Website: Email : Tel : 0918.775.368
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ QUỐC TẾ
--------------***--------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH NGHỆ AN
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Như Bình
Sinh viên thực hiện : Cao Cự Đức
Lớp : Kinh tế quốc tế
Khoa : Kinh tế quốc tế
HÀ NỘI – 2008
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
PHẦN 1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ QUA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
5
1.1. Hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM 5
1.2. Các phương thức thanh toán quốc tế của NHTM 8
1.2.1.Phương thức chuyển tiền 8
1.2.2. Phương thức nhờ thu 10
1.2.3. Phương thức tín dụng chứng từ (L/C) 12
1.3. Tín dụng chứng từ - Phương thức chủ yếu trong thanh toán quốc tế của
NHTM
13
1.3.1. Cơ sở hình thành thư tín dung 13
phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Nghệ An
34
3.2.1. Hoàn thiện quy trình thanh toán tín dụng chứng từ 34
3.2.2. Tăng cường công tác cố vấn cho khách hàng 37
3.2.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp 38
3.2.4. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và mở rộng mạng lưới kinh doanh 38
3.2.5. Tiếp tục đổi mới công nghệ ngân hàng 39
3.2.6. áp dụng hoạt động Maketing ngân hàng, để đẩy mạnh, mở rộng hoạt động
thanh toán xuất nhập khẩu đặc biệt là L/C
39
3.3. Một số kiến nghị 39
3.3.1. Kiến nghị đối với doang nghiệp xuất nhập khẩu 39
3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Nghệ An 39
Cao Cự Đức
3
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hai mươi năm đổi mới và hội nhập, đất nước ta đã và đang có những bước phát
triển vượt bậc về nhiều mặt, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống, cải thiện đời sống xã hội, trong đó không thể không kể đến vai trò của
các Ngân hàng thương mại. Từ hệ thống Ngân hàng một cấp, hệ thống Ngân hàng nước
ta chuyển sang hai cấp, các Ngân hàng kinh doanh sẽ phải cạnh tranh nhau để cung cấp
các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất cho khách hàng của mình.
Khi quan hệ quốc tế mở rộng thì hoạt động thanh toán quốc tế của Việt Nam phải đựơc
hoàn thiện và phát triển đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng đa dạng và mở rộng trên
phạm vi quốc tế đặc biệt là hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu. Vấn đề đặt ra đới với
các doanh nghiệp và Ngân hàng tham gia hoạt động trên là phải theo đuổi tốt mục tiêu
“thuận tiện – hiệu quả - an toàn”
Trước tình hình đó, với vai trò là một trong những Ngân hàng thương mại quốc doanh
lớn và hoạt động nhiều năm trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại không thể không theo
Khác với thanh toán trong phạm vi một nước, thanh toán quốc tế thường gắn với việc
trao đổi giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác. Đồng tiền nội địa
với chức năng là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán trong phạm vi một
quốc gia sẽ không vượt ra khỏi giới hạn của nó được nếu như hai bên liên quan trong
hợp đồng không có sự thoả thuận với nhau. Bởi vì khi ký kết hợp đồng thương mại, tín
dụng... các bên phải đàm phán thống nhất đồng tiền nào được sử dụng để thanh toán
giao dịch, nó có thể là đồng tiền của nước người mua, tiền của nước người bán hoặc
một đồng tiền của một nước nào đó được chọn để giao dịch thanh toán.
Các đồng tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế thường là các loại ngoại tệ mạnh
có khả năng tự do chuyển đổi như đồng USD, đồng EUR, đồng GBP, đồng FRF, đồng
JPY, đồng DEM. Trong đó đồng USD và EUR vẫn giữ vai trò chủ đạo trong thanh toán
quốc tế bởi sự nhanh chóng và tiện lợi trong việc thực hiện các giao dịch này.
Thanh toán quốc tế chủ yếu là thanh toán qua chứng từ, tách rời với sự di chuyển của
hàng hoá từ nước người bán đến nước người mua. Thanh toán quốc tế có quan hệ trực
tiếp đến cả bên mua lẫn bên bán. Nếu công tác thanh toán quốc tế được làm tốt sẽ góp
phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển
của hoạt động ngoại thương.
Cao Cự Đức
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay phần lớn việc chi trả trong thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua hệ
thống SWIFT (Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu). Theo thống kê
của tổ chức này thì có tới 72% các giao dịch tài chính tiền tệ quốc tế hàng ngày được
thực hiện qua SWIFT. Phần còn lại được thực hiện thông qua con đường điện tín, bưu
điện dưới hình thức uỷ nhiệm thu, chi hộ lẫn nhau giữa các ngân hàng. Tỉ lệ trả bằng
tiền mặt trong thanh toán quốc tế chiếm một phần không đáng kể.
Xuất phát từ nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, các doanh nghiệp luôn
luôn có xu hướng mở rộng thị trường của mình ra bên ngoài, từ đó hình thành các quan
hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước khác nhau. Mỗi nước có sự khác nhau về chế độ
chính trị, môi trường pháp luật, phong tục tập quán cũng như khoảng cách địa lý, bên
đẩy mạnh quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá, tăng nhanh tốc độ chu chuyển của
vốn, góp phần phát triển kinh tế.
Hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt
trong nền kinh tế, giảm bớt các chi phí trung gian, đồng thời hoạt động thanh toán quốc
tế đã thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam bằng các nghiệp vụ kiều hối,
chuyển tiền đến và L/C xuất khẩu.
- Đối với bản thân Ngân hàng thương mại.
Thanh toán quốc tế giúp ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ
xuất nhập khẩu, phát triển các nghiệp vụ liên quan như kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và
các dịch vụ khác.
Thanh toán quốc tế đem lại các khoản thu từ phí dịch vụ, đồng thời hoạt động thanh
toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng, tăng số lượng và khối lượng
giao dịch, từ đó tăng quy mô hoạt động và thị phần của mình trên thị trường.
Bên cạnh đó, thanh toán quốc tế còn làm tăng tính thanh khoản của ngân hàng, cụ thể,
trong quá trình thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế cho khách hàng, ngân hàng
thương mại luôn có một nguồn tiền tập trung chờ thanh toán. Nguồn tiền này tương đối
ổn định và phát sinh thường xuyên, là một nguồn nâng cao khả năng thanh khoản cho
ngân hàng.
Thực hiện thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mại có thể tạo ra được vòng tròn dịch
vụ khép kín, từ đó đảm bảo các nghiệp vụ ngân hàng có liên quan đến nhau như tài trợ
xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ được giám sát, theo dõi kỹ lưỡng
bởi nhiều phòng ban khác nhau, hạn chế rủi ro. Bên cạnh đó, Ngân hàng còn nắm được
tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện
Cao Cự Đức
7
Chuyên đề tốt nghiệp
quản lý có hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chính sách kinh tế
đối ngoại mà Nhà nước đề ra.
Thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại: thông qua việc bảo lãnh cho
khách hàng trong nước, thanh toán cho ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thương mại sẽ
(1): Giao dịch thương mại giữa người chuyển tiền và người hưởng lợi
(2): Người chuyển tiền viết lệnh chuyển tiền gửi đến Ngân hàng chuyển tiền (Ngân
hàng phục vụ mình) trong đó ghi rõ ràng, đầy đủ những nội dung theo quy định
(3): Ngân hàng chuyển tiền kiểm tra khả năng thanh toán, nếu đủ điều kiện, Ngân hàng
chuyển tiền gửi lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài để chuyển tiền cho người
hưởng thụ
(4): Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng thụ
* Ưu điểm của phương thức này là thủ tục đơn giản, không có chứng từ phức tạp, rườm
rà, người mua và người bán không phải tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau
* Nhược điểm: Do đây là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và
người hưởng lợi, Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, theo uỷ nhiệm để
hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì đối với cả người mua và người bán nên độ an
toàn trong thanh toán không cao, không đảm bảo quyền lợi cho người bán, hàng đã
chuyển nhưng việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua. Trong trường hợp
người mua chuyển tiền trước khi giao hàng mà vì một lý do nào đấy, việc giao hàng của
người bán chậm trễ, hoặc không đúng theo yêu cầu thì người mua sẽ ứ đọng vốn. Vì
vậy, phương thức này chủ yếu áp dụng để thanh toán phi mậu dịch, các chi phí liên
quan đến trả nợ, bồi thường, còn nếu áp dụng trong thanh toán xuất nhập khẩu thì chủ
yếu đối với khách hàng quen biết, có tín nhiệm cao
1.2.2. Phương thức nhờ thu
Cao Cự Đức
9
NGÂN HÀNG CHUYỂN TIỀN
NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ
NGƯỜI HƯỞNG LỢI
NGƯỜI CHUYỂN
2
1
3
4
(4): Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối
phiếu thì ngân hàng sẽ giữ hối phiếu hoặc gửi lại cho người bán. Khi đến hạn thanh
toán thì ngân hàng sẽ đòi tiền của người mua và thực hiện việc chuyển tiền như trên
* Ưu điểm của phương pháp nhờ thu kèm chứng từ là thanh toán tương đối nhanh, thực
hiện đơn giản nhưng có nhược điểm là không đảm bảo quyền lợi cho người bán vì việc
nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, do đó người mua có
thể nhận hàng mà không trả tiền hay trả tiền chậm. Đối với người mua áp dụng phương
thức này cũng có bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ thì người mua phải trả
tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng theo hợp đồng hay
không.
Như vậy, với phương pháp này, tính an toàn đối với cả người xuất khẩu và nhập khẩu
đều thấp, tốc độ thanh toán chậm. Do vậy, nó ít được sự dụng trong thanh toán quốc tế,
có chăng chỉ là thanh toán các chi phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức... hoặc khi
hai bên mua và bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng nội bộ công ty với nhau (công ty
mẹ và công ty con)
Cao Cự Đức
11
NGÂN HÀNG BÊN BÁN NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ
NGƯỜI BÁN
NGƯỜI MUA
Chuyên đề tốt nghiệp
b. Nhờ thu kèm chứng từ
Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu
hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ
gửi hàng gửi kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hối phiếu thì ngân hàng
mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng
Trong phương thức này, điểm khác biệt cơ bản với nhờ thu phiếu trơn là người xuất
khẩu uỷ thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn khống chế bộ chứng từ hàng hoá
đối với người nhập khẩu. Với cách khống chế chứng từ này, quyền lợi của người bán sẽ
được đảm bảo hơn
Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là do hai bên xuất nhập khẩu quyết định dựa
trên các điều kiện cụ thể nhằm thoả mãn quyền lợi của cả hai phía. Tuy nhiên, phương
thức tín dụng chứng từ vẫn chiếm ưu thế, là một phương thức thanh toán chủ yếu.
1.3. Tín dụng chứng từ - Phương thức chủ yếu trong thanh toán quốc tế của
NHTM
1.3.1. Cơ sở hình thành thư tín dung
Ngày nay, việc mở rộng nền kinh tế và đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế quốc tế đã
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngoại thương phát triển tại các quốc gia. Hoạt
động ngoại thương ngày càng phát triển xóa bỏ dần hàng rào buôn bán giữa các quốc
gia. Các giao dịch thương mại không chỉ diễn ra giữa những khách hàng quen biết, có
tín nhiệm cao. Trong khi người bán luôn ngần ngại khi chuyển giao hàng hóa của họ
trước khi nhận được tiền, còn người mua lại muốn nắm được hàng hóa trước khi trả
tiền thì phương thức nhờ thu và chuyển tiền rõ ràng đã bộc lộ những hạn chế của nó. Vì
rất khó có thể làm cho việc trao đổi tiền và hàng được tiến hành đồng thời nên trên thực
tế các bên thường thỏa thuận với nhau một biện pháp thỏa hiệp: trả tiền khi giao hàng
tượng trưng, tức là giao chứng từ chuyển quyền sở hữu hay quyền kiểm soát hàng hóa.
Trên cơ sở đó phương thức tín dụng chứng từ ra đời và nhanh chóng trở thành phương
thức được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong thanh toán xuất nhập khẩu. Trong
phương thức này, các ngân hàng không chỉ đóng vai trò là trung gian thu hộ mà được
yêu cầu tham gia bằng cách cam kết chắc chắn sẽ trả tiền cho người bán khi họ xuất
trình đầy đủ bộ chứng từ phù hợp với nội dung của thư tín dụng.
Các bên tham gia cơ bản trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:
- Người xin mở thư tín dụng là người mua, người nhập khẩu hàng hoá hoặc là
người mua ủy thác cho một người khác.
Cao Cự Đức
13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Ngân hàng mở thư tín dụng là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nó
cấp tín dụng cho người nhập khẩu
- Người hưởng lợi thư tín dụng là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ
e. Thư tín dụng trả ngay (L/C at sight): là loại thư tín dụng trong đó người xuất khẩu
sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình các chứng từ phù hợp với điều khoản quy định
trong thư tín dụng tại ngân hàng chỉ thị thanh toán. Trong trường hợp này người xuất
khẩu sẽ ký phát hối phiếu trả ngay để yêu cầu thanh toán
f. Thư tín dụng trả chậm (Deferred payment L/C): loại thư tín dụng này quy định việc
thanh toán sẽ được tiến hành vào một thời điểm xác định trong tương lai. Khi chỉ định
một ngân hàng thanh toán trả chậm, ngân hàng phát hành cho phép ngân hàng đó thực
hiện thanh toán bộ chứng từ được xuất trình phù hợp với quy định trong thư tín dụng
vào một thời điểm xác định trong tương lai đã nêu trong thư tín dụng. Đồng thời, ngân
hàng phát hành cũng cam kết bồi hoàn cho ngân hàng thanh toán đúng thời hạn
g. Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): là loại Thư tín dụng do người xuất khẩu
yêu cầu ngân hàng phục vụ mình mở một thư tín dụng khác cho người khác hưởng căn
cứ vào một thư tín dụng đã được mở trước đó làm đảm bảo. Nội dung của hai thư tín
dụng là gần giống nhau, tuy nhiên nó lại hoàn toàn độc lập với nhau. Nghiệp vụ thư tín
dụng giáp lưng rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự kết hợp khéo léo và chính xác các điều
kiện của thư tín dụng gốc và thư tín dụng giáp lưng. Loại thư tín dụng này thường được
sử dụng trong mua bán hàng hoá qua trung gian, khi người bán cuối cùng hoặc người
mua không chấp nhận một thư tín dụng chuyển nhượng
h. Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang
chỉ có hiệu lực khi có một thư tín dụng đối ứng với nó cũng được mở. Loại Thư tín
dụng thường được sử dụng khi hai bên mua bán có quan hệ mua bán hàng đổi hàng
hoặc gia công hàng hoá
i. Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang,
sau khi sử dụng xong hoặc đã hết hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ và cứ như
vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị được thực hiện hoàn tất. Thư tín dụng
tuần hoàn thường được sử dụng khi các bên tin cậy lẫn nhau, mua hàng thường xuyên
theo định kỳ
j. Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C): là loại thư tín dụng có điều khoản
đặc biệt, trong đó người hưởng Thư tín dụng thông qua ngân hàng phát hành đồng ý
ứng trước một số tiền nhất định cho người hưởng trước khi họ xuất trình đầy đủ chứng