-1-
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU 3
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 3
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
1.4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.6 THU THẬP, PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 6
1.6.1 Thu thập dữ liệu 6
1.6.2 Phân tích dữ liệu 7
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ KỸ NĂNG MỀM 9
2.1 KHÁI NIỆM KỸ NĂNG 9
2.2 KHÁI NIỆM KỸ NĂNG MỀM 9
2.3 VAI TRÒ CỦA KỸ NĂNG MỀM ĐỐI VỚI SINH VIÊN 11
2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN 15
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG NHU CẦU ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN
17
3.1 QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VỀ SỰ CẦN
THIẾT CỦA KỸ NĂNG MỀM 17
3.1.1 Quan điểm của sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân về mức độ
quan trọng của kỹ năng mềm 17
3.1.2 Nhận thức của sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân về hậu quả
của việc thiếu đi kỹ năng mềm 21
-2-
3.1.3 Các kỹ năng mềm quan trọng theo đánh giá của sinh viên Đại
học Kinh tế Quốc dân 25
3.2 THỰC TRẠNG VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ
Nam gặp phải đó là thiếu kỹ năng mềm. Hiện nay, sinh viên mới chỉ chú
trọng trong việc học tập, tìm hiểu các kiến thức chuyên ngành trên giảng
đường mà bỏ qua việc trang bị cho mình các kỹ năng mềm cần thiết cho công
việc tương lai. Điều này cũng xuất phát một phần từ lỗ hổng của hệ thống
giáo dục - chú trọng vào đào tạo kiến thức, không quan tâm nhiều tới việc tạo
ra môi trường và cơ hội để sinh viên có thể hiểu rõ được tầm quan trọng của
kỹ năng mềm. Với thực trạng như vậy, khi sự cạnh tranh của các ứng viên
tuyển dụng ngày càng khốc liệt, yêu cầu của các nhà tuyển dụng ngày càng
cao, cần những con người làm việc hiệu quả thì việc sinh viên phải tự trang bị
cho mình các kỹ năng mềm trước khi ra trường được xem như là điều tất yếu,
là một lợi thế so với các ứng viên khác, và do đó dần xuất hiện nhu cầu được
học, trau dồi kỹ năng mềm đối với mỗi sinh viên. Đối với một trường đại học
đào tạo các ngành về kinh tế như trường đại học Kinh tế Quốc dân thì sinh
viên lại càng cần bổ sung kỹ năng mềm, không chỉ trên lớp mà còn thông qua
các hoạt động ngoại khóa. Để có thể hiểu rõ hơn nhu cầu này của sinh viên,
nhóm nghiên cứu nhận thấy cần thiết phải đi vào nghiên cứu với đề
tài :“NGHIÊN CỨU NHU CẦU ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH
VIÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN”.
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Cụm từ “kỹ năng mềm” được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây cho
thấy nhận thức của mọi người về tầm quan trọng của nó đã được nâng lên.
Thực tế, đã có những đề tài nghiên cứu về sự nhận thức của sinh viên và nhu
-4-
cầu học của sinh viên đối với kỹ năng mềm. Có thể kể đến như đề tài “Khảo
sát kỹ năng mềm của sinh viên Đại học Thương mại” của nhóm sinh viên
Đinh Thị Phương Liên, Đặng Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Lan. Hay đề tài
“Yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ năng đối với sinh viên mới tốt
nghiệp các ngành quản lý – kinh tế : Ứng dụng phương pháp phân tích nội
dung”, TS. Vũ Thế Dũng –Trần Thanh Tòng (Khoa Quản Lý Công Nghiệp –
Đại Học Bách Khoa Tp.HCM) cũng đã đề cập tới vai trò quan trọng của kỹ
trường về kỹ năng mềm, việc tự trang bị kỹ năng mềm của sinh viên như thế
nào. Do vậy, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các sinh viên đang theo học
tại trường đại học Kinh tế Quốc dân.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ tiến hành điều tra đối với các sinh viên khóa 51, 52, 53,
54 của các hệ học: hệ chính quy dài hạn, hệ liên kết nước ngoài, hệ tiên tiến
chất lượng cao đang theo học tại trường trong năm học 2012 - 2013. Điều tra
cũng sẽ tiến hành tại hai giảng đường chủ yếu của trường Đại học Kinh tế
Quốc dân đó là: khu giảng đường chính (giảng đường A, B, C, D, D2, B2) và
khu giảng đường tại trường Phổ thông Dân lập Phương Nam (giảng đường
Phương Nam 1 và Phương Nam 2).
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên thực tế có nhiều cách thức nghiên cứu, nhưng trong phạm vi của bài
nghiên cứu, nhóm nghiên cứu chọn sử dụng phương pháp nghiên cứu điều tra
chọn mẫu. Bởi phương pháp điều tra này có những ưu điểm nhất định, phù
hợp với điều kiện của nhóm nghiên cứu. Điều tra chọn mẫu thay thế cho điều
tra toàn bộ trong những trường hợp quy mô điều tra lớn, nội dung điều tra cần
thu thập nhiều chỉ tiêu, thực tế ta không đủ kinh phí và nhân lực để tiến hành
điều tra toàn bộ, hơn nữa nếu điểu tra toàn bộ sẽ mất quá nhiều thời gian,
không đảm bảo tính kịp thời của số liệu thống kê.
-6-
1.6 THU THẬP, PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
1.6.1 Thu thập dữ liệu
Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát, phiếu điều tra và phỏng
vấn. Quan sát là việc quan sát những sự việc, hiện tượng mà không có bất kỳ
hành động can thiệp nào làm thay đổi trạng thái của hiện tượng đang nghiên
cứu. Trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng, điều tra sẽ
được tiến hành theo các bước sau:
• Đầu tiên, nhóm nghiên cứu sẽ chọn ra 8 sinh viên đại học Kinh tế Quốc
dân để phỏng vấn về các vấn đề cần có trong bảng hỏi. Sau đó tổng
trường đã hoàn thành xong kỳ thi kết thúc học phần học kỳ III năm học
2012, do vậy tâm lý sinh viên cũng có phần thoải mái hơn, thuận lợi
hơn cho việc thu thập thông tin; thông tin được các sinh viên cung cấp
đầy đủ, ít bị nhiễu bởi các yếu tố ngoại cảnh.
• Sau đó, nhóm nghiên cứu tiến hành mã hóa các câu trả lời của sinh viên
và đưa vào phần mềm thống kê. Trong bài nghiên cứu này, nhóm chọn
phần mềm Microsoft Excel Professional Plus 2010 làm công cụ thống
kê.
1.6.2 Phân tích dữ liệu
Phương pháp so sánh: So sánh kết quả giữa các khoá, So sánh trên thực
tế với lý thuyết. Phương pháp đánh giá: Dùng để đánh giá nhận thức cũng như
việc rèn luyện kỹ năng mềm của các bạn sinh viên nói chung. Phương pháp
tổng hợp phân tích: Tổng hợp ý kiến trả lời của các đối tượng phỏng vấn, phát
phiếu điều tra; Tổng hợp thông tin từ các tài liệu thứ cấp có liên quan.
Sau khi có thông tin tổng hợp, sẽ tiến hành phân tích dựa trên những kết
quả đó. Dựa vào những phiếu điều tra đã thu thập được, nhóm nghiên cứu sẽ
tổng hợp lại các câu trả lời của các bạn sinh viên trong các phiếu điều tra. Từ
đó tính phần trăm và đưa ra kết luận về nhận thức của sinh viên đại học Kinh
tế Quốc dân về tầm quan trọng của các kỹ năng mềm, mong muốn rèn luyện
kỹ năng mềm của các bạn sinh viên cũng như môi trường và điều kiện tốt
nhất để phát huy kỹ năng mềm mà các bạn được học tập.
-8-
Bên cạnh đó, nhóm chủ yếu sử dụng các phương pháp diễn giải, phân
tích, so sánh để phân tích các số liệu thu được, đưa ra cái nhìn tổng quan nhất
về thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên đại học Kinh tế Quốc dân hiện nay
và nhu cầu đào tạo của các sinh viên này.
-9-
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ KỸ NĂNG MỀM
2.1 KHÁI NIỆM KỸ NĂNG
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong
những kỹ năng thuộc về tính cách con người, do bẩm sinh đã có hoặc do quá
trình làm việc, học tập tích lũy cho bản thân, không mang tính chuyên môn.
Vì vậy, kỹ năng mềm là một phạm trù vô hình không thể sờ nắm, không phải
là kỹ năng cá tính đặc biệt. Nhưng chúng lại có vai trò quan trọng quyết định
khả năng bạn có thể trở thành nhà lãnh đạo, thính giả, nhà thương thuyết hay
người hòa giải xung đột. Hay theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới
(WHO), Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp mà mỗi cá
nhân có thể có để tương tác với những người khác một cách hiệu quả với giải
pháp tích cực hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức của cuộc
sống hàng ngày. Còn theo tổ chức UNICEF, kỹ năng sống là tập hợp rất
nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra
nhưng quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ
năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh
và có hiệu quả. Từ kỹ năng sống nó có thể thể hiện thành những hành động cá
nhân và những hành động đó sẽ tác động đến hành động của những người
khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung
quanh, giúp nó trở nên lành mạnh.
Để có thể hiểu rõ hơn về kỹ năng mềm, chúng ta có thể so sánh nó với kỹ
năng cứng. Kỹ năng mềm thuộc về tính cách con người, nó vô hình, không
thể sờ nắm được; còn kỹ năng cứng ở nghĩa trái ngược để chỉ trình độ chuyên
môn, kiến thức chuyên môn thông qua bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn
thường xuất hiện trên bản lý lịch. Do đó, để nhận biết được một cá nhân có sự
xuất sắc trong kỹ năng mềm cần có một quá trình theo dõi, biểu hiện trong
quá trình làm việc, cuộc sống. Kỹ năng mềm bao gồm các kỹ năng do bản
thân đã tự có, nhưng phần lớn các kỹ năng mềm phải học, trau dồi từ bên
ngoài, do đó cần phải có quá trình học tập và rèn luyện thường xuyên để
không ngừng năng cao và phát triển các kỹ năng.
-11-
2.3 VAI TRÒ CỦA KỸ NĂNG MỀM ĐỐI VỚI SINH VIÊN
Kỹ năng mềm của cá nhân là phần quan trọng của cá nhân đó đóng góp
Ngân hàng Thế giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ
năng – Skills Based Economy.
Năng lực của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ
năng và thái độ. Các nhà khoa học thế giới cho rằng: để thành đạt trong cuộc
sống thì kỹ năng mềm (trí tuệ cảm xúc) chiếm 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ
logic) chỉ chiếm 15%. Chúng ta đã bước vào thế kỷ 21 đã 10 năm, thế mà
việc chương trình đào tạo và việc đánh giá năng lực của học sinh, sinh viên
vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức. Peter M. Senge nói “vũ khí cạnh tranh mạnh
nhất là học nhanh hơn đối thủ”. Rõ ràng muốn tăng cường năng lực cạnh
tranh chúng ta không những phải học nhanh mà phải học đúng.
Ngày xưa, nhà trường là nơi duy nhất để ta có thể tiếp cận với kiến thức.
Thế giới ngày càng phẳng hơn, nhờ internet mọi người đều có thể tiếp cận
được thông tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi. Kiến thức nếu
may mắn có thể sẽ thu được ngày một nhiều và từ việc có kiến thức ấy đến
thực hiện một công việc để có kết quả cụ thể không phải chỉ có kiến thức là
được. Từ biết đếu hiểu đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao cả là
một khoảng cách rất lớn. Vậy câu hỏi đặt ra là “Kỹ năng nào là cần thiết cho
mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”
Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.S. Department of Labor) và Hiệp hội
Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and
Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ
bản trong công việc.
Nguồn: Bài viết “Kỹ năng là gì”,
Ngày nay, đối với những sinh viên mới ra trường, bắt đầu đi tìm việc làm
thì kỹ năng mềm được coi như một lợi thế quan trọng để sinh viên đó lọt vào
mắt của nhà tuyển dụng. Họ thường đưa ra những câu hỏi vu vơ trong các
buổi tuyển dụng, mục đích chính là để kiểm tra xem phản ứng của ứng viên là
như thế nào, qua đó họ có thể đánh giá được kỹ năng mềm của ứng viên. Ví
dụ như trong buổi phỏng vấn thi tuyển vào công ty Unilever, đang trao đổi về
-13-
Sản
xuất–
chất
lượng–
mua
hàng
Hành
chính
–nhân
sự
Tiếp thị-
kinh
doanh–
Chăm
sóc
khách
hàng
Nhóm 1: Cơ
bản
1 Ngoại ngữ 78% 91% 69% 89% 68% 76% 80% 80% 81% 79%
2 Tin học văn
phòng
65% 68% 68% 70% 53% 62% 68% 57% 74% 60%
3 Giao tiếp 42% 38% 42% 44% 47% 36% 46% 23% 53% 52%
4 Làm việc độc
lập
30% 32% 30% 30% 25% 28% 31% 30% 33% 30%
Nhóm 2: Giá
trị gia tăng
5 Tổ chức 19% 19% 25% 11% 10% 16% 21% 23% 29% 13%
kinh tế : Ứng dụng phương pháp phân tích nội dung”
Ta có thể nhận thấy các lĩnh vực khác nhau thì yêu cầu về các kỹ năng
khác nhau. Yêu cầu của các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ cao hơn hẳn
so với các doanh nghiệp trong lĩnh vự sản xuất. Và từ bảng kết quả trên, ta có
thể nhận thấy rằng các kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm,
làm việc độc lập… là tiêu chí đánh giá của các nhà tuyển dụng.
Với đặc thù của nhiều ngành kinh tế là thường phải tiếp xúc, gặp gỡ trao
đổi với các đối tác thì việc cần có kỹ năng mềm đối với mỗi sinh viên kinh tế
khi ra trường lại càng trở nên cần thiết. Những sinh viên học kỹ thuật ví dụ
như kỹ thuật viên phần mềm, đặc thù công việc của họ phần lớn là dành thời
gian bên máy tính gõ những đoạn code. Do đó những kỹ năng như giao tiếp,
thuyết trình có thể sẽ ít được sử dụng hơn so với những sinh viên chuyên
ngành kinh tế. Một sinh viên chuyên ngành marketing có thể phải đi mời hàng
rất nhiều khách hàng, do đó họ phải sử dụng thường xuyên kỹ năng giao tiếp,
làm sao để có thể thuyết phục được họ quyết định mua sản phẩm của mình
một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất. Hay họ cũng phải có một kỹ năng
thuyết trình tốt để có thể thuyết phục ban giám đốc cho triển khai một dự án
nào đó có thể mang lại lợi nhuận lớn cho công ty. Đây đều là những kỹ năng
quan trọng, quyết định lớn đến sự thành công của một cá nhân nhưng lại
không được đề cập đến trong những kiến thức chuyên ngành mà sinh viên
được học.
2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KỸ NĂNG MỀM CỦA
SINH VIÊN
Kỹ năng mềm của mỗi sinh viên chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác
nhau, bao gồm cả yếu tố ngoại cảnh và bản thân sinh viên. Để có thể tìm hiểu
kỹ năng mềm của sinh viên đại học Kinh tế Quốc dân, ta cần hiểu rõ những
yếu tố này để tiến hành nghiên cứu, phân tích.
-16-
• Quan điểm của sinh viên về mức độ quan trọng của kỹ năng mềm là
một trong những vấn đề chính ảnh hưởng đến kỹ năng mềm mà một
nhiên 400 sinh viên của trường. Mặc dù, kỹ năng mềm có vai trò quan trọng
đối với sinh viên trong việc thu hút sự chú ý của nhà tuyển dụng như hiện nay
nhưng không phải sinh viên nào cũng hiểu được điều này. Thái độ của sinh
viên đối với việc rèn luyện các kỹ năng mềm còn rất khác nhau, thường bị
ảnh hưởng mạnh bởi yếu tố sinh viên học năm thứ mấy, hệ đào tạo của sinh
viên là gì. Qua kết quả điều tra, nhóm nghiên cứu đã thu được biểu đồ sau:
Biểu đồ 3.1: Quan điểm của sinh viên về kỹ năng mềm theo số năm
học
Nguồn: Kết quả điều tra
-18-
Theo Biểu đồ 3.1, sinh viên năm nhất có quan điểm cho rằng kỹ năng
mềm là rất quan trọng với tỷ lệ cao nhất 60.40%, còn quan trọng là 28.71%.
Qua đó ta có thể thấy được mặc dù mới chỉ bắt đầu quá trình học tập tại môi
trường đại học nhưng sinh viên đại học Kinh tế Quốc dân đã có ý thức kỹ
năng mềm là nhân tố có vai trò quan trọng, cần được trau dồi. Đồng thời,
chính do sự thay đổi môi trường học tập từ Trung học phổ thông lên đại học
cùng với tâm lý luôn chủ động trong việc trang bị, học hỏi, nâng cao những
điểm yếu của bản thân đã khiến cho tỉ lệ sinh viên năm nhất đánh giá kỹ năng
mềm rất quan trọng lại cao đến vậy. Tỷ lệ lựa chọn rất quan trọng 60.40%
của sinh viên năm nhất cũng cho thấy nhu cầu học tập nâng cao các kỹ năng
mềm là rất lớn. Do đó, đòi hỏi cần phải có sự đinh hướng đúng đắn cho các
bạn sinh viên năm nhất lựa chọn những kỹ năng cần thiết với bản thân. Chỉ có
10.89% số sinh viên năm nhất được hỏi đánh giá kỹ năng mềm là bình
thường, và không có sinh viên nào đánh giá nó là không quan trọng. Đây cũng
là một tín hiệu đáng vui mừng.
Đối với sinh viên năm hai, sau một năm học tập tại trường, với việc đã
thích ứng được môi trường học tập tại đại học, được tham gia vào các hoạt
động học tập và câu lạc bộ tình nguyện tại trường đã tạo nên sự nhận thức về
các mức độ cần thiết đã có sự thay đổi so với năm nhất. Trong đó, từ năm
nhất sang năm hai, tỷ lệ lựa chọn mức độ rất quan trọng giảm từ 60.40%
cọ xát với môi trường công việc thực tế, sẽ phải sử dụng nhiều đến các kỹ
năng mềm. Do đó, khi sinh viên đã có các kỹ năng mềm tốt thì sẽ rất thuận lợi
cho công việc. Những bạn có kỹ năng mềm yếu sẽ khó khăn hơn trong việc
giải quyết các công việc, nhưng đây là khoản thời gian các bạn sinh viên có
nhiều thời gian rỗi nhất do không phải học tập tại trường nên việc học các kỹ
năng mềm sẽ có nhiều điều kiện hơn.
Sinh viên giữa các năm đã có mức độ lựa chọn sự cần thiết khác nhau,
theo hệ đào tạo thì sự khác biệt đó cũng không tránh khỏi do các hệ học khác
nhau có những điều kiện tiếp xúc khác nhau đối với kỹ năng mềm. Điều này
được thể hiện thông qua biểu đồ sau.
-20-
Biểu đồ 3.2: Quan điểm của sinh viên về kỹ năng mềm theo hệ học
Nguồn: Kết quả điều tra
Đối với mức độ rất quan trọng, hệ tiên tiến, chất lượng cao có tỷ lệ lựa
chọn cao nhất 53.57%, hệ liên kết nước ngoài là 51.43%, chính quy dài hạn
46.33%, hệ khác 0%. Hai hệ tiên tiến, chất lượng cao và liên kết nước ngoài
có tỷ lệ lựa chọn trên 50%, đây là tỷ lệ cao cho thấy chương trình đào tạo đã
có sự ảnh hưởng đến sự lựa chọn của sinh viên. Sinh viên hai hệ đào tạo này,
với quy mô sinh viên một lớp chỉ từ 25-35 sinh viên, xây dựng theo chương
trình của nước ngoài, sinh viên học theo giáo trình sử dụng tiếng Anh, sinh
viên được hoạt động nhiều hơn, rèn luyện các kỹ năng mềm. Chính môi
trường học tập như vậy mà sinh viên hai hệ này có cái nhìn khác hơn về kỹ
năng mềm, đồng thời có các kỹ năng vượt trội hơn so với các hệ khác. Hệ
chính quy dài hạn tỷ lệ lựa chọn mức độ rất quan trọng là 46.33%, tuy không
cao so với hai hệ trên nhưng so với quy mô đào tạo, chương trình học thì đây
có thể xem là một mức tỷ lệ cao. Khoảng cách về sự hiểu biết, thái độ đánh
giá về tầm quan trọng giữa các hệ chính quy dài hạn và hệ tiên tiến, chất
-21-
lượng cao cùng với hệ liên kết đang được thu hẹp. Đây có thể xem là yếu tố
tích cực.
Bảng 3.2: Thống kê hệ Đại học – Cao đẳng từ năm học 2007-2008 đến
2011-2012
Chỉ tiêu 2007-
2008
2008-
2009
2009-
2010
2010-
2011
2011-
2012
Số
lượng
trường
Đại học 160 169 173 188 204
Cao
đẳng
209 227 230 226 215
Tổng 369 396 403 414 419
Số
lượng
sinh
viên
Đai học 1,180,547 1,242,778 1,358,861 1,435,887 1,448,021
Cao
đẳng
422,937 476,721 576,878 726,219 756,292
Tổng 1,603,484 1,719,499 1,935,739 2,162,106 2,204,313
Sinh
Trong đó, sinh viên trường đại học Kinh tế Quốc dân đã cho rằng thiếu kỹ
năng mềm sinh viên sẽ gặp khó khăn trong xin việc với tỷ lệ lựa chọn là
83.52%. Mức tỷ lệ này hợp lý thể hiện đúng sự nhận thức của sinh viên và
hiểu biết về nhu cầu của thị trường lao động hiện nay. Đó là các nhà tuyển
dụng không chỉ quan tâm đến kỹ năng cứng, trình độ chuyên môn, bằng cấp
của người ứng tuyển nữa mà họ chú trọng đến cả những kỹ năng mềm và xem
đây như là tiêu chí quan trọng để tuyển dụng. Điều họ quan tâm đến ứng viên
đó là khả năng hòa nhập, thích ứng với môi trường làm việc của công ty và
làm việc hiệu quả thay vì tuyển dụng những ứng viên có kỹ năng cứng tốt
-24-
nhưng không làm được việc, công ty phải đào tạo lại sẽ mất thêm chi phí, thời
gian, cơ hội của họ.
Một hậu quả được sinh viên trong trường lựa chọn với tỷ lệ cao đó là sinh
viên không năng động với tỷ lệ 81.59%. Việc bạn chỉ quan tâm đến việc học
tập, đến giảng đường và đi về phòng trọ sẽ tạo ra cho bạn thói quen “ỳ”, điều
này sẽ cản trở bạn rất nhiều trong công việc. Bạn sẽ không có sự sáng tạo, tư
duy phát kiến ý tưởng mới, thay vào đó bạn chỉ biết dập khuôn những kiến
thức lý thuyết mình được học, áp dụng một cách máy móc. Trong mỗi trường
hợp, hoàn cảnh cụ thể cần có sự áp dụng linh hoạt. Bên cạnh việc học tập bạn
cần phải quan tâm đến nhiều thứ xung quanh mình, để bạn không phải là
người đi sau, lạc hậu với mọi người. Hãy tham gia vào các hoạt động của tổ
chức sinh viên, hoạt động đoàn thể của trường tại đó bạn sẽ thiết lập được
nhiều mối quan hệ, sống trong môi trường tập thể. Với sự năng động bạn sẽ
luôn thích ứng khi thay đổi hay tham gia vào môi trường mới, ở đó bạn sẽ mất
ít thời gian để hòa nhập hơn. Thiếu kỹ năng mềm gây ra cho các bạn hậu quả
nữa đó là để tuột mất các cơ hội đáng giá trong cuộc sống.
Đối với mỗi con người, cơ hội đến với mỗi chúng ta chỉ trong chốc lát,
nếu có sự chuẩn bị trước bạn sẽ nắm bắt được cơ hội và biến những cơ hội đó
thành kết quả, gặt hái được nhiều thành công. Chẳng hạn, khi bạn là sinh viên
năm cuối, bạn cần phải tìm những nơi thực tập và trong số đó sẽ có những
3.1.3 Các kỹ năng mềm quan trọng theo đánh giá của sinh viên Đại học
Kinh tế Quốc dân
Do nhu cầu tuyển dụng khắt khe như vậy nên thách thức được đặt ra cho
thế hệ sinh viên hiện nay là phải không ngừng trang bị cho mình các kỹ năng
mềm. Kỹ năng mềm bao gồm nhiều kỹ năng khác nhau, do đó mỗi cá nhân
khác nhau sẽ cần những kỹ năng phù hợp và cần thiết cho bản thân. Đối với
mỗi sinh viên giữa các trường khác nhau sẽ có những yêu cầu các kỹ năng cần
thiết khác nhau. Tại trường đại học Kinh Tế Quốc Dân, sinh viên đã lựa chọn
những kỹ năng mềm cần thiết phù hợp theo chuyên ngành học tập, năm học,
hệ đào tạo, yếu tố cá nhân và ngoại cảnh tác động để nâng cao các kỹ năng
mềm. Kết quả điều tra nghiên cứu đã chỉ ra rằng những kỹ năng mềm sau đây
được sinh viên của trường đề cập nhiều tới nhất, bao gồm : Kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng quản lý stress, kỹ năng làm