Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC SƯ PHạM Hà NộI 2
NGUYễN THI MINH HàI
Tổ CHứC HOạT ĐộNG NHóM
TRONG GIờ LUYệN Từ Và CÂU
CHO HọC SINH LớP 4
Chuyờn ngnh: Giỏo dc hc (Bc Tiu hc)
Mó s: 60 14 01 01
luận VĂN THạC Sĩ KHOA HọC GIáO DụC
Ngi hng dn khoa hc: TS. PHM THU HềA
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong công trình nào khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Minh Hài
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 7
7. Giả thuyết khoa học của đề tài 7
8. Bố cục luận văn 8
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 9
1. Cơ sở lí thuyết 9
1.1.1. Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 9
1.1.2. Hội thoại và tương tác trong hội thoại 9
3.1. Mục đích thử nghiệm 58
3.2. Nội dung thử nghiệm 58
3.3. Đối tƣợng và địa bàn thử nghiệm 58
3.4. Thời gian thử nghiệm 59
3.5. Giáo án thử nghiệm 59
3.6. Kết quả thử nghiệm 74
3.6.1 Kết quả thống kê 74
3.6.2. Nhận xét 75
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
MT : Miêu tả
PP : Phƣơng pháp
SGK : Sách giáo khoa
TLV : Tập làm văn
TV : Tiếng Việt
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, nhằm phát hiện và phát huy các khả năng riêng
biệt của mỗi học sinh, giúp các em định hƣớng, khám phá và phát triển tối đa
năng lực của bản thân, tự giải quyết những vấn đề trong học tập và cuộc sống,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tập trung chỉ đạo đổi mới toàn diện công tác quản
lý nhà trƣờng, tăng cƣờng kiểm tra công tác giảng dạy, cải tiến phƣơng pháp
tu từ. Từ đó, các em có thể trau dồi kĩ năng vận dụng từ ngữ đƣa vào ngữ
cảnh phù hợp, sinh động, có thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu, có ý
thức sử dụng TV văn hoá trong giao tiếp và thích học TV. Tổ chức tốt hoạt
động nhóm trong quá trình học "Luyện từ và câu" sẽ giúp các em phong phú
vốn từ, biết sử dụng từ ngữ phù hợp với các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Các
em chủ động tự tin hơn trong giao tiếp hàng ngày.
Nhƣng làm thế nào để dạy tốt môn Luyện từ và câu lớp 4? Làm thế nào
để gây hƣớng thú đối với các em? Làm thế nào để rèn luyện kỹ năng hoạt
đông nhóm cho HS tiểu học nói chung, HS lớp 4 nói riêng? Đó là một vấn đề
quan trọng đƣợc các nhà giáo dục quan tâm. Là một GV đã trực tiếp giảng
dạy lớp 4 nhiều năm, bản thân tôi rất trăn trở cho chất lƣợng dạy phân môn
Luyện từ và câu nói chung và hiệu quả của hoạt động dạy học theo nhóm
trong phân môn này nói riêng. Vì thế, tôi quyết định chọn vấn đề “Tổ chức
hoạt động nhóm trong giờ Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Dạy học theo nhóm là một trong những hình thức dạy học hợp tác. Đây
không phải là hình thức dạy học mới xuất hiện gần đây, mà nó đƣợc hình
3
thành từ một tƣ tƣởng dạy học có từ lâu trên thế giới. Đó là tất cả cùng làm
việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạt đƣợc mục đích cuối cùng.
Những năm gần đây, vấn đề dạy học “Hợp tác nhóm” ở trƣờng học phổ
thông nói chung và tiểu học nói riêng đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm. Có
thể chia các công trình nghiên cứu theo hai hƣớng chính sau:
Hướng thứ nhất: nghiên cứu hoạt động dạy học theo nhóm trong tất
cả các môn học nói chung.
Một số công trình nghiên cứu về học tập theo nhóm có thể kể đến một
số tác giả sau:
- J. Dewey khi nghiên cứu về học tập theo nhóm ông đã cho rằng: chỉ
có làm việc chung mới giúp cho HS có thói quen trao đổi những kinh nghiệm
- Năm 2007, khi nghiên cứu về phƣơng pháp dạy học, chƣơng trình
SGK, Trần Bá Hoành (2007) Đổi mới phƣơng pháp dạy học, chƣơng trình và
sách giáo khoa Nxb Đại học Sƣ pham, Hà Nội có đƣa ra phƣơng pháp dạy
học tích cực lấy HS làm trung tâm trong đó dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ.
- Trong cuốn Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy
học (dự án Việt- Bỉ), Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) (2010), Nxb Đại học Sƣ
phạm, Hà Nội đã đề cập phƣơng pháp làm việc nhóm.Tác giả đã nói rõ các
bƣớc hoạt động nhóm, nguyên tác chọn nhóm vá cách tổ chức làm việc nhóm,
cách tổ chức dạy học theo nhóm nhƣ thể nào cho đạt hiệu quả. Ngoài ra còn
có một số tác giả khác với các công trình nghiên cứu về hoạt động hợp tác
trong dạy học nhƣ: Đặng Thành Hƣng (2008), Tương tác hoạt động thầy - trò
trên lớp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, Nguyễn Thành Kính (2009) Dạy học
5
hợp tác và vấn đề xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, Tạp chí
Giáo dục (218).
Nhìn chung các công trình nêu trên ở các phƣơng diện khác nhau đã đề
cập đến những vấn đề thuộc về khái niệm, nguyên tắc chon nhóm, ƣu nhƣợc
của hoạt động nhóm. Đây chính là những định hƣớng lí thuyết để chúng tôi áp
dụng tổ chức hoạt động nhóm trong một phân môn cụ thể.
Hướng thứ hai: Nghiên cứu hoạt động nhóm trong tổ chức dạy học
tiếng Việt và phân môn Luyện từ và câu.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo trong Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu
học (dự án Phát triển GV tiểu học) đã đề cập tới các phƣơng pháp dạy học
phát huy tính tích cực của HS trong dạy học tất cả các môn. Trong phƣơng
pháp thực hành giao tiếp (phần dạy học Luyện từ và câu), hoạt động học tập
theo nhóm đƣợc coi là hình thức học tập có ƣu thế lớn để HS chủ động, tự tin
rèn luyện năng lực giao tiếp.
Tuy nhiên do mục đích của tài liệu là “nhằm cung cấp cho GV và cán
bộ quản lí giáo dục tiểu học ở các cơ quan quản lí giáo dục. Các trƣờng tiểu
học những kiến thức và kĩ năng về đổi mới PPDH nói chung, về PPDH các
Điểm qua các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc, chúng tôi
thấy: dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm không phải là vấn đề mới mẻ.
Nhƣng xem xét tổ chức hoạt động nhóm trong phân môn Luyện từ và câu ở
một khối lớp thì chƣa có công trình nào đi sâu. Đề tài của chúng tôi đi tiếp
khoảng trống còn bỏ ngỏ đó.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động tổ chức dạy học theo nhóm trong giờ học Luyện
từ và câu, chúng tôi nhằm mục đích tích cực hoá hoạt động giao tiếp của HS
7
trong giờ học TV để mỗi HS ngoài việc đƣợc bộc lộ năng lực của mình còn có
kĩ năng giao tiếp hợp tác với bạn bè để hòa nhập cùng phát triển.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn phải thực hiện nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tổng hợp những vấn đề lí luận và thực tiễn để xây dựng đƣợc cơ sở lí
luận cho đề tài.
- Tìm ra đƣợc các biện pháp tổ chức hoạt động nhóm thích hợp với
phân môn Luyện từ và câu đồng thời xác định từng kiểu bài, từng bài cụ thể
trong phân môn này có cách thực hiện quy trình dạy học theo nhóm khác
nhau nhƣ thế nào để từ đó phát huy đƣợc tính tích cực của từng thành viên
trong nhóm và nâng cao hiệu quả dạy học.
- Tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất
mà luận văn đã tìm ra.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức hoạt động nhóm trong giờ Luyện
từ và câu lớp 4.
5.2. Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức hoạt động theo nhóm trong giờ
Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 ở Trƣờng Tiểu học Ngọc Thanh A và
Trƣờng Tiểu học Xuân Hoà, Phúc Yên, Vĩnh Phúc.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết.
là một trong những hình thức dạy học TV theo quan điểm giao tiếp nhằm phát
triển tối đa năng lực giao tiếp cho ngƣời học.
1.1.1. Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Trong ngôn ngữ học, giao tiếp đƣợc khẳng định là một chức năng xã
hội cơ bản của ngôn ngữ. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu “giao tiếp là một hoạt
động liên cá nhân, có chức năng truyền đạt những thông tin về sự vật, hiện
tƣợng của thực tế (thông tin miêu tả hay thông tin sự vật) nhằm tạo ra những
biến đổi trong tình cảm, trạng thái tâm lí và hoạt động giữa những ngƣời tham
gia giao tiếp (thông tin liên cá nhân hay thông tin tác động). Nó cũng là nơi
con ngƣời bộc lộ chính mình. Mỗi chức năng trên của giao tiếp đòi hỏi phải
có một loại tín hiệu thích hợp với nó[7, tr.255].
Quan điểm giao tiếp chi phối đến toàn bộ quá trình dạy học TV ở tiểu học:
từ việc xác định mục tiêu môn học, xây dựng chƣơng trình, viết SGK, viết các
tài liệu hƣớng dẫn giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS.
Trong quá trình dạy học TV theo quan điểm giao tiếp, ngƣời học đƣợc
khuyến khích thực hành giao tiếp, tham gia vào các tình huống hội thoại đa
dạng sinh động càng nhiều càng tốt.
1.1.2. Hội thoại và tương tác trong hội thoại
Các vấn đề về hội thoại và tƣơng tác trong hội thoại, chúng tôi dựa
vào quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu trình bày trong Đại cƣơng ngôn
10
ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007. Sau đây là những nội dung cơ
bản của lí thuyết này.
a) Khái niệm hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thƣờng xuyên, căn bản, phổ biến của
ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Các
hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều đƣợc giải thích dựa vào hình
thức hoạt động căn bản này
b) Tương tác trong hội thoại
- Khái niệm: Sự tƣơng tác là hiện tƣợng các thoại nhân ảnh hƣởng lẫn
những HS yếu kém này có cơ hội đƣợc học tập ở những bạn giỏi hơn và những
HS khá, giỏi không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của mình mà còn phải giúp đỡ các
bạn yếu hơn hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Hình thành cho các em tình thần tự
chủ, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ nhau trong học tập và hoạt động.
- Học tập theo nhóm giúp HS phát triển năng lực xã hội. giúp HS phát
triển kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thảo luận, kỹ năng
bảo vệ ý kiến, kỹ năng giải quyết mâu thuẫ. v.v. Học tập theo nhóm giúp những
HS nhút nhát, thiếu tự tin, năng động, mạnh dạn hơn trƣớc tập thể.
Học tập theo nhóm giúp HS phát triển năng lực hoạt động. HS có cơ
hội phát huy kỹ năng sáng tạo, đánh giá, tổng hợp, phân tích, so sánh… HS
biết giải quyết các vấn đề và tình huống, trong học tập một cách phù hợp, hiệu
quả và sáng tạo và từ những vấn đề tình huống đó HS sẽ rút ra đƣợc những
kinh nghiệm, bài học quý giá cho bản thân.
Theo A.T.Francisco (1993): “Học tập nhóm là một phƣơng pháp học
tập mà theo phƣơng pháp đó học viên trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và hợp tác
với nhau trong học tập”.
Hoạt động dạy học theo nhóm là hoạt động trong đó GV tổ chức cho HS
hoạt động hợp tác với nhau trong các nhóm nhằm đạt đƣợc mục tiêu học tập.
12
Tính hợp tác là đặc điểm nổi trội của hoạt động nhóm.
1.1.3.3. Các tiêu chí phân loại nhóm
Cách chía nhóm trong học tập tại lớp sao cho thích hợp và đạt hiệu quả
cao cần phải đảm bảo các tiêu chí sau:
- Thành lập nhóm học tập phải phù hợp với từng môn học, từng
chƣơng, từng chủ đề, phù hợp với trình độ học lực và các điều kiện thực tế
khác. Vấn đề số lƣợng các thành viên trong nhóm, cách sắp xếp, phân bố vị trí
chỗ ngồi của các thành viên, khoảng cách giữa GV và HS, giữa các nhóm với
nhau… ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả của dạy học theo nhóm.
- Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ và nội dung của một cuộc thảo luận
học tập tại lớp. Lập kế hoạch bài học sao cho nội dung thảo luận tại lớp có
đƣợc yêu cầu trình bày cho HS theo hƣớng thực hành phục vụ các mục đích giao
tiếp hơn là những kiến thức phân loại hàn lâm. Vì thế việc chia nhóm nên nhỏ
gọn, HS trao đổi trong nhóm 2, hoặc tối đa là 3 nếu HS ngồi bàn 3.
Ví dụ : Khi dạy HS có kiến thức sơ giản về danh từ chung và danh từ
riêng, GV có thể cho HS hoạt động nhóm ngay khi làm các bài tập trong mục
I Nhận xét. Nhiệm vụ của các bài tập này nhằm giúp HS hiểu: danh từ chung
là tên của một loại sự vật. Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật. Danh từ
riêng luôn luôn đƣợc viết hoa. Việc chia nhóm hai rất thuận lợi để GV tổ chức
hoạt động nhóm trong hình thức trò chơi nhanh, đơn giản. (Ví dụ: một HS là
danh từ chung, một HS là danh từ riêng. Cô giáo chỉ vào HS là danh từ chung,
em đó phải nói đƣợc: “em là tên của một loại sự vật”, chỉ vào HS là danh từ
riêng, em đó nói nhanh: “em là tên riêng của một sự vật, tên em phải viết
hoa”…).
Tƣơng tự, khi GV hƣớng dẫn HS làm bài tập trong mục I Nhận xét, bài
Động từ nên chia nhóm hai, bài Tính từ nên chia nhóm 3.
14
Với các bài học về câu, HS đƣợc rèn luyện năng lực sử dụng các kiểu
câu theo các tình huống giao tiếp cho phù hợp và lịch sự, vì thế việc phân chia
các nhóm cần căn cứ vào nhiệm vụ học tập, vào ngữ cảnh giao tiếp phù hợp
với mỗi dạng bài tập. Ví dụ khi dạy bài Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu,
đề nghị hoặc bài Cách đặt câu khiến, để nhiều HS đặt đƣợc các câu cầu khiến
phù hợp với các tình huống và đảm bảo phép lịch sự GV nên lựa chọn hình
thức nhóm 4 hoặc 6. Các em sẽ thảo luận trong nhóm, nêu tình huống, đặt các
câu khác nhau. Hình thức nhóm này giúp các em học tập đƣợc nhiều mẫu câu
của nhau.
b) Hình thức nhóm phụ thuộc vào biện pháp nhóm mà GV chọn
- Biện pháp “nhóm đôi” cần 2 thành viên; biện pháp nhóm “vòng tròn”
cần 4 - 5 HS, biện pháp “phòng tranh” cần 4 đến 8 thành viên.
- Biện pháp “nhóm vòng tròn” cần từ 4 đến 6 HS.
c) Hình thành nhóm theo vị trí không gian
sách HS đã đƣợc xếp từ yếu, trung bình đến khá giỏi mà chia nhóm sao cho
các nhóm có các trình độ yếu , trung bình khá giỏi tƣơng đƣơng nhau.Tránh
trƣờng hợp nhóm toàn nam hoặc toàn nữ và cũng không nên để các em không
hợp nhau ở cùng một nhóm.
* Khi sắp xếp nhóm làm việc GV cần cân nhắc những điều sau:
- Nhóm đồng nhất hay nhóm đa dạng: Nhóm đồng nhất có thể đƣợc tổ
chức với mục tiêu cung cấp một vài những kĩ năng đáp ứng với mục tiêu
chuyên biệt nào đó. Kinh nghiệm chỉ ra rằng nhóm hoạt động có kết quả là
nhóm có các thành phần với năng lực đa dạng: trình độ nhận thức cao, trung
bình và yếu; đa dạng về thành phần xuất thân, điều kiện kinh tế, điều kiện môi
trƣờng sống. Nói cách khác phải có cả giỏi, yếu, khá, với nhóm nhƣ vậy,
mỗi vấn đề cần giải quyết sẽ chứa đựng sự cân nhắc toàn diện hơn.
16
- Là ai chọn, HS chọn hay GV chọn? Nếu để HS tự chọn, thông thƣờng
chúng sẽ chọn những bạn có cùng trình độ nhận thức hoặc hoàn cảnh kinh tế,
nhận thức xã hội vào nhóm của mình. Nhƣ vậy là nhóm sẽ không thuần khiết,
hiệu quả hợp tác sẽ không cao. Do vậy GV cần lựa chọn cho các em. Tuy
nhiên cũng cần cân nhắc ý kiến của các em. Có thể tiến hành nhƣ sau: cho hai
em hợp nhau vào cũng một nhóm bằng cách yêu cầu các em đề tên 3 bạn
mình thích vào nhóm của mình. Từ danh sách 3 HS này, GV có thể bổ sung
thêm sao cho nhóm phải là nhóm đa dạng.
Thời gian duy trì nhóm sao cho các thành viên trong nhóm đủ để hiểu
nhau và có đƣợc những kĩ năng cần thiết nhất định, nhƣng cũng không nên để
nhóm quá hiểu nhau dễ sinh ra tình trạng trì trệ, thiếu năng động dựa dẫm vào
nhau. Do vậy GV cần tạo ra nhóm mới. Ngoài ra, khi các nhóm cũ có vấn đề
và hoạt động kém hiệu quả thì GV cũng cần cân nhắc tạo ra nhóm mới. Nếu
không lập ra nhóm mới HS sẽ không đƣợc học các kĩ năng cần thiết cho việc
giải quyết vấn đề, trong quá trình hợp tác với bạn bè. Việc HS đƣợc hợp tác
cùng nhóm với tất cả các bạn trong một lớp, sau một kì học hay năm học là
điều hết sức có ý nghĩa. Nó giúp cho công việc xây dựng trong các em cảm
giống nhƣ một phòng tranh. Cả nhóm tham quan “phòng tranh”, lần lƣợt nghe
tác giả từng bức tranh giới thiệu rồi cùng trao đổi, thống nhất ý kiến.ý kiến
của mình
+ Biện pháp “ XYZ”
“XYZ” là một kĩ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận
nhóm. X là số thành viên trong nhóm,Y là số ý kiến mỗi ngƣời cần đƣa ra, Z
là thời gian tính bằng phút cho mỗi thành viên. Chẳng hạn, nếu XYZ là 522
thì hoạt động nhóm diễn ra nhƣ sau:
18
Mỗi nhóm 5 HS, mỗi HS viết 2 ý kiến trên một tờ giấy trong 2 phút.Về
cách giải quyết một vấn đề, chuyển cho bạn bên cạnh, tiếp tục cho đến hết
thành viên trong nhóm là vừa 10 phút. Nhóm trƣởng tổ chức thảo luận đánh
giá các ý kiến.
+ Biện pháp “mảnh ghép”
“Mảnh ghép” là biện pháp tổ chức hoạt động hợp tác liên nhóm. Mỗi
nhóm đƣợc giao một nhiệm vu riêng và sau khi hoàn thành sẽ cử đại diện
cùng các đại diện nhóm khác lập thành nhóm ghép để giải quyết toàn bộ
nhiệm vụ.
Biện pháp mảnh ghép đƣợc thực hiện qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1, nhóm chuyên sâu làm việc
Giai đoạn 2, nhóm ghép làm việc
Sơ đồ kĩ thuật “mảnh ghép” + Biện pháp “nhóm tranh luận”
Áp dụng biện pháp nhóm tranh luận là tổ chức những nhóm có quan
điểm đối lập nhau, hoặc khác nhau ở mức độ nhất định để cùng cùng xem xét
,một vấn đề với cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn.
Giai đoạn1 (…) B A
Nhóm chuyên
nhóm trao đổi thảo luận; mỗi nhóm cử đại diện trình bày quan điểm của nhóm
mình và phản bác quan điểm của nhóm khác ; cả lớp thảo luận, thống nhất ý
kiến.
+ Biện pháp “ổ bi”
Là cách tổ chức hoạt động liên nhóm theo hình thức: HS đƣợc chia
thành 2 nhóm ngồi thành hai vòng tròn đồng tâm nhƣ hai vòng của một ổ bi
và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể lần lƣợt nói chuyện với
các HS khác.
+ Biện pháp “bể cá”
“Bể cá” là hình thức hoạt động kết hợp thảo luận nhóm với đánh giá về
hoạt động ấy. Một nhóm HS ngồi giữa lớp thảo luận với nhau, còn những HS
khác ngồi xung quanh theo dõi cuộc thảo luận và đánh giá nhận xét. Cuộc
thảo luận khi nó kết thúc.
Trong quá trình thảo luận, ngƣời quan sát và ngƣời thảo luận sẽ thay
đổi vai trò cho nhau.
Biện pháp chỉ giống nhƣ một định hƣớng theo khuôn mẫu cái quan
trọng ở đây chính là vai trò của ngƣời GV. Trong dạy học hiện đại, đặc biệt
với dạy học bằng cách chia nhóm tại lớp, vai trò cua ngƣời GV hết sức quan
trọng. GV không còn là ngƣời truyền đạt những kiến thức có sẵn, cung cấp
chân lí có sẵn mà vừa là ngƣời tổ chức, định hƣớng, hƣớng dẫn. GV vừa là
ngƣời nghe, là ngƣời phân xử, ngƣời cố vấn, động viên, cổ vũ hoạt động của
các nhóm. GV làm việc theo nguyên tắc dân chủ, hợp tác, tƣơng trợ và tôn
trọng lẫn nhau. Ngƣời GV phải làm sao tạo những điều kiện thuận lợi nhất để
học tập trong nhóm, giúp họ cảm thấy tự tin phát huy cao năng lực, trí tuệ của
mình nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập. GV phải biết cách đặt ra vấn đề,