Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan không có sự sao chép nào, tự bản thân tôi lập đề tài và
nghiên cứu chuyên đề “các giải pháp Marketing nhằm tăng cường thu hút
khách đến sử dụng dịch vụ ăn uống của nhà hàng khách sạn Quốc tế Bảo
Sơn-Hà Nội”. Bài chuyên đề trên có sử dụng các tài liệu tham khảo đã
được ở danh mục tài liệu tham khảo, và các tài liệu được bộ phận nhà hàng
Bảo Sơn cung cấp cho tôi, tôi đã trích dẫn các tài liệu trong bài của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các tác giả của các tài liệu tôi đã tham khảo.
Cảm ơn khách sạn Bảo Sơn đã nhận tôi vào thực tập, và đã tạo điều kiện để
tôi viết chuyên đề này. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng
dẫn ThS Hoàng Thị Lan Hương đã hướng dẫn tôi hoàn thành bài viết này.
Họ và tên sinh viên:
Phạm Thị Phương
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
L ý do chọn đề tài:
Khách sạn nào cũng muốn thu hút khách đến sử dụng dịch vụ lưu
trú, ăn uống và dịch vụ bổ sung khác của khách sạn mình thật nhiều, và
một trong những giải pháp mà các khách sạn thường sử dụng đó là các giải
pháp Marketing. Hiện nay môi trường cạnh tranh trong du lịch ngày càng
khốc liệt, có rất nhiều khách sạn mới được xây dựng vì thế các khách sạn
luôn luôn đưa ra các chính sách Marketing để thu hút khách sử dụng các
dịch vụ lưu trú, ăn uống, giải trí của khách sạn mình và tăng thị phần của
mình trong thị trường.
Khách sạn Quốc tế Bảo Sơn là khách sạn 4 sao nằm trên đường
Nguyễn Chí Thanh, đây là khách sạn được nhiều người biết đến bởi sự
sang trọng. Khách sạn kinh doanh rất nhiều dịch vụ trong đó có dịch vụ ăn
uống, số lượng khách đến sử dụng dịch vụ rất đông. Hiện nay có rất nhiều
khách sạn ở gần Bảo Sơn cũng kinh doanh dịch vụ ăn uống: Khách sạn
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC GIẢI PHÁP
MARKETING NHẰM THU HÚT THỊ TRƯỜNG KHÁCH SỬ DỤNG
DỊCH VỤ ĂN UỐNG TẠI KHÁCH SẠN BẢO SƠN.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM TĂNG
CƯỜNG THU HÚT THỊ TRƯỜNG KHÁCH SỬ DỤNG DỊCH VỤ ĂN
UỐNG TẠI NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN BẢO SƠN.
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT
1.1. Lý thuyết về kinh doanh khách sạn và kinh doanh ăn uống trong
khách sạn:
1.1.1. Lý thuyết về kinh doanh khách sạn:
1.1.1.1. Khái niệm kinh doanh khách sạn:
Trước khi đi tìm hiểu khái niệm kinh doanh khách sạn, tôi muốn đưa
ra một vấn đề là thuật ngữ “kinh doanh khách sạn” và thuật ngữ “kinh
doanh lưu trú”, dung thuật ngữ nào chuẩn xác nhất cho doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ ngủ nghỉ hay cho doanh nghiệp kinh doanh cả ăn uống, ngủ
nghỉ, vui chơi giải trí…Vâng trong cuốn “giáo trình Kinh tế du lịch” của
nhà xuất bản Lao động-Xã hội cũng có đề cập đến vấn đề này. Đó là nếu
chấp nhận thuật ngữ “kinh doanh khách sạn” sẽ dẫn đến việc bó hẹp phạm
vi của lĩnh vực hoạt động kinh doanh muốn đề cập và khái niệm khách sạn
thường được hiểu từ nghĩa tiếng Anh là Hotel, và như vậy chỉ đề cập được
một loại hình kinh doanh lưu trú. Nếu chấp nhận thuật ngữ “kinh doanh lưu
trú” cũng sẽ dẫn đến việc bó hẹp phạm vi của lĩnh vực hoạt động kinh
doanh muốn đề cập, vì ngoài hoạt động lưu trú ra, trong lĩnh vực kinh
doanh này còn có cả các hoạt động kinh doanh khác như: ăn uống, vui chơi
giải trí, bán hàng cho khách…
Theo tôi được biết nguyên bản tiếng Anh của hoạt động kinh doanh
này là “Hospitality Industry” và có thể được hiểu là ngành khách sạn.
với khách sạn lần đầu để đăng ký buồng cho tới khi tiêu dùng xong và rời
khỏi khách sạn. (theo Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn)
Điều này có nghĩa sản phẩm khách sạn có thể là những vật như bàn
chải đánh răng, xà phòng, giường đệm, phòng ốc, các món ăn, các dịch vụ
giặt là, dịch vụ điện thoại, dịch vụ giải trí, sự phục vụ chu đáo của nhân
viên…Từ đây ta rút ra được rằng:
(
1)
Trang 15, giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn, năm 2004, NXB Lao Động_Xã
Hội
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đứng trên góc độ về hình thức thể hiện thì sản phẩm của khách sạn
bao gồm sản phẩm hàng hóa và sản phẩm dịch vụ.
-Sản phẩm hàng hóa là những sản phẩm hữu hình tức là có hình dạng
cụ thể như: thức ăn, đồ uống, hàng lưu niệm… sau khi trao đổi thì quyền sở
hữu sẽ thuộc về khách hàng.
-Sản phẩm dịch vụ là những sản phẩm vô hình, là những giá trị về
vật chất hoặc tinh thần. Nó gồm 2 loại: dịch vụ chính (dịch vụ buồng ngủ,
và dịch vụ ăn uống) và dịch vụ bổ sung.
Xét trên góc độ các thành phần cấu thành nên sản phẩm dịch vụ
khách sạn thì có bốn loại:
-Phương tiện thực hiện dịch vụ trong hoạt động kinh doanh khách
sạn là các tòa nhà với đầy đủ trang thiết bị tiện nghi.
-Hàng hóa bán kèm là những hàng hóa được khách hàng tiêu thụ
trong thời gian sử dụng dịch vụ của khách sạn như: bàn chải đánh răng, xà
phòng,…
-Dịch vụ hiện là những lợi ích trực tiếp mà khách hàng dễ dàng cảm
nhận được khi tiêu dùng. Ví dụ, có thể là bữa ăn ngon miệng trong không
gian lãng mạn, cũng có thể là căn phòng ấm cúng, tuyệt đẹp…
• Sản phẩm khách sạn có tính cao cấp: Khách đến khách sạn chủ yếu
là khách du lịch, là những người có khả năng thanh toán chi trả cao. Vì thế
yêu cầu đòi hỏi của họ về chất lượng sản phẩm dịch vụ mà họ bỏ tiền ra
mua trong thời gian đi du lịch là rất cao. Vì thế khách sạn cần phải cung
cấp các sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, đẳng cấp.
• Sản phẩm khách sạn có tính tổng hợp cao: Cơ cấu của sản phẩm
khách sạn có nhiều chủng loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt là các dịch vụ bổ
sung để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
• Sản phẩm của khách sạn chỉ được thực hiện với sự tham gia trực tiếp
của khách hàng: Chi khi khách đến thì khách sạn mới có thể cung cấp sản
phẩm dịch vụ cho khách.
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Sản phẩm khách sạn chỉ được thực hiện trong những điều kiện cơ sở
vật chất kỹ thuật nhất định: Để có đủ điều kiện kinh doanh thì các khách
sạn phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất. Nó phụ thuộc vào các
quy định của mỗi quốc gia cho từng loại, hạng khách sạn.
1.1.2. Lý thuyết về kinh doanh ăn uống trong khách sạn:
Khi tìm hiểu về khái niệm kinh doanh ăn uống du lịch ta nên chú ý
đến hoạt động ăn uống công cộng vì chúng có nhiều điểm chung. Ta cần so
sánh hoạt động kinh doanh ăn uống trong du lịch với dịch vụ ăn uống công
cộng. Trước hết cần phải hiểu dịch vụ ăn uống công cộng là gì? Vâng dịch
vụ ăn uống công cộng là dịch vụ có tại các cơ sở ăn uống ở các nhà máy,
trường học, các viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội nhằm phục vụ nhu
cầu tiêu thụ thức ăn, đồ uống tại chỗ cho khách hàng ngay tại cơ sở của
mình, trong dịch vụ kinh doanh ăn uống công cộng thì có sự tham gia của
các quỹ tiêu dùng xã hội để tổ chức và duy trì hoạt động ở các cơ sở này.
Điểm giống nhau của 2 hoạt động này là đều tổ chức chế biến thức
ăn theo hướng chuyên môn hóa cao và đều có hoạt động phục vụ nhu cầu
tiêu thụ thức ăn, đồ uống cho khách tại cơ sở của mình.
nhiệm vụ trao đổi và bán sản phẩm chế biến của mình là các món ăn đồ
uống đã được chế biến sẵn, vận chuyển những hàng hóa này từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu thụ.
Ba là, hoạt động tổ chức phục vụ tức là tạo điều kiện để khách hàng
tiêu thụ thức ăn tại chỗ và cung cấp điều kiện nghỉ ngơi, thư giãn cho
khách. Khách đến khách sạn chủ yếu là người ngoài địa phương, vì thế đòi
hỏi các doanh nghiệp khách sạn phải tổ chức phục vụ ăn uống phù hợp với
tập quán của du khách. Khách từ xa đến nên phải tổ chức ăn uống toàn bộ
cho khách, kể cả các bữa chính, bữa ăn phụ, và đồ uống…
Các hoạt động này có mối quan hệ trực tiếp và phụ thuộc lẫn nhau.
Nếu thiếu một trong ba hoạt động này thì sự liên kết bị phá hủy và nó
không còn mang bản chất là hoạt động kinh doanh ăn uống du lịch nữa. Ví
dụ: Đặc trưng của ngành ăn uống là việc chế biến thức ăn nếu như thiếu
hoạt động chế biến thức ăn thì nó không còn thuộc ngành ăn uống nữa; còn
nếu thiếu hoạt động trao đổi lưu thông thì không còn là hoạt động kinh
doanh nữa mà nó mang tính xã hội. Đặc biệt nếu thiếu chức năng phục vụ
thì nó lại trở thành hoạt động của cửa hàng bán thức ăn sẵn…
Định nghĩa (Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn): Kinh doanh
ăn uống trong du lịch bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn, bán và phục
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống và cung cấp các dịch vụ khác
nhằm thỏa mãn các nhu cầu về ăn uống và giải trí tại các nhà hàng (khách
sạn) cho khách nhằm mục đích có lãi.
(2)
1.2. Thị trường khách của khách sạn và nhà hàng trong khách sạn:
1.2.1. Khái niệm:
Khách của khách sạn là tất cả những ai có nhu cầu tiêu dùng sản
phẩm của khách sạn.
Khách của nhà hàng trong khách sạn là tất cảc những ai có nhu cầu
chia người sử dụng dịch vụ lưu trú, ăn uống, các dịch vụ bổ sung khác
thành từng nhóm dựa trên cơ sở những khác biệt về nhu cầu, mong muốn,
hành vi, tính cách của họ trong qua trình sử dụng các dịch vụ.
1.2.2.2.Các tiêu thức phân loại khách của khách sạn và nhà hàng:
-Căn cứ vào nguồn gốc của khách: Khách là người địa phương,
khách không phải là người địa phương.
-Căn cứ theo tiêu thức địa lý: thị trường khách Châu Âu, thị trường
khách Châu Á, Nam Mỹ…
-Căn cứ theo quốc tịch: Thị trường Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc…
-Căn cứ vào số lượng: Khách lẻ, khách đoàn
-Căn cứ vào mục đích của khách đến tiêu dùng dịch vụ ăn uống:
khách đến nghỉ tại khách sạn, khách lẻ ở ngoài khách sạn vào, khách tiệc
công ty, khách tiệc cưới.
1.2.2.3. Các phương án lựa chọn thị trường mục tiêu trong kinh doanh
khách sạn , nhà hàng:
Thị trường mục tiêu trong kinh doanh khách sạn, nhà hàng được hiểu
là một tập hợp người mua có cùng nhu cầu đòi hỏi hay những đặc tính
giống nhau về dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ sung mà doanh
nghiệp khách sạn có khả năng đáp ứng, đồng thời tạo ra những lợi thế so
sánh cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh và cho phép tối đa hóa các mục
tiêu Marketing đã đặt ra của doanh nghiệp khách sạn.
Trên thực tế, các doanh nghiệp khách sạn có thể lựa chọn thị trường
mục tiêu theo một trong năm phương án sau:
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 1.1: Các phương án lựa chọn thị trường mục tiêu.
M1 M2 M3 M1 M2 M3 M1 M2 M3 M1 M2 M3 M1 M2 M3
P1
P2
P3
trong khách sạn:
1.2.3.1. Khái niệm thị trường khách sử dụng dịch vụ ăn uống trong khách
sạn:
Trong kinh doanh lưu trú khách hàng phần lớn là những người từ các
địa phương khác, các quốc gia khác đến, thì trong lĩnh vực kinh doanh ăn
uống khách hàng lại bao gồm cả những người địa phương.
Như vậy thị trường khách sử dụng dịch vụ ăn uống trong khách sạn
bao gồm những khách du lịch đến từ những nơi khác và khách là những
người dân địa phương, họ đến khách sạn và tiêu dùng sản phẩm ăn uống
của khách sạn.
1.2.3.2. Đặc điểm tiêu dùng của thị trường khách sử dụng dịch vụ ăn
uống trong khách sạn:
Do tính đa dạng về đặc điểm của khách hàng nên khó có thể xác định
được một thể loại khách hàng đặc trưng cho doanh nghiệp kinh doanh ăn
uống mà chỉ có thể xác định được một số loại khách hàng với những nét
đặc trưng nhất định. Đó là tổ hợp của những đặc điểm tâm sinh lý và hành
vi, phản ảnh thói quen trong cuộc sống, thói quen trong tiêu dùng.
Ví dụ: Trung tâm nghiên cứu chuyên nghiệp về ăn uống và công
nghiệp chế biến lương thực thực phẩm tại Pháp (CCA) đã thực hiện nghiên
cứu những loại khách hàng là người Châu Âu. Họ đã xác định được 9 loại
khách hàng khác nhau mà hành vi của họ ảnh hưởng đến sản phẩm ăn
uống:
1. Những người khách không bị dao động, thông thường họ là
những người trên 45 tuổi, có thu nhập khiêm tốn và thường thích ăn uống ở
nhà.
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Những người khách tính toán, phần lớn là những người cao
tuổi, họ thường tiết kiệm và ăn uống cẩn thận, tránh những đồ ăn nhiều
kalo.
tinh khiết của sản phẩm.
Qua đó ta có sơ đồ phân đoạn thị trường như sau:
Sơ đồ 1.2: Phân đoạn thị trường khách của doanh nghiệp kinh
doanh ăn uống.
Ngoài ra đặc điểm tiêu dùng của khách sử dụng dịch vụ ăn uống phụ
thuộc vào các nhân tố như: Quốc tịch, vị trí địa lý, tuổi tác, giới tính, phong
tục,…
Những khách có quốc tịch, vị trí địa lý khác nhau thì cũng có những
đặc điểm tiêu dùng khác nhau. Như những khách ở Châu Âu có đặc điểm
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Những người
quan tâm
đến môi trường
Những
người thích
mới lạ
Những
người
phàm ăn
Những
người
dễ ăn
Những người đặc
biệt quan tâm đến
sức khỏe
Những người
tính toán
Những người
không bị
dao động
nữa mà người ta nghĩ đến việc thỏa mãn các giá trị văn hóa tinh thần. Vì
thế mà các khách sạn nhà hàng cần phải hiểu rõ những nhu cầu của người
tiêu dùng để từ đó đưa ra các giải pháp Marketing thu hút khách đến sử
dụng dịch vụ ăn uống.
Hiện nay cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến, cơ cấu của ngành dịch
vụ đã tăng lên rất nhanh, vì thế nó cũng ảnh hưởng đến việc phát triển kinh
doanh ăn uống.
• Các nhân tố của môi trường chính trị, luật pháp:
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh tới các quyết
định Marketing nhăm thu hút khách đến sử dụng dịch vụ ăn uống của
khách sạn. Môi trường chính trị, luật pháp bao gồm hệ thống luật và các
văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy và
cơ chế điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị-xã hội.
Hệ thống pháp luật ảnh hưởng tới các giải pháp Marketing nhằm thu
hút khách đến sử dụng dịch vụ ăn uống cảu các doanh nghiệp khách sạn.
Hầu hết các nước trên thế giới đều có một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh để
điều chỉnh hành vi kinh doanh, tiêu dùng, quan hệ trao đổi-thương mại…
Việt Nam bước sang nền kinh tế thị trường, hệ thống luật pháp còn thiếu
nhiều. Nhưng trong những năm gần đây, nhà nước đã ban hành nhiều luật,
pháp lệnh… như: Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Du
lịch, nghị định về quảng cáo, nhãn hàng hóa…
Hệ thống công cụ chính sách của nhà nước cũng tác động không nhỏ
tới hoạt động Marketing thu hút khách của các khách sạn. Những công cụ
chính sách cũng có rất nhiều, bao gồm cả những công cụ chính sách chung
cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân và các chính sách đặc thù về từng lĩnh
vực, như: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập…
Tất cả các công cụ đó đều liên quan đến khuyến khách hay hạn chế tiêu
dùng và do đó chúng buộc các doanh nghiệp khách sạn phải tính đến khi
Nhà cung ứng, các trung gian Marketing, khách hàng, đối thủ cạnh tranh,
công chúng trực tiếp.
• Các yếu tố và lực lượng bên trong doanh nghiệp khách sạn như: chất
lượng sản phẩm dịch vụ của khách sạn, giá của sản phẩm dịch vụ, sự phục
vụ của nhân viên khách sạn, các chính sách Marketing…Tất cả các yếu tố
này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thu hút khách của khách sạn.
• Nhà cung ứng của khách sạn như các công ty thực phẩm, các nhà
cung ứng hàng tiêu dùng, cung cấp các trang thiết bị nội thất…Bất kỳ một
sự thay đổi nào từ phía nhà cung ứng, sớm hay muộn, trực tiếp hay gián
tiếp cũng sẽ gây ảnh hưởng tới hoạt động Marketing của khách sạn. Các
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khách sạn cần phải luôn luôn có đủ các thông tin chính xác về tình trạng số
lượng, chất lượng, giá cả…để có những chính sách Marketing phù hợp để
thu hút khách đến sử dụng dịch vụ.
• Các trung gian Marketing của khách sạn là các công ty du lịch, đại lý
lữ hành, các hãng vận chuyển, hãng hàng không…Những trung gian này có
vai trò rất quan trọng giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng. Vì thế
mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách Marketing nhằm thu hút
khách.
• Khách hàng là đối tượng mà khách sạn phục vụ và là yếu tố quyết
định sự thành công hay thất bại của khách sạn. Đây là nhân tố quyết định
tới việc chọn chiến lược Marketing. Căn cứ vào thị trường khách mục tiêu
mà doanh nghiệp sẽ chọn chiến lược giá hay sản phẩm hay chọn cả hai, ròi
chọn kênh phân phối nào và công cụ xúc tiến hỗn hợp nào…
• Đối thủ cạnh tranh: Nhìn chung mọi khách sạn đều phải đối đầu với
các đối thủ cạnh tranh khác nhau. Vì thế các khách sạn cần phải tìm hiểu
đối thủ cạnh tranh để có những giải pháp, hoạt động Marketing cho khách
sạn, giúp khách sạn cạnh tranh được với các khách sạn khác và tăng thị
phần của khách sạn.
Chiến lược phân phối bao gồm nội dung thiết lập kênh phân phối,
kiểu phân phối, địa phương, kho tàng, vận chuyển.
Chiến lược xúc tiến bao gồm các nội dung quảng cáo, tuyên truyền,
quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân, thúc đẩy bán…
Sơ đồ 1.3: Marketing Mix (hỗn hợp)
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn: Philip Kotler, nguyên lý Marketing
Vai trò và chức năng của Marketing trong kinh doanh ăn uống của
khách sạn:
Marketing trong kinh doanh ăn uống có vai trò quan trọng, kinh
doanh ăn uống trong khách sạn là một mảng của hoạt động kinh doanh
khách sạn. Vì vậy ngoài việc tổ chức Marketing chung cho toàn bộ các sản
phẩm của khách sạn thì đối với hoạt động ăn uống cần có các chính sách
riêng, đặc biệt để tạo ấn tượng với khách hàng. Marketing có vai trò liên
kết giữa mong muốn của khách hàng trên thị trường mục tiêu với các
nguồn lực bên trong doanh nghiệp khách sạn. Để thể hiện vai trò này
Marketing có bốn chức năng cơ bản. Thứ nhất, làm cho sản phẩm luôn luôn
thích ứng với thị trường. Thứ hai, định giá bán và điều chỉnh các mức giá
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Marketing Mix
Sản phẩm
Giá cả Xúc
tiến
Phân phối
Thị trường mục tiêu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bán cho phù hợp với quan hệ cung cầu và từng giai đoạn của chu ký sống
sản phẩm. Thứ ba, đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng. Thứ
tư, truyền tin về sản phẩm, thu hút và quyến rũ người tiêu dùng về phía sản
sản phẩm trong kinh doanh ăn uống bao gồm có nhiều yếu tố cấu thành.
Khi thiết kế một sản phẩm trong kinh doanh ăn uống, ngoài việc đưa ra các
ý tưởng chung, thể loại, thứ hạng, quy mô…cần phải xây dựng kế hoạch
chi tiết về thiết kế bên trong, trang trí nội thất của phòng ăn, quần áo đồng
phục của nhân viên, chủng loại các món ăn và sự phân bổ chúng theo thời
gian trong phạm vi một ngày. Đây cũng là các yếu tố cấu thành nên sản
phẩm dịch vụ ăn uống của các khách sạn.
Ngoài ra sản phẩm của kinh doanh ăn uống còn chứa đựng nhiều yếu
tố giống với hàng hóa thiết yếu hàng ngày nên có thể xây dựng kế hoạch
theo nhiều phương án khác nhau, có thể thử được ngoài thị trường để theo
dõi phản ứng của người tiêu dùng. Vì thế sản phẩm trong kinh doanh ăn
uống có tính linh hoạt hơn và dễ quản lý hơn đối với các chuyên gia
marketing, dễ cải tiến, dễ thay đổi bằng sản phẩm mới.
Việc hoàn thiện đa dạng hóa sản phẩm thường được thực hiện bằng
sự thay đổi các món ăn, đồ uống. Còn việc thay đổi sản phẩm đưa ra sản
phẩm mới thường thông qua việc nâng cấp nhà hàng.
- Chiến lược giá:
Việc xác định giá cho một sản phẩm phục thuộc vào nhiều yếu tố
như: Các mục tiêu đặt ra của doanh nghiệp, chi phí cho hoạt động kinh
doanh, thẩm quyền quyết định về giá trong doanh nghiệp, giá của các đối
thủ cạnh tranh, đặc điểm của thị trường cầu…
Có nhiều chiến lược về giá có thể áp dụng cho hoạt đông kinh doanh
ăn uống nó tùy vào từng giai đoạn của sản phẩm. Như với các sản phẩm
hiện tại ta có thể sử dụng chiến lược giá cho gói sản phẩm, các chiến lược
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
điều chỉnh giá: chiết giá vì mua với khối lượng lớn, chiết giá mùa vụ, định
giá phân biệt…định giá theo nguyên tắc tâm lý, định giá khuyến mại, chủ
động thay đổi giá…
Thường thì các khách sạn hay sử dụng các tổng hợp các chiến lược
thức như: trưng bày, triển lãm các món ăn còn phổ biến các hình thức như:
có các món ăn theo ngày, tuần, tháng…Đây vừa là hình thức kích thích tiêu
thụ cho khách sạn vừa là hình thức quảng cáo cho nhà hàng.
Thông thường việc giảm giá được thực hiện trong những trường hợp:
phổ biến một sản phẩm mới, thu hút một đoạn thị trường cụ thể, gia tăng
tiêu thụ đặc biệt khi thị trường có hiện tượng bão hòa.
Thực đơn của nhà hàng cũng là một hình thức quảng cáo hữu hiệu.
thực đơn cần phải được thiết kế khéo léo nhằm đạt được những mục tiêu
Marketing của nhà hàng. Thực tế cho thấy thực đơn ghi trên giấy có nhiều
lợi thế hơn là nếu được ghi trên bảng.
Khách sạn có thể quảng cáo sản phẩm dịch vụ ăn uống qua các tập
gấp, qua các ấn phẩm về du lịch hoặc về ẩm thực.
Lớp Du lịch 46B Đại học Kinh tế quốc dân