thiện chí
hay không thiện chí về một điều gì đó, hay một người nào đó, được thể hiện
trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định.
Hay như nhà tâm lý học W.J.Mc Guire thì định nghĩa rằng: “thái độ là bất cứ
sự thể hiện nào đó về mặt nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối
cấu thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sử dụng từ
ngữ khi định nghĩa về thái độ là khác nhau.
Tóm lại, đã có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ. Chúng tôi đã xem
xét, phân tích các định nghĩa đó, và cho rằng: Thái độ là những đánh giá bền
vững dương tính hoặc âm tính về con người, sự vật hiện tượng, thể hiện qua
các mặt nhận thức, tình cảm, hành vi đối với đối tượng nào đó.
1.2.1.3. Đặc điểm của thái độ
Năm 1957 G.W. Allport đã rút ra 5 đặc điểm của thái độ: Là trạng thái
tinh thần của hệ thần kinh; là thái độ sẵn sàng của phản ứng; là trạng thái có
tổ chức; được hình thành trên kinh nghiệm từ quá khứ; thái độ điều khiển và
ảnh hưởng tới hành vi.
Ngoài ra thái độ còn có những đặc điểm sau:
- Tính phân cực: Bất kỳ một thái độ nào cũng được biểu hiện bằng sự
đồng tình hay phản đối, thích hay không thích, tích cực hay không tích cực.
- Tính ổn định: Thể hiện ở thời gian tồn tại của thái độ, mối quan hệ
giữa ba thành phần của thái độ. Hệ thống thái độ đã được hình thành ở người
trưởng thành thì đó là thuộc tính tâm lý khá bền vững.
- Cường độ: là sự thể hiện mạnh hay yếu của thái độ.
- Mức độ: Thái độ thể hiện nhiều hay ít, cùng một tính chất nhưng mức
độ biểu hiện có thể là không giống nhau.
1.2.1.4. Cấu trúc của thái độ
Mặc dù có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về thái độ, song
các nhà TLH đều nhất trí ới cấu trúc ba thành phần của thái độ do M.Smith
đưa ra (1942) [theo 7]. Theo ông thái độ bao gồm tình cảm, nhận thức, hành
động của cá nhân đối với đối tượng.
+ Yếu tố nhận thức: Là kiến thức của cá nhân về đối tượng của thái độ,
cho dù kiến thức đó có tương ứng hay không tương ứng, tức là có đúng hay 18

của tình cảm với nhận thức.
+ Yếu tố hành vi: Hành vi được coi như một cấp độ biểu hiện của thái
độ, đó là những biểu hiện ra bên ngoài hay xu hướng hoạt động của cá nhân
với đối tượng của thái độ và được chia làm hai loại: hành vi tích cực và hành
vi tiêu cực.
Hành vi có thể biểu hiện ra bên ngoài và được người khác đánh giá còn
thái độ bên trong đối với hành vi đó của bản thân được thể hiện ở sự tự đánh
giá theo tiêu chuẩn mà chủ thể cảm nhận.
Ba yếu tố trên có quan hệ mật thiết với nhau. Trong thức tế yếu tố tình
cảm thường chứa đựng các yếu tố ý thức và yếu tố hành vi có các khía cạnh
của yếu tố tình cảm. Tùy theo tình huống mà một thành phần nào đó chiếm vị
trí chủ đạo chi phối hanh vi cá nhân. Cấu trúc ba thành phần là cơ sở cho việc
xây dựng các thang đo thái độ khi nghiên cứu vấn đề này.
1.2.1.5. Cơ chế hình thành thái độ
Nhà TLH người Đức M. Vorwerg và H. Hiebscb cho rằng thái độ được
hình thành thông qua 4 cơ chế tâm lý xã hội sau:
1.2.1.4.1. Bắt cước: Đó là sự hình thành thái độ bằng con đường tự phát
là học qua phương thức hành vi hoặc phản ứng mà không cần sử dụng những
kĩ thuật giáo dục theo một phương thức nào cả.
1.2.1.4.2. Đồng nhất hóa: Là sự bắt chước một cách tự giác, có ý thức,
tức là quá trình chủ thể hất bản thân mình với cá nhân khác cảu nhóm này hay
nhóm khác dựa trên một mối quan hệ xúc cảm và đồng thời chuyển những
chuẩn mực, giá trị vào thế giới nội tâm của mình. Hay nói cách khác đó chính
là quá trình cá nhân tự đặt mình vào người khác để suy nghĩ và hành động
như người khác. 20
1.2.1.4.3. Giảng dạy: Là một cách đặc biệt của truyền đạt thông tin
nghĩa là cá nhân được người khác tác động tới thông báo truyền đạt thông tin.


1.2.1.7. Các loại thái độ
Nghiên cứu về thái độ, các nhà TLH đã tiến hành phân loại thái độ.
Đứng ở góc độ khác nhau các nhà TLH phân loại thái độ theo các cách khác
nhau.
- Dựa vào tính chất của thái độ V.N.Miasixev đã chia thái độ thành các
loại: Thái độ tích cực hay thái độ tiêu cực, thái độ trung tính hay phân cực.
Biểu hiện của nó có thể là phản ứng hoặc đánh giá thích hay không thích,
đồng ý hay phản đối [theo 7].
- Dựa vào tính chi phối của thái độ B.Ph.Lomov đã chia thái độ thành
hai loại: Thái độ chủ đạo hay thứ yếu. Các loại thái độ chủ đaọ( hay chi phối)
là các loại thái độ có liên quan đến mục đích sống và động cơ chủ đạo của cá
nhân, chi phối toàn bộ hệ thống của thái độ [1].
- PGS.TS Ngô Công Hoàn phân thái độ thành hai loại: Thái độ thái độ
tích cực và thái độ tiêu cực. Ông cho rằng thái độ tích cực đối với hành động
hoạt động của mình thì kết quả hành thường đạt kết quả tốt hơn so với thái độ
tiêu cực. Thái độ tích cực thường có chí tiến thủ, luôn nghỉ về trách nhiệm cá
nhân mình đối với thái độ tiêu cực thì ngược lại.
- H.Fillmore: Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối
với đối tượng hay một biểu tượng trong môi trường.
- V.F.Lomop: Khi nghiên cứu nhân cách như một phạm trù cơ bản của
tâm lý học đã đề cập đến thái độ chủ quan của nhân cách. Ông phân chia thái
độ thành 3 loai: tích cực, tiêu cực, trung tính.
+ Thái độ tích cực: Thái độ có chức năng định hướng, điều chỉnh hành
động cá nhân, thích nghi của cá nhân đối với điều kiện môi trường và hoạt
động. 22
+ Thái độ tiêu cực: Chỉ thái độ không muốn hành động, là biểu hiện

tài như sau:
- Mức độ: Rất tích cực, tích cực, ít tích cực, chưa tích cực
- Mức độ: Thường xuyên, thỉnh thoảng, ít khi, chưa bao giờ
1.2.1.9. Sự thay đổi của thái độ
Người ta đã tốn rất nhiều công sức nghiên cứu liệu có thể thay đổi được
thái độ thông qua cố gắng ảnh hưởng hay không? Một trong những công trình
nghiên cứu tổng quát nhất hơn 50 năm qua trong lĩnh vực này là khảo cứu của
Yale của nhà TLH xã hội Hovland và cộng sự về thông điệp thuyết phục có
tính hiệu quả [theo 7]. Vì nhà nghiên cứu này đang làm việc cho trường đại
học Yale nên gọi là quan điểm Yale về biến đổi thái độ.
Theo quan điểm của Yale, người ta có thể thay đổi thái độ nhất là trước
các thông điệp thuyết phục. Vì vậy, họ đã nghiên cứu tác dụng của truyền
thông thuyết phục, nghĩa là những người được nghiên cứu phải chịu nhận
những truyền thông (biện luận) có sức thuyết phục ít hoặc nhiều xuất phát từ
một hay nhiều nguồn truyền thông. Cuối dùng nghiên cứu ảnh hưởng của
truyền thông lên thái độ của những người được thí nghiệm: Sự phụ thuộc của
độ lớn của sự thay đổi thái độ và các đặc trưng của truyền thông, bộ truyền
thông, sự truyền thông, bối cảnh truyền thông và nhóm mục tiêu cụ thể.
Quan điểm của Yale về biến đổi thái độ đã đưa ra rất nhiều thông tin
hữu ích về việc thay đổi thái độ như thế nào để phản ứng lại các thông điệp
thuyết phục.
Song song với lý thuyết của Yale và nghiên cứu về hệ quả, người ta
cũng xây dựng lý thuyết cố gắng giải thích sự thay đổi thái độ. Trong đó có
các lý thuyết sau:
- Lý thuyết về học tập: Đối với một số nhà TLH xã hội, lý thuyết học
tập truyền thống giúp giải thích biến đổi về thái độ. Họ xem biến đổi thái độ 24
chủ yếu là một quá trình học tập được lý giải tốt nhất bằng các quy luật về

cố gắng chỉ rõ xem yếu tố nào ảnh hưởng tới thái độ vẫn giữ nguyên, hơn thế
nó còn vững hơn trước những nổ lực gây ảnh hưởng trong tương lai nếu trước
đó người đó đã buộc phải tìm hiểu lý lẽ đã phản bác.
- Thuyết kháng cự của Brehm: Nêu định đề rằng sẽ xảy ra hiệu ứng gậy
ông đập lưng ông nếu người nhận cảm thấy bộ truyền thông bắt buộc phải tiếp
thu ý kiến của nó ở mức độ không chấp nhận được.
- Lý thuyết về không đồng bộ trong nhận thức: Người ta đã biến đổi thái
độ bằng việc biến đổi hành vi. Theo lý thuyết này, con người rơi vào trạng
thái mất đồng bộ khi họ làm một điều gì đó phương hại đến hình ảnh đàng
hoàng, tử tế của bản thân, đặc biệt khi họ không có một cách lý giải rằng hành
vi ấy do ngoại cảnh khách quan. Khi không tìm được lý lẽ bên ngoài để biện
hộ cho hành vi của mình thì cố tìm lý lẽ bên trong bằng cách đưa ra nhận thức
và hành vi của họ đến gần với nhau hơn và điều này dẫn đến sự thay đổi trong
thái độ. Hiện tượng này được đề cập đến như một sự tán thành, một thái độ
đối lập. Tức quá trình trong đó người ta được thuyết phục công bố một ý kiến
hay một thái độ đối lập là một cách thức mạnh mẽ để làm thay đổi thái độ của
con người.
1.2.2. Những vấn đề lí luận chung về công tác phòng, chống ma túy.
1.2.2.1. Khái niệm ma túy.
Luật phòng chống ma túy được Quốc hội thông qua ngày 9-12-2000
quy định: Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định
trong các danh mục do Chính phủ ban hành (khoản 1 Điều 2).
Từ các quy định của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam chúng ta có
thể hiểu: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa
vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status