M U
Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng
quát của chiến lợc kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "Đa đất nớc ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của
nhân dân, tạo nền tảng đ đến 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp
hoá theo hớng hiện đại hoá".
Để đạt đợc các mục tiêu trên, giáo dục và khoa học - công nghệ có vai
trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết. Yêu cầu về con ngời
và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nớc trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo
dục, thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, lao động.
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận quan trọng không thể thiếu đợc
trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nớc, nhằm bồi dỡng
và phát huy nhân tố con ngời, trớc hết là nâng cao sức khoẻ và thể lực, góp phần
giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh. Hoạt động TDTT tạo cho con
ngời có vóc dáng khoẻ mạnh, tinh thần sảng khoái, chống mệt mỏi, bệnh tật và
tạo sự hăng hái cho ngời tập.
Với Trờng Đại học TDTT Bắc Ninh, việc đẩy mạnh và nâng cao chất l-
ợng sinh viên là nhiệm vụ chính trị quan trọng và cấp bách nhất của nhà trờng
nói chung và của các môn học nói riêng, trong đó có môn bóng chuyền. Bóng
chuyền là môn thể thao đợc Tổng cục TDTT rất quan tâm và phát triển cùng với
các môn khác. Bóng chuyền là môn thể thao ra đời ở Mỹ. Nó là môn thể thao
đồng đội đối kháng đòi hỏi VĐV phải hoạt động với cờng độ lớn, có thể lực tốt,
khéo léo và linh hoạt, có tinh thần tập thể cao và chịu sự căng thẳng của thần
kinh. Chính điều này đã giúp cho ngời tham gia tập luyện có một cơ thể khoẻ
mạnh, phản xạ nhanh nhẹn, tâm lý vững vàng, tính kỷ lụât cao. ở nớc ta, môn
bóng chuyền bắt đầu xuất hiện từ những năm 1922, mặc dù phải trải qua những
thăng trầm của lịch sử nhng nó không ngừng duy trì củng cố và phát triển.
Những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch môn
Bóng chuyền của nớc ta cũng có vị trí ở trong khu vực nhng so với các nớc trên
1
2
đối với kết quả học tập môn chuyên sâu bóng chuyền trong nhà trờng nh thế
nào? Đó là những vấn đề chúng tôi cần quan tâm.
Xuất phát từ những suy nghĩ trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu ảnh hởng của giờ học ngoại đến chất lợng học tập chuyên
môn đối với sinh viên chuyên sâu bóng chuyền khóa 45 khoa huấn luyện trờng
Đại học TDTT Bắc Ninh"
Mục đích nghiên cứu.
Đề tài tiến hành với mục đích là tìm hiểu ảnh hởng của vấn đề tập luyện
ngoại khóa đối với kết quả học tập môn bóng chuyền của sinh viên chuyên sâu
trong nhà trờng nhằm đánh giá cũng nh nâng cao chất lợng học tập chuyên môn
cho các sinh viên chuyên sâu.
Mục tiêu nghiên cứu
Để thực hiện đề tài cũng nh mục đích nêu trên cần xác định và giải quyết
hai mục tiêu nghiên cứu:
1. Tìm hiểu thực trạng việc tập luyện ngoại khóa đối với sinh viên
chuyên sâu bóng chuyền khóa 45 khoa huấn luyện trờng Đại học TDTT Bắc
Ninh.
2. Nghiên cứu ảnh hởng của giờ học ngoại khóa đến kết quả học tập
chuyên môn đối với sinh viên chuyên sâu bóng chuyền khoá 45 khoa huấn luyện
trờng Đại học TDTT Bắc Ninh.
Đối tợng nghiên cứu
Sinh viên chuyên sâu bóng chuyền khoá 45 khoa huấn luyện trờng Đại
học TDTT Bắc Ninh.
Phạm vi nghiên cứu.
Trờng Đại học TDTT Bắc Ninh, Từ Sơn, Bắc Ninh.
3
Chơng 1
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nc đối với công tác giáo dục thể chất
- Phát triển TDTT là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các
đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, là nhân viên của toàn xã hội. Trong đó,
ngành TDTT giữ vai trò nòng cốt. Xã hội hoá tổ chức hoạt động TDTT dới sự
quản lý thống nhất của Nhà nớc.
- Mở rộng giao lu và hợp tác quốc tế về TDTT phục vụ cho sự phát triển
TDTT của đất nớc, tăng cờng tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân
ta và nhân dân các nớc.
Mục tiêu cơ bản và lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT
phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn
hoá, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt đợc vị trí xứng đáng trong các hoạt
động thể thao quốc tế, trớc hết là ở khu vực Đông Nam á.
Trong chỉ thị 36 CT/TW Ban Bí th khẳng định rõ về hoạt động giáo dục thể chất:
- Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trờng học. Làm cho việc
tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên,
thanh niên, chiến sĩ, các lực lợng vũ trang, cán bộ, công nhân viên chức và một
bộ phận nhân dân.
- Hình thành hệ thống đào tạo tài năng thể thao quốc gia. Đào tạo đợc
một lực lợng VĐV trẻ, có khả năng nhanh chóng tiếp cận các thành tựu thể thao
tiên tiến của thế giới. Tham gia và đạt kết quả ngày càng cao trong các hoạt động
thể thao khu vực Châu á và thế giới trớc hết ở các môn thể thao mà ta có nhiều khả
năng.
- Kiện toàn hệ thống đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, huấn
luyện viên, giáo viên TDTT. Kiện toàn tổ chức ngành TDTT các cấp. Nâng cấp,
xây dựng mới và hiện đại hoá một số cơ sở vật chất, kỹ thuật TDTT; hình thành
5
các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng khoa học, y học TDTT, tạo điều kiện cho sự phát
triển mạnh mẽ nền TDTT Việt Nam vào thế kỷ XXI.
Chỉ thị 17 CT/TW Ban Bí th ngày 23/10/2002 Công tác TDTT phải góp
phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và
mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nớc, trớc hết là góp phần nâng cao sức khoẻ,
phải hành động xuất phát từ các luận điểm cơ bản đã đợc thử thách bằng toàn bộ
kinh nghiệm giáo dục của xã hội. Những luận điểm hình thành trên cơ sở nhận
thức đợc các quy luật của thực tiễn giáo dục nh một sự hớng dẫn chung đối với
các hoạt động.
Trong các hoạt động ngoại khóa, chúng ta phải thờng xuyên vận dụng
tổng hợp và riêng lẻ một số nguyên tắc về mặt phơng pháp của giáo dục thể
chất sau:
1.3.1. Nguyên tắc tự giác tích cực:
Nguyên tắc này hớng tới việc tạo cho sinh viên phấn khởi, tự giác say mê
tập luyện, có động lực, có quyết tâm rèn luyện, phấn đấu.
Theo các nhà tâm lý học, tính tự giác, tích cực bắt nguồn từ nhu cầu và
hứng thú. Nhu cầu có vai trò là động lực của hoạt động tích cực. Khi không còn
nhu cầu thì hoạt động tích cực sẽ suy giảm.
Hứng thú của con ngời có thể là ngẫu hứng trớc hình thể đẹp, động tác
hấp dẫn, ham thích tự nhiên môn tập nào đó.
Hứng thú tự nhiên nếu gặp hoàn cảnh thích hợp, đạt đợc mong muốn của
cá nhân thì có thể đợc kéo dài thời gian. Ngợc lại nếu gặp hoàn cảnh khó khăn,
động tác khó thực hiện, nguy hiểm hay bị tai nạn thì sự hứng thú dễ bị mất đi.
Còn nhu cầu là do xác định trách nhiệm học tập. Học để nâng cao thể lực
cho bản thân, học để hiểu đợc bản chất xã hội của TDTT để phát triển cơ thể cân
đối, để chuẩn bị cho lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.
Nguyên tắc tự giác tích cực còn đòi hỏi làm cho ngời tập nhận thức đợc ý
nghĩa cụ thể của môn học, các nhiệm vụ cần đợc thực hiện. Nêu rõ đợc bản chất
các nhiệm vụ, ý nghĩa là chứng minh đợc sự cần thiết của nhiệm vụ đó nh là một
7
trong các bớc tuần tự trên con đờng đạt đợc mục đích đã định đồng thời xây
dựng đợc nhận thức về các quy luật và các điều kiện quyết định đối với việc thực
hiện các nhiệm vụ đó.
Bên cạnh sự hăng say, tự giác tích cực của các sinh viên thì giáo viên,
ngời dạy cũng đóng góp một vai trò quan trọng. Nếu ngời thầy giáo cha thật say
kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo khác. Do vậy, việc xây dựng biểu tợng chính xác
cho sinh viên để bớc vào tập luyện kỹ thuật là hết sức quan trọng.
1.3.3. Nguyên tắc vừa sức cá biệt hoá:
Mỗi ngời lại có sự khác nhau căn bản về thể trạng, chiều cao, cân nặng,
mức độ tiếp thu kỹ thuật, động tác và khả năng hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo trong
từng động tác. Hiểu đợc nguyên tắc này, các sinh viên có thể tự xây dựng cho
mình hay nói đúng hơn là lựa chọn cho mình các hình thức tập luyện phù hợp với
bản thân, tránh đợc những sai lầm, thất bại trong tập luyện cũng nh trong
thi đấu.
Bóng chuyền là môn thể thao đòi hỏi cao về sức bật giậm nhảy. Tuy
nhiên, bên cạnh đó sự khéo léo trong xử lý tình huống cũng nh sự linh hoạt trong
các tình huống cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nhận thấy bản thân
phù hợp với hình thức nào để có hiệu quả nhất điều đó mới đem lại hiệu quả.
1.3.4. Nguyên tắc hệ thống:
Yêu cầu ngời học phải học thng xuyên, liên tục, có kế hoạch, chơng
trình tập luyện rõ ràng, cụ thể (ít nhất phải tập từ 2 -3 buổi trở lên trong 1 tuần).
Cần tập luyện liên tục vì những biến đổi về chức năng và cấu trúc đã xảy ra trong
cơ thể trong thời gian luyện tập và do kết quả các bài tập có thể phát triển ngợc
lại trong trờng hợp ngừng tập luyện. Ngời ta đã chứng minh đợc chỉ cần ngừng
tập luyện trong một thời gian tơng đối ngắn (5 - 7 ngày) là những mối liên hệ
phản xạ có điều kiện vừa xuất hiện đã bị tắt, mức độ phát triển các khả năng,
chức năng vừa đạt đợc đã bắt đầu bị giảm và ngay cả một số chỉ tiêu về thể hình
cũng bắt đầu bị tụt xuống.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của việc tập luyện, không bị mất đi những
kết quả đạt đợc, điều đơn giản là phải tập luyện liên tục, thờng xuyên.
Cần phải tập luyện có hệ thống vì trong quá trình ấy ngoài việc không
cho phép nghỉ dừng làm tiêu hao mất hiệu quả tốt qua tập luyện, còn phải xuất
9
phát từ yêu cầu hiệu quả của mỗi buổi tập. Kết quả là hiệu quả của một số buổi
tập dờng nh đợc cộng gộp lại, làm xuất hiện hiệu quả tích luỹ của cả một hệ
biến động thích nghi, là cái cho phép nâng trình độ huấn luyện lên một trình độ
mới cao hơn.
1.3.6. Mối quan hệ lẫn nhau của các nguyên tắc về mặt phơng pháp:
Khi phân tích các điều nói trên về mặt nguyên tắc giáo dục thể chất ta dễ
dàng nhận thấy rằng nội dung của chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau tới mức
các bộ phận có thể trùng nhau. Điều đó không có gì ngạc nhiên bởi vì tất cả các
nguyên tắc đó phản ánh các mặt riêng lẻ và các quy luật của cùng một quá trình
mà về bản chất là thống nhất và chỉ trình bày có tính quy ớc thành các nguyên
tắc riêng lẻ mà thôi.
Nguyên tắc tự giác và tích cực là tiền đề chung để thực hiện tất cả các
nguyên tắc khác của giáo dục thể chất. Bởi vì thái độ tự giác và tích cực của ngời
tập đối với công việc sẽ quyết định đến tính thích hợp của tài liệu học tập, tính
bền vững của các kiến thức, kỹ năng kỹ xảo đã tiếp thu đợc, mối liên hệ giữa cái
trớc và cái tiếp theo, cách thức đề ra mục tiêu tiến bộ tiếp theo.
Mặt khác hoạt động tích cực của ngời tập chỉ đợc coi là tự giác thực sự,
chỉ đạt đợc mục đích đã khẳng định, khi nó phối hợp đợc các yêu cầu xuất phát
từ các nguyên tắc trực quan, thích hợp, cá biệt hoá, hệ thống, tăng tiến. Mối liên
hệ nh thế cũng hợp nhất các nguyên tắc khác. Chẳng hạn nếu không tính toán
đến nguyên tắc thích hợp và cá biệt hoá thì không thể lựa chọn đợc tuần tự hợp
lý, cũng không thể tăng tiến đợc LVĐ. Về phần mình các ranh giới của tính
thích hợp cũng mở rộng trên cơ sở thực hiện các nguyên tắc hệ thống và tăng
tiến.
Nh vậy rõ ràng không nguyên tắc nào lại có thể thực hiện đầy đủ mà loại
trừ các nguyên tắc khác. Chỉ có trên cơ sở thống nhất các nguyên tắc thì mới có
thể đạt đợc hiệu quả lớn nhất của từng nguyên tắc một.
11
1.4. Vai trò của tập luyện ngoại khóa tới kết quả học tập môn chuyên sâu
bóng chuyền.
Đối với mỗi ngời để đạt đến một trình độ nhất định đều phải trải qua một
xác, phục vụ cho quá trình nghiên cứu của đề tài.
2.1.3 Phơng pháp phỏng vấn.
Ngoài phơng pháp quan sát, chúng tôi còn tiến hành sử dụng phơng pháp
phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn gián tiếp thông qua phiếu phỏng vấn (ở phần
phụ lục của đề tài). Nội dung của phiếu phỏng vấn bao gồm: những nhận thức và
động cơ học tập ngoại khóa của các sinh viên, thời gian ngoại khóa cũng nh nội
dung ngoại khóa, những điều kiện chủ quan và khách quan ảnh hởng trực tiếp
đến thời gian, chất lợng của giờ ngoại khóa mà họ tiến hành nhằm nâng cao độ
tin cậy của thông tin sử dụng trong đề tài.
13
2.1.4. Phơng pháp toán học thống kê.
Đợc sử dụng ở giai đoạn cuối của quá trình nghiên cứu nhằm xử lý số
liệu đã thu thập đợc thông qua các công thức sau:
n
X
n
XXXX
X
i
n
=
++++
=
321
Công thức so sánh các tỷ lệ quan sát:
( )
ngời giam gia, nội dung tập luyện, thời gian ngoại khóa Điều đó có ảnh hởng
trực tiếp đến kết quả học tập chuyên môn của sinh viên chuyên sâu. Chính vì thế
ngời giáo viên phải thực sự đóng vai trò chủ đạo trong đánh giá và uốn nắn hoạt
động của ngời tập, xây dựng tinh thần tự giác, tích cực trong sinh viên, hớng họ
vào các hoạt động có ích. Bóng chuyền là môn thể thao mang tính đối kháng
không trực tiếp, thể hiện cao về tinh thần tập thể, khả năng phố hợp khéo léo, hài
hoà của từng cá nhân. Qua hoạt động học tập và thi đấu ta có thể nhận thấy
ngoài việc không ngừng phát triển các chiến thuật, kỹ thuật, các yếu tố về tâm
sinh lý, thể lực còn phải nâng cao hiệu quả trong các tình huống tấn công và
phòng thủ. Các giờ chính khoá chỉ trang bị cho sinh viên những kiến thức ở mức
độ rất cơ bản, việc vận dụng thành thạo kiến thức ấy trong thực tiễn tập luyện và
thi đấu đòi hỏi phải có một quá trình tập luyện lâu dài mới mang lại hiệu quả.
Muốn vậy không còn con đờng nào khác chính là phải thờng xuyên tập luyện
thêm vào các giờ ngoại khóa, không ngừng củng cố, hoàn thiện những kỹ năng
đã học, trang bị tri thức chuyên môn phục vụ công tác sau này.
Tinh thần tự giác, tích cực chính là nền tảng, là động lực quan trọng thúc
đẩy việc học tập ngoại khóa của các sinh viên nhằm cố gắng vơn lên, khắc phục
những điều không thuận lợi và dần trở thành một thói quen có ích. Ngoài ra sự h-
15
ng phấn và hứng thú cá nhân cũng chính là những đặc điểm và điều kiện cơ bản
cho việc tiến hành học tập ngoại khóa, nó có tác dụng kích thích tích cực của ng-
ời tập, đồng thời thông qua buổi học ngời tập có thể lựa chọn nội dung tập luyện
phù hợp với bản thân và nếu có sự hớng dẫn của ngời thầy hay ngời cùng tập họ
có thể tận dụng các giờ ngoại khóa này để khắc phục những thiếu sót của bản
thân về các mặt khác nhau của môn học mà giờ học chính khoá cha có điều kiện
sửa chữa.
Hoạt động thi đấu là tổ hợp các hình thức chiến thuật bao gồm cả chiến
thuật cá nhân và chiến thuật đồng đội, sự phối hợp tốt các hình thức chiến thuật
mới đem lại hiệu quả trong thi đấu. Cũng nh các giờ học chính khoá, hiệu quả
học tập ngoại khóa phụ thuộc rất nhiều vào nội dung, hình thức và thời gian của
của họ đối với giờ ngoại khóa một cách tích cực. Mỗi cá nhân đều có sự nhận
thức khác nhau và thông qua kết quả phỏng vấn đối với 20 sinh viên bóng
chuyền khoá 45 khoa huấn luyện chúng ta có thể biết đợc phần nào nhận thức
của họ đối với việc tự học qua bảng thống kê sau:
Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn về nhận thức của sinh viên đối với
giờ ngoại khóa(n = 20)
Mức độ nhận thức Số lợng Tỷ lệ %
Rất cần thiết 18 90
Cần thiết 2 10
Không cần thiết 0 0
Qua bảng số liệu trên chúng ta có thể rút ra nhận xét : Phần lớn các sinh
viên đều cho rằng giờ học ngoại khóa là rất cần thiết đối với bản thân, còn một
số ngời cho rằng cần thiết và không có cá nhân nào cho rằng giờ học ngoại khóa
là không cần thiết. Trong sự nhận thức khác nhau này dẫn đến quá trình hình
thành động cơ trong giờ học ngoại khóa cũng rất đa dạng, nó có ảnh hởng trực
tiếp đến tính tích cực trong học tập và rèn luyện. Từ đây dẫn đến hiệu quả đạt đ-
ợc của giờ học ngoại khóa cũng không đồng nhất, thông qua bảng 3.2 ta có số
liệu cụ thể sau:
17
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn về động cơ học tập giờ ngoại khóa
(n = 20)
Các động cơ
Vì công việc
sau khi ra tr-
ờng
Vì kết quả
học tập ở tr-
ờng
Vì cảm thấy
mừng đầu tiên đối với sinh viên chuyên sâu vì tự nhận thức đợc việc làm của họ.
Bảng 3.3: Kết quả phỏng vấn số buổi tập ngoại khóa trung bình trong tuần
(n = 20)
Số giờ ngoại
khóa trong một
tuần
Đôi khi
(2 buổi trở
xuông)
Thờng xuyên
(3 đến 4 buổi)
Rất thờng xuyên
(5 buổi trở lên)
Số ngời 3 9 8
Tỷ lệ (%) 15 45 40
Qua bảng số liệu trên chúng ta thấy rằng số sinh viên đi tập ngoại khóa
hàng tuần là rất khác nhau. Có sinh viên đi tập ngoại khóa trong một tuần rất th-
ờng xuyên, từ 5 buổi trở lên, có sinh viên đi tập ngoại khóa chỉ 3 - 4 buổi và có
ngời chỉ tập 2 buổi trở xuống. Vì sao vậy? Thông qua trao đổi trực tiếp chúng tôi
biết đợc ở mỗi sinh viên đều có các điều kiện riêng của bản thân mình cùng với
sự nhận thức về tác dụng của giờ học ngoại khóa khác nhau dẫn đến sự chênh
lệch này. Ngoài ra còn các nguyên nhân khách quan khác nh: thích học thêm
một số môn thể thao khác hoặc do điều kiện sân bãi, bóng v.v chi phối. Cũng
có thể do cách bố trí giờ học ở mỗi cá nhân khác nhau. Trong mỗi ngày trung
bình các sinh viên lên lớp chính khoá từ 4 - 6 tiết và có thể cao hơn. Khoảng thời
gian không lên lớp chính khoá còn lại tơng đối hạn chế mà mỗi cá nhân phải giải
quyết và hoàn tất rất nhiều công việc của của bản thân trong cuộc sống hàng
ngày. Vì vậy mỗi sinh viên phải có kế hoạch học tập để sắp xếp bố trí khoảng
thời gian hợp lý để đi ngoại khóa môn chuyên sâu của mình một cách đều đặn.
Do vậy số lợng các giờ lên lớp chính khoá là một trong những nguyên nhân hạn
có hạn chế hơn là các giờ nh trớc tiết 1+ 2 và tiết 7 +8. Bảng số liệu phỏng vấn
sau đây sẽ giúp chúng ta xác định đợc sinh viên chuyên sâu bóng chuyền khoá
45 khoa huấn luyện hay đi ngoại khóa vào các giờ nào trong ngày.
Bảng 3.5: Số lợng sinh viên tự học môn chuyên sâu vào các giờ trong ngày
(n = 20) (theo phỏng vấn)
Số tiết Trớc tiết (1 + 2) Tiết (7 + 8) Các giờ ôn tập
Số ngời 3 14 3
Tỷ lệ (%) 15 70 15
20
Qua bảng số liệu trên đây chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy phần lớn
sinh viên đI ngoại khóa chuyên sâu vào tiết 7 + 8 (70%) trớc tiết 1 + 2 (15%) số
sinh viên đi tập ít và chủ yếu là tập nhằm hoàn thiện kỹ thuật hoặc tập thể lực.
Các giờ ôn tập ở đây bao gồm các tiết (1 + 2; 3 + 4; 5 + 6) đợc nghỉ ngẫu nhiên
trong tuần có số lợng sinh viên đi ngoại khóa cũng không nhiều, một phần vì lý
do trong các giờ này thờng có lớp khác học, phần vì nhiều điều kiện khách quan
chi phối nên số lợng đi thờng ít.
Đó là theo phỏng vấn còn trong thực tế quan sát một số tuần để theo dõi
số sinh đI ngoại khóa môn chuyên sâu bóng chuyền chúng tôi thu thập đợc các
số liệu sau:
Bảng 3.6: Số lợng sinh viên đi ngoại khóa môn chuyên sâu vào các giờ trong
ngày(n = 20) (theo quan sát)
Số tiết Trớc tiết 1 + 2 Tiết 7 + 8 Các giờ ôn tập Tổng
Số giờ quan sát 6 14 4 24
Số ngời 2 15 3 20
Tỷ lệ (%) 10 75 15 100
Qua bảng thống kê trên cho chúng ta biết đợc số sinh viên đi ngoại khóa
chuyên sâu tập trung vào các tiết nào và trung bình một ngày có bao nhiêu sinh
viên đi tập ngoại khóa môn chuyên sâu.
Hai bảng phân tích số 5 và số 6 chúng ta thấy tỷ lệ giữa thực tế quan sát
và kết quả thông qua phiếu hỏi không có sự chênh lệch đáng kể và số lợng sinh
Khoảng
90 phút
Trên 90
phút
Số ngời 0 4 7 5 4
Tỷ lệ (%) 0 20 35 25 20
Qua bảng này chúng ta biết các sinh viên thờng tập vào thời gian nào là
đông nhất và ít nhất. Đối với sinh viên tập với khoảng thời gian 60 phút là đông
nhất, đây là khoảng thời gian tập luyện cơ thể đủ phát huy hết năng lực vận
động. Thông qua phỏng vấn giúp xác định rõ vấn đề: Đối với các sinh viên có
thời gian tập trên 90 phút bao gồm cả việc tập kỹ - chiến thuật và giành thời gian
cho việc tập thể lực vào cuối buổi.
Qua bảng số liệu trên phần nào cho chúng ta đánh giá đợc thờng xuyên
có bao nhiêu sinh viên chuyên sâu đi tập ngoại khóa môn bóng chuyền và thời
gian cho mỗi buổi ngoại khóa thờng là bao nhiêu và vào thời gian nào trong
ngày, cùng với nguyên nhân làm ảnh hởng đến thời gian đi học ngoại khóa của
họ. Vậy trong quá trình tập luyện ngoại khóa họ thờng tập nh thế nào? Nội dung
tập ra sao?
Bảng 3.8: Nội dung tập vào giờ tự học của sinh viên
(n = 20) (theo phỏng vấn)
22
Nội dung
tập
Tập kỹ
thuật
Tập thể
lực
Tập chiến
thuật
Tập thi
Qua hai bảng số liệu trên trớc hết chúng ta rút ra đợc tỷ lệ về từng nội
dung tập luyện thông qua phỏng vấn và thực tế quan sát chênh lệch không đáng
kể. Điều này một lần nữa chứng minh rằng kết quả phỏng vấn đối với các sinh
viên chuyên sâu bóng chuyền khoá 45 khoa huấn luyện là có độ tin cậy cao. Còn
nội dung tập luyện của họ chúng ta có thể đánh giá đợc rằng các sinh viên có ý
thức trong việc tập luyện, họ tập thờng xuyên với nhiều nội dung khác nhau. Tuy
nhiên nh chúng ta đã phân tích ở phần đầu của đề tài nội dung tập luyện ngoại
khóa phụ thuộc rất nhiều vào hứng thú và sở thích cá nhân. Bởi vậy, số ngời tập
các nội dung khác nhau cũng có sự khác biệt đáng kể. Cụ thể, số sinh viên tập
nội dung kỹ thuật chiếm tỷ lệ cao nhất trong năm hình thức tập luyện. Tiếp đó là
nội dung tập tổng hợp. Thực ra cũng dễ hiểu bởi tự hoàn thiện và nâng cao năng
lực chuyên môn là điều mà tất cả sinh viên đều hớng tới và chỉ có nội dung này
23
mới có thể phát huy hết khả năng cũng nh vận dụng các kiến thức đã học vào
trong cùng một bài tập. Ngợc lại, nội dung tập thi đấu rất ít khi và thậm chí là
không có sinh viên nào. Thông qua phỏng vấn trực tiếp chúng tôi đợc biết: Các
sinh viên khóa 45 là sinh viên mới vào trờng, năng lực chuyên môn còn nhiều
hạn chế, các em quan tâm nhiều đến tập kỹ thuật và tập tổng hợp (trong đó có
nội dung tập thể lực) hơn là tập thi đấu. Tuy nhiên họ cũng không phủ nhận vai
trò của nội dung tập luyện này. Nội dung tập thể lực thờng đợc thực hiện vào
cuối buổi tập, mục đích chính là nâng cao thể lực trong đó quan trọng là sức bật
vào đà đập bóng. Đây là yếu tố quyết định đến tính hiệu quả trong các tình
huống đập bóng tấn công. Ngoài ra còn vì nội dung thi học phần luôn có hai nội
dung về thể lực, đó là bật cao với bảng và chạy ziczắc,
Nói chung, những sinh viên này biểu hiện một thái độ hiểu biết rất đúng
đắn về nguyên tắc và phơng pháp tập luyện. Họ đã phần nào tổ chức đợc một
buổi ngoại khóa có kết cấu gần giống với buổi học chính khoá để đa dần lợng
vận động từ thấp đến cao. Sinh viên chuyên sâu bóng chuyền khóa 45 khoa huấn
luyện viên còn đang trên con đờng tích luỹ năng lực chuyên môn, học tập là
nhiệm vụ đợc đặt lên hàng đầu, có điều kiện đi tập với thời gian dài và thông th-
viên hiện nay.
Qua quá trình phỏng vấn và tìm hiểu các tài liệu lu trữ và điểm thi học
phần của các sinh viên, chúng tôi thấy rằng với mức độ nỗ lực khác nhau thì kết
quả đạt đợc cũng khác nhau. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu chúng tôi tiến
hành chia số lợng sinh viên tham gia tập luyện ngoại khóa theo các mức độ:
- Mức độ tập luyện ngoại khóa rất thờng xuyên (từ 5 buổi trở lên trong 1 tuần)
- Mức độ tập luyện ngoại khóa thờng xuyên (từ 3 - 4 buổi trong 1 tuần)
- Mức độ đôi khi mới tập luyện ngoại khóa (từ 2 buổi trở xuống trong 1 tuần).
Thông qua việc phân các mức độ nh trên chúng tôi đã tiến hành thống kê
kết quả học tập của các sinh viên qua kết quả kiểm tra học kỳ I và học kỳ II (các
số liệu đã xử lý qua công thức tính giá trị chung của một tập hợp và bảng chi tiết
đợc nêu ở phần phụ lục của đề tài).
Bảng 3.10: Thành tích ở các nội dung kiểm tra
qua các mức độ tập luyện ngoại khóa (n = 20)
25