MỤC LỤC
PHẦN I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI HUY HÙNG 3
I. Giới thiệu khái quát về doanh nghiệp 3
1. Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Huy
Hùng 3
2. Giám đốc hiện tại: Triệu Thị Hằng 3
3. Địa chỉ: 3
4. Cơ sở pháp lý của doanh nghiệp: 3
5. Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần 3
6. Chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp: 3
7. Lịch sử phát triển doanh nghiệp qua các thời kì: 4
II. Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty 5
1. Mặt hàng, sản phẩm 5
2. Sản lượng từng mặt hàng 6
PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ BIÊN CHẾ
NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 8
I. Một số đặc điểm SXKD của doanh nghiệp ảnh hưởng đến công tác tuyển
dụng và biên chế nhân lực của Công ty 8
1. Mặt hàng sản xuất 8
2. Cơ sở vật chất kĩ thuật 9
3. Qui trình công nghệ sản xuất 10
4. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 12
4.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý 12
4.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban 14
5. Số lượng, chất lượng, kết cấu lao động 15
II. Thực trạng về công tác tuyển dụng và biên chế nhân lực tại Công ty cổ
phần đầu tư xây dựng và thương mại Huy Hùng 16
1. Khái quát chung về công tác tuyển dụng và biên chế nhân lực tại Công ty
17
1.1. Bộ phận thực hiện 17
đào thải khắc nghiệt đang chi phối rất lớn. Do đó để tồn tại và phát triển được, mỗi
doanh nghiệp đều phải lựa chọn cho mình một chiến lược và sách lược phù hợp.
Trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất để mỗi doanh nghiệp thực hiện
chiến lược phát triển của mình.
Con người là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất: lao động, tư liệu lao
động và đối tượng lao động. Trong ba yếu tố đó thì con người là yếu tố quyết định,
bởi con người nhờ sự thông minh, sáng tạo cùng bàn tay khéo léo của mình bằng
nhiều phương pháp khác nhau đã tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Quản trị nói cho cùng là quản lý con người, tạo đủ động lực cho từng người
và kết hợp cùng chiều các động lực của tất cả mọi người. Người ta không thể lấy
động cơ của xe đạp máy để thay chỗ cho động cơ của máy bay phản lực loại lớn.
Đối với bất kì doanh nghiệp nào, dù là doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà
nước đều phải có quy mô tổ chức nhất định, mà trong đó quản lý con người luôn là
mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị.
Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Huy Hùng không phải là
một trường hợp ngoại lệ. Vấn đề quản trị nhân sự như thế nào để đạt hiệu quả kinh
tế cao trong một thị trường cạnh tranh khốc liệt để tồn tại và phát triển như hiện nay
đang là câu hỏi luôn túc trực trong đầu các nhà quản trị Công ty nói riêng và toàn
thể công nhân viên nói chung.
Nhận thấy tầm quan trọng đó, qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần đầu
tư xây dựng và thương mại Huy Hùng, em hoàn thành báo cáo thực tập với đề tài :
“Thực trạng công tác tuyển dụng và biên chế nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư
1
xây dựng và thương mại Huy Hùng”. Với mục đích nhằm xem xét công tác tuyển
dụng (tuyển mộ - tuyển chọn) và biên chế nhân lực trong doanh nghiệp. Qua đó tìm
ra những giải pháp tối ưu nhất nhằm định hướng hoàn thiện công tác quản trị nhân
sự của Công ty.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của báo cáo bao gồm ba
phần:
Phần I: Khái quát chung về Công ty.
5. Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
6. Chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp:
Chức năng
Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Huy Hùng là doanh
nghiệp có tư cách pháp nhân, với ngành nghề kinh doanh sau:
- Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, công trình kỹ thuật hạ tầng
3
- Sản xuất, kinh doanh vật liệu, thiết bị xây dựng;
- Kinh doanh phát triển nhà;
- Tư vấn xây dựng (không bao gồm thiết kế công trình);
- Sản xuất, mua bán vật tư, xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, công nghệ vật liệu
xây dựng, xi măng, sắt thép;
- Xây lắp và hoàn thiện các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông,
thuỷ lợi, bưu điện, thuỷ điện, đường dây và trạm biến thế điện (đến 500kv),
các công trình kĩ thuật hạ tầng trong các đô thị, khu công nghiệp;
- Tổng thầu tư vấn và quản lý các dự án xây dựng;
- Tư vấn, xây dựng các khu dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp và các công
trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, bưu điện, đường dây và
trạm biến thế điện và công trình kĩ thuật hạ tầng bao gồm: lập dự án đầu tư,
tư vấn đấu thầu, thí nghiệm, thẩm định dự ná đầu tư, thẩm tra thiết kế tổng
dự toán, kiểm định chất lượng, quản lý dự án (không bao gòm thiết kế công
trình);
- Trang trí nội, ngoại thất;
- Đầu tư, kinh doanh, phát triển nhà và hạ tầng;
- Thi công các công trình kĩ thuật, hạ tầng nông nghiệp và nông thôn;
- Dịch vụ các công trình thể dục thể thao, bể bơi, sân quần vợt, nhà tập thể dục
thể hình và tổ chức vui chơi giải trí (trừ loại hình vui chơi giải trí Nhà nước
cấm);
- Kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn (không bao gồm kinh doanh vũ trường,
quán bar, phòng hat karaoke);
Chính vì vậy cơ quan, công ty không thể tiến hành kế hoạch hoá nguồn nhân lực
được mà phải được thực hiện từ cơ sở.
- Sản xuất công nghiệp: Bao gồm các loại sản phẩm chính là bê tông thương
phẩm, cấu kiện bê tông đúc sẵn ,sản xuất và tiêu thụ đá dăm, sản xuất đá cấp phối
sản xuất và tiêu thụ đá dăm, sản xuất cấp phối gạch Tuynen, khai thác đá, sản xuất
cốp pha thép. Với mỗi loại sản phẩm được sản xuất sẽ cần lao động đặc thù của nó.
Vì thế, công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực là khá cần thiết các sản phẩm này chủ
yếu vẫn làđể phục vụ công tác xây lắp của doanh nghiệp, tính kinh doanh còn thấp.
Chính vì vậy, quả kinh tế chưa cao, vẫn còn tình trạng thua lỗ.
- Kinh doanh vận tải: Cho thuê xe , tiêu thụ xi măng vận chuyển thiết bị vật
tư cho công ty và các loại sản phẩm khác. Loại lao động này có thể tính theo tiêu
5
chuẩn định biên.
- Sản xuất kinh doanh khác và phục vụ nội bộ. Bao gồm các sản phẩm như bê
tông , xi măng bột xây dựng, sửa chữa xe máy và nhiều loại hình khác. Có thể thấy
sản phẩm của công ty là khá đa dạng hơn nữa sự phân bố lại khá phân tán từ đó có
thể hiểu được tầm quan trọngcủa công tác kế hoạch hoá và đặc biệt là kế hoạch hoá
từ các cơ sở, chi nhánh, đơn vị.
2. Sản lượng từng mặt hàng
- Về công tác xây lắp: Hiện nay, với một đội ngũ nhân viên lớn mạnh công ty
có thể tham gia nhiều loại hình đầu tư với nhiều loại qui mô trải dài từ miền Bắc tới
miền Trung. Giá trị xây lắp từ 4,5 tỷ năm 2008 đến 8,6 tỷ năm 2011
- Về sản xuất công nghiệp:
+ Sản xuất gạch đạt 40000 đến 80000m
3
/năm.
+ Sản xuất bê tông thương phẩm đạt 12000m
3
/năm.
- Về đầu tư xây dựng nhà máy gạch men tuy nen Huy Hùng công suất 20
bình quân trong
năm
13.640 16.328 14.945 17.293 18.127
9 Vốn lưu động
bình quân năm
15.274 20.968 24.850 25.295 28.830
10 Số lao động bình
quân năm
289 294 287 295 303
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính
Các số liệu trên cho thấy lợi nhuận sau thuế của Công ty năm sau đều cao
hơn năm trước, đặc biệt cao nhất vào năm 2011 với 873 triệu đồng, gấp 3,5 lần so
với năm 2007. Như vậy có thể đánh giá tình hình kinh doanh và sử dụng chi phí của
Công ty là tốt. Hiện nay, Công ty tiếp tục triển khai nhiều biện pháp để tìm kiếm
thị trường kinh doanh có hiệu quả và tăng cường uy tín với khách hàng trong và
ngoài nước.
Các công trình hàng năm Công ty thực hiện không trùng lặp nên việc tổng
hợp chi phí sản xuất dựa theo từng công trình cụ thể. Sau đây là chi phí của một số
công trình đã thi công trong quý IV năm 2011.
7
PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ BIÊN
CHẾ NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP
I. Một số đặc điểm SXKD của doanh nghiệp ảnh hưởng đến công tác tuyển
dụng và biên chế nhân lực của Công ty
1. Mặt hàng sản xuất
- Xây lắp: Trong công tác xây lắp , giá trị được tính theo công trình và cho
các chi nhánh đảm nhiệm báo cáo thực hiện được nộp lên công ty. Do vậy mỗi chi
nhánh có thểlàm nhiều công trình với sự đòi hỏi rất khác nhau về cơ cấu nhân lực.
Chính vì vậy cơ quan, công ty không thể tiến hành kế hoạch hoá nguồn nhân lực
được mà phải được thực hiện từ cơ sở.
thị trường xây dựng, do đó, khả năng thắng thầu cao và thu được lợi nhuận. Ngược
lại, các doanh nghiệp sử dụng công nghệ thi công lạc hậu, thường không giành được
công trình trong các cuộc đấu thầu xây lắp. Chính vì vậy mà ngày nay, cơ sở vật
chất, kỹ thuật và công nghệ là một trong những nhân tố góp phần quan trọng trong
việc tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh
cũng như tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Máy móc thiết bị của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Huy
Hùng phần lớn đều là những máy đang trong thời gian sử dụng tốt. Tuy nhiên một
số máy ở thế hệ năm 1990 thì vẫn còn khả năng sử dụng được nhưng đã cũ và lạc
hậu, năng suất kém hay bị hỏng hóc, tiêu tốn nhiều nhiên liệu, năng lượng. Để thấy
rõ hơn về đặc điểm của máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất kinh doanh ta có thể
đánh giá qua bảng sau:
9
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng máy móc thiết bị của Công ty
Tên thiết bị
Năm sản
xuất
Số lượng Tình trạng kĩ thuật
Máy trộn bê tông 2002 9c Vẫn sử dụng tốt
Máy hàn biến áp 2003 20c -
Máy trộn vữa 1999 11c -
Đầm dùi 2003 29c -
Đàm bàn 1998 10c -
Máy bơm nước 2000 12c -
Cần cẩu XDK 13,5 1995 1c Sử dụng 80% công suất
Cần cẩu KC 2561 1994 1c Sử dụng 70% công suất
Ô tô JIN 130 1997 5c Vẫn sử dụng tốt
Ô tô Maz 2004 2c -
Súng kiểm tra bê tông 1998 1c -
Máy xúc ủi Belaut 1995 1c -
Phương pháp tổ chức sản xuất theo dây chuyền ra đời vào giữa thế kỉ IXX, thời kì
thế giới diễn ra cuộc cách mạng vĩ đại trong sản xuất công nghiệp, biến sản xuất thủ
công thành sản xuất cơ khí hoá.Nội dung chính của phương pháp dây chuyền là chia
quá trình sản xuất của mỗi sản phẩm thành các quá trình nhỏ có đặc tính sản xuất
giống nhau được gọi là các dây chuyền công nghệ. Những quá trình công nghệ nhỏ
ấy được sản xuất liên tục qua các sản phẩm có nghĩa là công việc được thực hiện
tuần tự với các quá trình phân nhỏ giống nhau và thực hiện song song với các quá
trình phân nhỏ khác nhau.Đối với sản xuất xây dựng thì chia công trình thành các
hạng mục giống nhau, các hạng mục ấy lại được chia thành các công việc giống
nhau. Tổ chức sản xuất theo nguyên tắc là công việc giống nhau được tiến hành từ
hạng mục này qua hạng mục khác, trong mỗi hạng mục thì công việc theo công
nghệ khác nhau nối đuôi nhau được thực hiện. Cách tổ chức theo dây chuyền phải
đảm bảo được trên mặt bằng sản xuất luôn có người lao động và người lao động
luôn luôn tham gia sản xuất không bị ngừng việc. Điều này phản ánh tính điều hoà
11
và liên tục.
Các dạng dây chuyền xây dựng:
- Theo cơ cấu dây chuyền: Dây chuyền chuyên môn hoá, dây chuyền công
trình, dây chuyền liên hợp.
- Theo tính chất nhịp nhàng: Dây chuyền nhịp nhàng và không nhịp nhàng.
- Theo mức độ chi tiết phân nhỏ: Dây chuyền phân nhỏ một phần, phân nhỏ
hoàn toàn.
- Theo mức độ tiến triển: Dây chuyền ổn định, dây chuyền không ổn định
Tuỳ theo từng công trình cụ thể mà Công tysử dụng các dạng dây chuyền phù
hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Theo sơ đồ trên có thể hiểu một cách đơn giản 1
sản phẩm xây dựng được tạo thành như sau: Người lao động sử dụng các phương
tiện, công cụ tác động vào vật liệu xây dựng, sử dụng vật liệu xây dựng thông qua
ảnh hưởng của công nghệ sản xuất cuối cùng tạo ra sản phẩm.
4. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
4.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
tuyến - chức năng, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức sản xuất kinh doanh,
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ của cán bộ quản lý hiện nay.
Kiểu cơ cấu này phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty, tăng cường
mối quan hệ giữa hệ thống quản lý và hệ thống được quản lý. Từ đó có thông tin
nhanh chóng để kịp thời xử lý đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh liên tục
và có hiệu quả cao.
- Ban kiểm soát: thay mặt cổ đông kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh và
điều hành của công ty.
- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, quyết định mọi vấn đề liên
quan đến quản lý, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của
Đại hội đồn cổ đông.
- Tổng giám đốc công ty: là người chịu trách nhiệm trước pháp luật, Tổng
công ty về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty; chăm lo đời sống cán bộ công
nhân viên; lãnh đạo công ty thực hiện chức năng nhiệm vụ được Hội đồng quản trị
và Tổng công ty giao cho.
- Phó tổng giám đốc Kế hoạch – Tài chính: giúp việc cho Tổng giám đốc về
công tác kế hoạch tài chính, hoạch toán kinh doanh; Đồng thời tham gia tư vấn cho
Tổng giám đốc về hoạt động của công ty.
- Phó tổng giám đốc Kỹ thuật – Công nghệ: Thực hiện nhiệm vụ quản lý quy
trình thiết bị, kỹ thuật thi công và quản lý chất lượng; Chỉ đạo công tác cơ giới toàn
công ty, cân đối xe máy thiết bị…
- Phó tổng giám đốc Thi công: Giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác thi
công; Thực hiện nhiệm vụ được giao về quản lý chất lượng
- Phó tổng giám đốc Kinh doanh: Giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác
tiếp thị đấu thầu; thực hiện nhiệm vụ được giao về tiếp thị đấu thầu và quản lý chất
lượng;
- Phó tổng giám đốc Dự án: Giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác dự án;
14
Công tác kỹ thuật của công ty.
- Phòng Tài chính – Kế toán: có chức năng tham mưu giúp Tổng giám đốc
Trong đó
Lao động
quản lý
Nhân viên
Tổng Nữ Tổng Nữ
Tổng số 303 49 91 2 212 50
1 Trên ĐH 5 0 4 1
2 ĐH 194 29 65 1 129 28
3 CĐ 50 6 11 1 44 8
4 Trung cấp 54 14 7 38 14
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính, 2011)
- Phân theo trình độ: Nhìn chung cán bộ khoa học nghiệp vụ của công ty có
trình độ chuyên môn cao, tổng số có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ trọng
lớn (chiếm 2/3 tổng số). Điều này đảm bảo cho sự thành công của công ty trong lĩnh
vực cạnh tranh về nguồn nhân lực trên thị trường.
- Phân theo giới tính: Có thể nhận thấy tỷ trọng giới tính của nữ giới so với
nam giới trong cơ cấu của công ty là rất chênh lệch (xấp xỉ 1/6) , điều này là khó
tránh khỏi bởi đặc thù của công ty là hoạt động lĩnh vực công nghiệp. Tuy nhiên
trong thời gian tới công ty nên tuyển thêm nhân viên nữ trong các vị trí để đảm bảo
yêu cầu cân bằng giới.
- Phân theo loại hình lao động: Hiện nay công ty có 200 người có hợp đồng
lao động không xác định thời hạn, trong số đó nữ có 40 người. Hợp đồng từ 1-3
năm là 111 người trong đó có 14 nữ.
II. Thực trạng về công tác tuyển dụng và biên chế nhân lực tại Công ty cổ phần
16
đầu tư xây dựng và thương mại Huy Hùng
1. Khái quát chung về công tác tuyển dụng và biên chế nhân lực tại Công ty
1.1. Bộ phận thực hiện
Việc tuyển dụng cán bộ nhân viên trong công ty được quan tâm và đặt ra kế
hoạch rất cụ thể rõ ràng. Khi có nhu cầu tuyển thêm nhân viên vào vị trí việc làm
hoạt động nhân sự, như vậy khối lượng công việc là tương đối lớn, điều này có thể
ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình tuyển dụng.
1.2. Thời gian, nội dung, qui trình, nguyên tắc thực hiện, các bảng biểu thực
hiện công tác tuyển dụng và biên chế nhân lực
Thời gian
- Công ty thường tiến hành tuyển dụng vào tháng 4 và tháng 10 hàng năm.
- Tuy nhiên trong trường hợp có nhu cầu đột suất về nhân lực, công ty sẽ tiến
hành tuyển dụng theo qui trình hiện có.
Nội dung
Công tác tuyển dụng và biên chế nhân lực của công ty cổ phần đầu tư xây
dựng và thương mại Huy Hùng bao gồm 3 nội dung chính là:
- Tuyển mộ nhân lực: là quá trình tìm kiếm, thu hút và xác định một tập hợp
các ứng viên có chất lượng với số lượng thích hợp để đáp ứng các nhu cầu về hiện
tại và tương lai của tổ chức về lực lượng lao động.
- Tuyển chọn nhân lực: là quá trình đánh giá các ứng viên theo theo nhiều khía
cạnh khác nhau dựa vào yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp với
các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ.
- Biên chế lao động: Sau khi lao động được tuyển dụng vào công ty sẽ qua 3
tháng thử việc và tiếp tục ký hợp đồng lao động chính thức với công ty nếu đạt yêu
cầu.
Qui trình
Mọi quy trình tuyển dụng đều thực hiện theo các bước: lập kế hoạch tuyển
18
dụng, xác định phương pháp và các nguồn tuyển dụng, xác định thời gian và địa
điểm tuyển dụng, tìm kiếm ứng viên, đánh giá quá trình tuyển dụng, hướng dẫn
nhân viên mới hòa nhập với môi trường doanh nghiệp.Tuy nhiên, không phải mọi
doanh nghiệp đều có quy trình tuyển dụng giống nhau, nhiều khi trong một doanh
nghiệp, tuyển dụng cho các vị trí khác nhau cũng có cách tuyển dụng khác nhau. Vì
vậy, quy trình tuyển dụng nhân sự sau đây được các doanh nghiệp áp dụng rất linh
hoạt.
Nội dung tuyển dụng, số lượng tuyển dụng, hình thức tuyển dụng, kinh phí dự kiến,
thời gian tuyển dụng.
Phòng Tổ chức - Hành chính thu thập phiếu xác định nhu cầu tuyển dụng của
các đơn vị và căn cứ vào định hướng phát triển của công ty, kết quả đánh giá nguồn
nhân lực hiện tại. Từ đó sẽ xác định được nhu cầu tuyển dụng cho từng quý, từng
năm một.
Hiện tại, việc xác định nhu cầu tuyển dụng của công ty chỉ được tiến hành
từng năm một, tức là việc lập kế hoạch tuyển dụng mới chỉ là kế hoạch ngắn hạn,
mang tính chất tự phát là chính chứ chưa có một chương trình mang tính chất dài
hạn dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn. Do đó công tác xác định nhu
cầu tuyển dụng còn thiếu tính chủ động.
20
Trong những năm gần đây, do việc mở rộng địa bàn hoạt động sang các Tỉnh
lân cận …Do đó số lượng cán bộ khoa học nghiệp vụ của Công ty được tuyển mới
trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên. Có thể thấy thực tế này qua số
lượng cán bộ khoa học nghiệp vụ được tuyển và kế hoạch trong năm tới của công ty
như sau:
Bảng 2.3:Báo cáo nhân lực năm 2007 đến năm 2011
(đơn vị: người)
Danh mục
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
lựa chọn. Đồng thời phải tổ chức Hội đồng thi tuyển có thành phần phù hợp với
việc tuyển chọn từng vị trí nhất định. Hội đồng có Quy chế làm việc chặt chẽ, đảm
bảo tính khách quan, trung thực và có quyền độc lập khi đánh giá. Ý kiến của Hội
đồng phải được tôn trọng.Kết hợp thi tuyển chuyên môn, sát hạch năng lực với việc
đánh giá các phẩm chất đạo đức của nhân viên thông qua thăm dò tín nhiệm và sự
lựa chọn dân chủ của các nhân viên khác trong doanh nghiệp. Sau khi có sự thống
nhất giữa kết quả thi tuyển về chuyên môn với việc đánh giá về phẩm chất chuyên
môn, đạo đức mới ra quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm.
- Tuyển dụng phải có điều kiện, tiêu chuẩn rõ ràng: Nguyên tắc này nhằm
tránh việc tùy tiện trong quá trình tuyển dụng nhân viên kiểu “yêu nên tốt, ghét nên
xấu” hoặc chủ quan, cảm tính trong quá trình nhận xét đánh giá con người.Cùng với
thông tin tuyển dụng rõ ràng, chế độ thưởng phạt nghiêm minh cũng cần phải được
công bố hết sức cụ thể trước khi tuyển dụng. Doanh nghiệp cần cho các ứng viên
biết rằng khi doanh nghiệp trân trọng trao phần thưởng để động viên những nhân
viên có thành tích trong công việc thì cũng không thể chấp nhận những nhân viên
liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ hoặc làm việc cầm chừng để giữ vị trí.Đương
nhiên, việc tuyển chọn chính xác hay không tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như nguyên
tắc, tiêu chuẩn tuyển chọn, phẩm chất người tuyển dụng Song một quy chế tuyển
dụng đúng đắn và thích hợp sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả của quá trình
tuyển dụng. Có như thế mới tập hợp được đội ngũ nhân viên có đức có tài luôn
22