TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KINH NGHIỆM QUẢN LÝ HỆ THỐNG BÁN LẺ TRÊN THẾ
GIỚI VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Minh Thuỷ
Lớp : Pháp 4 – K43F
Khoá : 43
Giáo viên hướng dẫn : GS.,TS Nguyễn Thị Mơ
Hà Nội, tháng 6/2008
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
2
MỤC LỤC
hệ thống bán lẻ trong thời gian tới 73
I. Dự báo sự phát triển của hệ thống bán lẻ Việt Nam trong thời gian tới
73
II. Các giải pháp để vận dụng kinh nghiệm của các nước trong quản lý hệ
thống bán lẻ ở Việt Nam 75
1. Nhóm giải pháp vận dụng kinh nghiệm của Mỹ thông qua tập đoàn
Walmart 75
2. Nhóm giải pháp vận dụng kinh nghiệm của Pháp thông qua kinh
nghiệm của tập đoàn Carrefour 80
3. Nhóm giải pháp vận dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc thông qua kinh
nghiệm quản lý hệ thống bán lẻ của tập đoàn Shinsegae 84
Kết luận 90
Tài liệu tham khảo 91
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu tiêu dùng của người dân Việt Nam hiện nay đang ngày càng
gia tăng, bởi đời sống phát triển, thu nhập cải thiện, đi đôi với yêu cầu về chất
lượng sản phẩm ngày càng khắt khe so với trước kia. Do vậy, việc lựa chọn
mua sắm ở các kênh phân phối hiện đại như siêu thị, hay trung tâm thương
mại đang dần trở nên phổ biến ở nước ta. Cũng xuất phát từ nhu cầu này, rất
nhiều siêu thị đang mọc lên nhanh chóng, tập trung chủ yếu ở các thành phố
lớn, làm cho hệ thống bán lẻ nước ta phát triển rất sôi động trong những năm
gần đây, hứa hẹn một nền công nghiệp bán lẻ hiện đại hơn, chuyên nghiệp
hơn.
Tuy nhiên, sau hơn một năm gia nhập WTO, nước ta đã cam kết mở cửa
ở hầu hết các lĩnh vực, và ngành phân phối bán lẻ cũng không nằm ngoại lệ.
Từ tháng 1/2007, các nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu 49% số vốn trong
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là kinh nghiệm quản lý của một số
hệ thống bán lẻ lớn trên thế giới, và thực trạng quản lý hệ thống phân phối
bán lẻ của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận là tập trung phân tích kinh nghiệm
quản lý bán lẻ ở Mỹ, Pháp và Hàn Quốc thông qua hoạt động quản lý của các
tập đoàn Walmart, Carrefour và Shinsegae.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, khoá luận đã sử dụng các phương pháp
phân tích tổng hợp, hệ thống hoá và so sánh.
5. Bố cục khoá luận
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của
khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về hệ thống bán lẻ và quản lý hệ thống bán lẻ
Chương 2. Phân tích kinh nghiệm quản lý bán lẻ của một số nước trên
thế giới, và thực trạng quản lý hệ thống bán lẻ ở việt nam
Chương 3. Giải pháp để Việt Nam vận dụng kinh nghiệm của các nước
về quản lý hệ thống bán lẻ
Hy vọng qua việc nghiên cứu khóa luận về quản lý hệ thống bán lẻ, tôi
có thể nâng cao hiểu biết của mình về vấn đề này một cách hệ thống và khoa
học hơn.
Em xin chân thành cảm ơn giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thị Mơ đã giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
6
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG BÁN LẺ VÀ
QUẢN LÝ BÁN LẺ
I. HỆ THỐNG BÁN LẺ
thể hiện vai trò quan trọng của bán lẻ đối với mỗi cá nhân, tổ chức nói riêng,
và đối với nền kinh tế nói chung.
Người thực hiện chức năng bán lẻ chính là các nhà bán lẻ. Nhà bán lẻ
là người chuyên bán một số chủng loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định cho
người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân [24]. Nhà bán lẻ cũng là
người thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh này.
Hệ thống bán lẻ:
Cho đến nay, các nhà kinh tế vẫn chưa đưa ra một cách hiểu cụ thể nào
về khái niệm “hệ thống bán lẻ”. Do vậy, dựa trên khái niệm về Hệ thống: “Hệ
thống là sự tổ hợp của các phần tử có mối liên hệ, tương tác với nhau”, khoá
luận xin đưa ra cách hiểu về khái niệm “hệ thống bán lẻ” như sau:
Trên phương diện vĩ mô, hệ thống bán lẻ của một vùng dân cư là tập
hợp tất cả các hình thức bán lẻ và các hoạt động kinh doanh bán lẻ nằm trong
khu vực dân cư đó. Trong phạm vi doanh nghiệp, hệ thống bán lẻ cũng được
dùng để chỉ toàn bộ các cửa hàng kinh doanh bán lẻ của một doanh nghiệp
hay tập đoàn bán lẻ. Ví dụ: hệ thống bán lẻ Hapro, hệ thống bán lẻ
Coopmart… Tập hợp các cửa hàng này có thể bao gồm cả các cửa hàng cùng
loại và không cùng loại. Ví dụ: hệ thống bán lẻ của công ty Hapro bao gồm cả
các siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng tiện ích, còn hệ thống bán lẻ
của Big C chỉ bao gồm các siêu thị.
Chuỗi bán lẻ là một hình thức hoạt động của nhà bán lẻ ở mức cao cấp
dưới dạng một loạt các cửa hàng cùng loại được phân bố ở các địa bàn khác
nhau trong một khu vực, có cùng phương thức kinh doanh, chủng loại hàng
hoá, văn hoá doanh nghiệp.
2. Phân loại hệ thống bán lẻ
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều hệ thống bán
lẻ, trong đó tiêu biểu là hai hệ thống bán lẻ chính đang tồn tại trên thị trường
và được phân loại dựa trên trình độ công nghệ của cung cấp và dự trữ hàng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cửa hàng tạp hoá: là cửa hàng kinh doanh thường có diện tích nhỏ từ
11-18m
2
, kinh doanh nhiều loại hàng hoá, chủ yếu là các sản phẩm thiết yếu,
các loại đồ gia dụng. Ở nông thôn hay thành thị Việt Nam đều có nhiều cửa
hàng loại này.
2.2. Hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại
Hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại là loại hình phân phối sử dụng
phương thức cung cấp và dự trữ hàng hoá hiện đại, phương thức bán hàng chủ
yếu là tự phục vụ, kinh doanh nhiều chủng loại mặt hàng cùng một lúc, và có
quy mô lớn hơn các hình thức bán lẻ truyền thống. Hệ thống này rất đa dạng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
10
trong các loại hình kinh doanh và hiện nay được biết đến với tốc độ phát triển
rất nhanh.
Hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại bao gồm:
Siêu thị: là cửa hàng bán lẻ hiện đại, kinh doanh tổng hợp với chủng
loại hàng hoá và dịch vụ phong phú, đa dạng, đảm bảo chất lượng và đạt được
doanh thu cao, có vị trí thuận lợi, đáp ứng tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh
nhất định với những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, có trình độ quản lý, tổ
chức kinh doanh với phương thức phục vụ văn minh, người mua hàng tự phục
vụ chính mình, từ đó tạo khả năng thoả mãn tốt nhất nhu cầu mua sắm của
mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. [2]
Hình 3. Sơ đồ hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại Trong tất cả các loại hình của hệ thống bán lẻ, siêu thị là hình thức đại
diện cho loại hình bán lẻ hiện đại, bởi nó hội tụ đầy đủ các đặc trưng của bán
lẻ hiện đại, đó là: tính chất đa dạng về chủng loại hàng hoá, hoạt động kinh
thông thường hàng ngày, giá rẻ, yêu cầu chọn lựa không cao, dễ bán, diện tích
nhỏ. Ngoài ra cửa hàng còn kinh doanh một số loại dịch vụ tiện dụng như:
giặt là, điện thoại, Ví dụ: hệ thống cửa hàng Hapromart, hệ thống G7
Mart,…
Cửa hàng chuyên doanh (cửa hàng đặc chủng – speciality store): là
cửa hàng chỉ chuyên bán một số chủng loại hàng hoá nhất định, tập hợp hàng
hoá hẹp nhưng sâu. Ví dụ: cửa hàng quần áo Vinatex, cửa hàng thực phẩm
Vissan, cửa hàng sữa Vinamilk…
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
12
Ngoài các loại hình chủ yếu trên, ở các nước phát triển, hệ thống bán lẻ
hiện đại còn có các hình thức sau:
Trung tâm bán lẻ (superstore, combination store). Ví dụ: Walmart,
K-mart
Cửa hàng giá rẻ (discounted store): lấy chính sách giá cả hấp dẫn
làm tiêu chí hàng đầu để thu hút khách hàng giống như cửa hàng giảm giá, hạ
giá. Ví dụ: Walmart, Ed
Cửa hàng chất lƣợng: Chất lượng cao là yếu tố chính để thu hút
khách hàng và khách hàng mục tiêu là những người có thu nhập cao.
Kho hàng (warehouse store): là hình thức phân phối bán với số lượng
hàng hoá lớn cho các nhà bán lẻ khác, và cả người tiêu dùng khi có thẻ thành
viên. Ví dụ: Metro, Sam’s Club
Cửa hàng trên mạng (webstore): tất cả các hoạt động giao dịch: đặt
hàng, mua bán đều được tiến hành qua mạng. Ví dụ: amazone.com, ebay.com
3. Đặc điểm chung của hệ thống bán lẻ hiện đại
Các hình thức kinh doanh trong hệ thống bán lẻ hiện đại có các đặc
điểm chung sau:
Khai thác một số nhóm mặt hàng và dịch vụ thích hợp. Các nhà bán lẻ
phải lựa chọn kinh doanh các chủng loại hàng hoá, dịch vụ thích hợp sao cho
khách hàng khi họ có thắc mắc. Nhiều loại hình dịch vụ khác được cung cấp
như: dịch vụ tín dụng (cho phép khách hàng mua trả sau), dịch vụ bảo hành…
Phương thức quản lý hiện đại, thường áp dụng công nghệ cao. Hệ
thống bán lẻ hiện đại thường có quy mô lớn, với chủng loại hàng hoá lớn, số
lượng khách hàng đông đảo, kéo theo việc quản lý đòi hỏi phải chuyên
nghiệp, chính xác và nhanh chóng. Do vậy, các nhà bán lẻ phải nghĩ đến việc
áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh của mình nhằm làm
cho công tác quản lý có hệ thống và dễ dàng hơn, giảm được chi phí quản lý
và các chi phí khác như chi phí cung ứng, chi phí vận tải, chi phí kiểm kê
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
14
hàng hoá. Hơn nữa, cơ sở vật chất thiết bị kỹ thuật phục vụ phải hiện đại, để
đảm bảo tiện nghi, phục tốt, tạo thoải mái cho khách hàng đi mua sắm.
Phương thức bán hàng thường là phương thức tự phục vụ. Trong quá
trình khách hàng lựa chọn mua hàng hoá, không hề có sự can thiệp của người
bán, trừ khâu thu tiền.
4. Vai trò của hệ thống bán lẻ
4.1. Đối với người tiêu dùng
Cung cấp hàng hoá để phục vụ nhu cầu người tiêu dùng. Đây là chức
năng chính của hệ thống bán lẻ. Do vậy, việc kinh doanh bán lẻ luôn phải tập
trung nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng về số lượng, chất lượng, cơ cấu
chủng loại.
Hướng dẫn tiêu dùng cho khách hàng. Nhờ vào việc tiếp xúc với
nhiều chủng loại hàng hoá, tiếp xúc với nhiều phân đoạn thị trường khách
hàng, kinh doanh bán lẻ cũng góp phần hướng dẫn tiêu dùng cho khách hàng,
có nghĩa là hướng dẫn khách hàng nên sử dụng loại hình sản phẩm dịch vụ
nào thích hợp với mức sống, sở thích, nhu cầu của họ. Làm tốt được vai trò
đó, hệ thống bán lẻ có thể kích thích nhu cầu người tiêu dùng và đẩy mạnh
bán hàng.
Việc kinh doanh hệ thống bán lẻ góp phần đáng kể đối với nền kinh tế
quốc dân như sau:
Cung cấp hàng hoá dịch vụ, phục vụ rộng rãi nhu cầu đa dạng của
người tiêu dùng trong xã hội. Đây là nhiệm vụ chính mà nền kinh tế
giao cho các nhà bán lẻ.
Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Ở các nước phát
triển, ngành kinh doanh bán lẻ luôn đóng góp một tỷ trọng lớn vào
GDP quốc gia, hơn nữa còn giải quyết việc làm cho lượng lớn dân số:
Ở Canada, số người lao động làm trong lĩnh vực bán lẻ chiếm hơn một
triệu dân [30]. Ở Mỹ, tỷ trọng dân số làm trong lĩnh vực bán lẻ cũng
không nhỏ, chiếm 20.8% [12]
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp dân cư trong
xã hội. Tiếp xúc với các phương thức bán hàng hiện đại, văn minh, lịch
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
16
sự, chủng loại hàng hoá phong phú, nhiều gia đình đã coi việc đi siêu
thị hay đến các cửa hàng là một hình thức thư giãn. Hơn nữa, với số
lượng mặt hàng rất phong phú được bày bán ở các hệ thống bán lẻ hiện
đại, người tiêu dùng được gia tăng sự lựa chọn, và nhu cầu của khách
hàng ngày càng được thoả mãn tốt hơn.
Thúc đẩy luân chuyển nhanh chóng hàng hoá từ nhà sản xuất đến
người tiêu dùng. Hàng hoá được lưu thông càng nhanh chóng.thì tái sản
xuất càng được tiến hành sớm, vốn không rơi vào tình trạng ứ đọng, do
vậy sản xuất phát triển, làm cho nền kinh tế vận hành một cách nhịp
nhàng hơn.
Ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu của quốc gia, góp phần thúc đẩy phát
triển nền kinh tế xã hội.
II. Quản lý hệ thống bán lẻ
1. Sự cần thiết phải quản lý hệ thống bán lẻ
họ thu hút được nhiều khách hàng đến với cửa hàng của mình. Do vậy hoạt
động quản lý bán lẻ là nhằm phối hợp một cách chặt chẽ và linh hoạt các hoạt
động kinh doanh và nhân sự của hệ thống bán lẻ, sao cho các bộ phận bán lẻ
hoạt động tốt, sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực mà không gây lãng phí,
hàng hoá được cung ứng một cách nhanh chóng, đầy đủ và giành được cảm
tình của khách hàng.
Mục tiêu chung của hoạt động bán lẻ được thể hiện ở hai tiêu chí sau:
Đảm bảo hài hoà quyền lợi của các cá nhân, bộ phận, các bên tham
gia (nhà cung ứng, nhà bán lẻ, khách hàng, nhân viên).
Đảm bảo tính hệ thống trong các quyết định được chia ra, sao cho
dung hoà ảnh hưởng của các bộ phận, tìm ra được quy luật, tác nhân mang
tính điều khiển, xử lý phù hợp với sự thay đổi của môi trường.
2.3. Nội dung, yêu cầu của công tác quản lý bán lẻ
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
18
Công tác quản lý bán lẻ gồm các nội dung chủ yếu sau: Quản lý hàng
hoá và chuỗi cung ứng, quản lý nhân viên, quản lý khách hàng, và quản lý
thương hiệu. Mỗi bộ phận quản lý lại có các nhiệm vụ và yêu cầu riêng. Khoá
luận xin được thể hiện các nhiệm vụ, yêu cầu của từng bộ phận quản lý đó
qua bảng sau:
Bảng 1. Nhiệm vụ và yêu cầu của từng bộ phận quản lý bán lẻ
Nội dung
của quản lý
bán lẻ
Nhiệm vụ của từng
bộ phận quản lý bán
lẻ
Yêu cầu của từng bộ phận quản
lý bán lẻ
nhân viên.
Đào tạo, định hướng
cho nhân viên.
Hoạch định phương
Phân bổ đúng người, đúng việc.
Nâng cao năng suất lao động của
nhân viên.
Phát huy tinh thần nhiệt tình đối
với công việc của cán bộ nhân viên,
nâng cao lòng trung thành của nhân
viên đối với doanh nghiệp.
Đảm bảo nhân viên có thể thích
nghi với mọi tình huống của công
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
19
pháp quản lý.
việc.
c. Quản lý
khách hàng
Tìm hiểu nhu cầu thị
trường, thông tin
khách hàng.
Hoạch định các biện
pháp thu hút khách
hàng, chăm sóc khách
hàng phù hợp.
Hướng dẫn tiêu
dùng.
Thoả mãn nhu cầu của khách hàng
phẩm trên mạng thông qua trang web walmart.com.
Bảng 2. Danh sách xếp hạng doanh thu các nhà bán lẻ toàn cầu do Fortune
bình chọn năm 2007
Xếp
hạng
Doanh nghiệp
Xếp hạng top 500
doanh nghiệp
doanh thu lớn nhất
thế giới
Doanh thu
(triệu USD)
1
Hệ thống cửa hàng
Walmart
1
351,139.0
2
Target
96
59,490.0
3
Sears Holdings
114
53,012.0
4
Foncières Euris
204
32,237.0
5
khách hàng vào đúng thời điểm, bằng phương thức hiệu quả nhất. Về điểm
này, thì không ai có thể sánh bằng Walmart.” [11]
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Sam Walton sáng lập ra Walmart vào giữa những năm 1940 sau khi
ông bỏ làm việc ở hãng bán lẻ nổi tiếng JC Penney. Những năm tháng làm ở
JC Penney đã cho ông rất nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý kinh doanh
bán lẻ. Bài học đầu tiên mà ông có được từ khi thành lập Walmart, đó là hãy
làm cho giá hàng hoá thấp một cách đáng kể để tăng cường lượng bán cũng
như gia tăng tổng lợi nhuận. Công việc kinh doanh rất thuận lợi và Walton
sớm mở được cửa hàng thứ hai trong vòng ba năm.
Walton không chỉ tìm thấy những cơ hội kiếm lợi nhuận lớn trong việc
mở cửa hàng ở các thị trấn nhỏ, mà còn thử tìm kiếm lợi nhuận trong việc áp
dụng các hình thức bán hàng mới chẳng hạn như việc để cho khách hàng tự
phục vụ. Để đáp ứng nhu cầu về nhân lực trong việc quản lý hệ thống các cửa
hàng đang càng ngay càng gia tăng về số lượng của mình, Walton đã cố gắng
thu hút rất nhiều người tài năng và có kinh nghiệm từ các hệ thống bán lẻ
khác. Vào năm 1969, Walton đã gây dựng được 18 cửa hàng Walmart, với
lượng bán được là 44 triệu USD/năm. Vào giữa thập kỷ 70, Walmart đã mua
lại 16 cửa hàng của Mohr-Value ở Michigan và Illinois. Đến cuối những năm
70, chuỗi bán lẻ đã thiết lập được cả một cửa hàng thuốc, một trung tâm
thương mại tự phục vụ, và rất nhiều khu bán đồ trang sức.
Trong những năm 80, Walmart tiếp tục tăng trưởng thần tốc bởi nhu
cầu về hàng hoá của người dân ở các thị trấn nhỏ tăng đáng kể. Nhận xét về
sự tăng trưởng đáng ngạc nhiên này, Walton nói: “Chúng tôi kinh doanh ở các
thị trấn nhỏ và hàng ngày bán hàng hoá ở giá thấp, điều đó làm khách hàng
luôn yên tâm. Hơn nữa chúng tôi còn tiết kiệm thời gian cho họ vì họ có thể
dễ dàng chọn lựa và mua hàng theo cách mà họ muốn. Vì thế chúng tôi có thể
cạnh tranh được với những cửa hàng kiểu cũ luôn ghi giá cao hơn giá gốc
45%, với chủng loại hàng hoá nghèo nàn và tốn thời gian trong việc chọn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
việc áp dụng quản lý chuỗi cung ứng một cách hiệu quả. Doanh nghiệp này có
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
23
khả năng cung cấp một danh sách hàng hoá đa dạng với mức giá thấp nhất
trong thời gian ngắn nhất. Điều đó có được là do hai nhân tố chính:
Các trạm trung chuyển tự động của Walmart: Chính nhờ các trạm này
mà chi phí và thời gian vận chuyển được tiết kiệm ở mức thấp nhất.
Hệ thống kiểm kê hàng hoá được áp dụng công nghệ thông tin làm
cho việc tìm kiếm trở nên nhanh chóng, và thuận lợi trong việc kiểm kê hoạt
động kinh doanh.
1.2. Hoạt động quản lý chuỗi của Walmart
a. Hoạt động quản lý thu mua hàng hoá và phân phối
Walmart luôn nhấn mạnh vào việc giảm giá thu mua và cung cấp một
mức giá tốt nhất cho khách hàng của họ. Doanh nghiệp thường thu mua hàng
hoá trực tiếp từ các nhà sản xuất, bỏ qua tất cả các khâu trung gian. Walmart
có thể được coi là một nhà đàm phán về giá cực kỳ cứng rắn, và chỉ hoàn tất
cuộc thoả thuận mua bán một khi họ tin rằng sản phẩm đó không thể được
bán ở đâu với giá thấp hơn. Một trong những nhân viên kỳ cựu nhất của
Walmart, Claude Harris nói: “Người thu mua nào cũng phải hết sức cứng rắn.
Đó là nghề của họ. Tôi thường nói với những nhân viên thu mua rằng: Bạn
đang đàm phán vì khách hàng của bạn, và khách hàng của bạn xứng đáng với
mức giá tốt nhất mà bạn có thể thoả thuận được. Đừng bao giờ thương tiếc
cho người cung cấp. Họ hiểu họ bán cái gì và họ luôn muốn mức giá cao hơn
mức giá thật của nó. Chúng tôi cũng sẽ nói với các nhà cung cấp rằng: Chúng
tôi không cần một khoản hoa hồng nào cả. Chúng tôi cũng không muốn các
ông phải quảng cáo hay vận chuyển hộ chúng tôi. Bởi vì xe tải của chúng tôi
sẽ lấy hàng ngay tại kho của các ông. Vậy mức giá hợp lý nhất của các ông là
bao nhiêu?” [11]
Walmart thường dành ra lượng lớn thời gian để gặp trao đổi với các
cấp hàng hoá. Walmart luôn sử dụng công nghệ mã vạch và các thiết bị vi
tính cầm tay nên việc quản lý các trạm này càng trở nên dễ dàng và tiết kiệm
hơn. Mỗi nhân viên được trang bị phương tiện xử lý thông tin liên quan đến
các cấp độ kiểm kê của tất cả các hàng hoá trong trạm. Họ có hai hệ thống
máy quét, một là để nhận dạng các kiện hàng, một là để quan sát nơi hàng hoá
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
25
sẽ được mang đi phân phối. Các loại mã vạch khác nhau được sử dụng cho
các nhãn hiệu sản phẩm khác nhau, theo từng ngăn và từng thùng trong trạm.
Các thiết bị máy tính cầm tay giúp cho nhân viên có thể định vị từng loại
hàng hoá ở từng thùng hoặc từng ngăn. Khi máy tính kiểm tra lại các thùng và
xác định một sản phẩm, nhân viên có thể xác nhận được ngay rằng đó có đúng
là sản phẩm đó hay không. Thông tin về số lượng sản phẩm trong trạm sẽ
được các nhân viên nhập vào các thiết bị cầm tay, sau đó máy tính sẽ cập nhật
những số liệu đó vào máy chủ.
Thiết bị máy tính cầm tay cũng được sử dụng trong bộ phận đóng gói
hàng hoá nhằm đảm bảo tính chính xác của các thông tin trên từng sản phẩm.
Các thiết bị này có đủ các thông tin về dự trữ hàng, đóng gói hàng, vận
chuyển hàng của từng sản phẩm, tiết kiệm thời gian hơn việc lưu trữ bằng
giấy tờ. Chúng cũng giúp những cán bộ giám sát trong việc quản lý nhân viên
một cách trực tiếp hơn, không những chỉ dẫn họ, mà còn có thể chỉ đường đi
cho họ trong trạm.
Mỗi trạm phân phối đều được trang bị các tiện nghi để nhân viên có thể
vệ sinh thân thể, như phòng tắm, phòng hồi sức. Ở đó có cả nơi phục vụ ăn,
ngủ và các sinh hoạt cá nhân. Các trạm phân phối cũng là nơi diễn ra các buổi
họp và các công việc liên quan đến giấy tờ. Các lái xe tải cũng được sử dụng
các tiện nghi này.
b. Hoạt động quản lý công tác Logistic (giao nhận hàng hoá)