Nghiên cứu lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ tu bóng rổ khóa 45 trường đại học thể dục thể thao bắc ninh - Pdf 30

MỞ ĐẦU
TDTT là một trong những bộ phận cốt yếu của nền văn hóa xã hội. Nó
đóng vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, là
phương tiện hữu hiệu góp phần giáo dục con người phát triển một cách toàn
diện. Chính vì vậy việc đào tạo ra một con người có đầy đủ phẩm chất đạo đức,
năng lực trí tuệ là việc làm hết sức cần thiết. Trong quá trình lịch sử đi lên con
đường xã hội chủ nghĩa nền TDTT của đất nước ta đang phải mang một trách
nhiệm rất nặng nề và cao cả.
Đất nước ta đang tiến bước trên con đường phát triển. Cùng với sự phát
triển của nền kinh tế, ổn định của chính trị, sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật đã
tạo điều kiện cho nghành TDTT phát triển mạnh mẽ.
Ngày nay nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … của Việt Nam đang hội
nhập và phát triển nhanh chóng cùng với các nước trong khu vực và thế giới.
Song hành cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế, chính trị, xã hội … Ngành
TDTT cũng đang có những bước tiến vượt bậc. Thể thao Việt Nam đã chứng tỏ
và khẳng định mình trên đấu trường khu vực và trên thế giới.
Trường Đại học TDTT Bắc Ninh là một trong những trường đào tạo cán
bộ, giáo viên TDTT của cả nước. Đứng trước xu thế của thời đại, nhà trường
đang ngày càng củng cố, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng
nhu cầu mới của xã hội. Ngoài các môn học chuyên ngành các sinh viên trong
trường còn được học tất cả các môn thể thao như : Điền kinh, bóng đá, cầu lông,
bóng bàn, bóng rổ …
Bóng rổ ra đời ở Mỹ. Năm 1891 giáo sư G.Nâysmit giáo viên thể chất của
trường Huấn luyện Springphild tại bang Massachuset sáng tạo ra. Bóng rổ là
một môn thể thao phong phú hấp dẫn và có sức lôi cuốn mạnh mẽ, nhất là đối
với thanh thiếu niên lứa tuổi học sinh, sinh viên. Đây là môn thể thao đối kháng
trực tiếp và được phát triển rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và là
một nội dung thi đấu chính thức trong các Đại hội thể thao Olympic, Châu lục
và Khu vực.
1
Theo chương trình của nhà trường, sinh viên phổ tu học môn Bóng rổ

- Đối tượng chủ thể : Bài tập bổ trợ nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ
ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ tu Bóng rổ khóa 45 trường Đại học
TDTT Bắc Ninh.
- Đối tượng khách thể : Gồm 20 sinh viên phổ tu Bóng rổ khóa 45 trường
Đại học TDTT Bắc Ninh.
Mỗi tuần tập 2 giáo án trong đó dành từ 20 – 25 phút để tập kỹ thuật hoặc
thể lực cho kỹ thuật ném bóng. Phần này được tiến hành theo 2 cách:
+ Tập trung cả các bài tập kỹ thuật và thể lực vào phần đầu hoặc giữa
buổi tập.
+ Tập kỹ thuật vào phần đầu của giáo án (sau khởi động) còn phần thể lực
chung và chuyên môn tập vào cuối buổi tập.
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại sân tập Bóng rổ trường Đại học TDTT Bắc
Ninh.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm kỹ thuật thể thao
Trong bất kỳ môn thể thao vận động nào muốn đạt được hiệu quả và
thành tích tốt nhất thì vận động viên phải có kỹ thuật thực hiện động tác hợp lý
và phù hợp với đặc điểm cá nhân của từng vận động viên.
Kỹ thuật thể thao phải dựa trên sự huấn luyện thể lực tốt nhất của vận
động viên. Để nắm được kỹ thuật hiện đại vận động viên phải có sức mạnh, sức
nhanh, sức bền, độ mềm dẻo và sự khéo léo được phát triển ở mức cao.
Kỹ thuật bài tập là cách thức sắp xếp, tổ chức và thực hiện hệ thống các
động tác để giải quyết nhiệm vụ vận động, hoặc nói ngắn gọn, đó là cách thức
để giải quyết nhiệm vụ vận động một cách hợp lý và hiệu quả.
Kỹ thuật thể thao luôn được đổi mới và hoàn thiện. Sự tìm tòi, khám phá
khoa học về các quy luật vận động của cơ thể sự tiến bộ về trình độ thể lực của
vận động viên, sự hoàn thiện về phương pháp giảng dạy, huấn luyện, sự đổi mới

năng vận động được tạo nên thông qua áp dụng các bài tập huấn luyện chung và
huấn luyện chuyên môn khác nhau. Điều quan trọng là phải tính đến mối quan
hệ hữu cơ giữa các việc phát triển các tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiện
kỹ thuật.
Kỹ thuật hoàn thiện đó là tập hợp các cách thức thực hiện động tác thể
thao có hiệu quả nhằm mục đích đạt được thành tích tốt nhất trong quá trình
giảng dạy. Mức độ nắm vững kỹ thuật được thay đổi từ kỹ thuật sơ đẳng của
người mới tập đến kỹ thuật hoàn thiện được hình thành trên cơ sở các quy luật
sinh cơ và sinh hóa sẽ cho phép VĐV thực hiện và hoàn thiện các động tác. Từ
đó các hoạt động tiết kiệm hơn và có hiệu quả hơn.
Trong các môn thể thao phức tạp về kỹ thuật thì việc hình thành kỹ thuật
là nhiệm vụ hàng đầu. Và do đó, thời gian dành cho kỹ thuật ở các buổi tập sẽ
nhiều hơn để nắm vững được các động tác và các yếu tố kỹ thuật.
5
1.2. Khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn
Có rất nhiều các khái niệm về bài tập bổ trợ chuyên môn của các nhà
nghiên cứu khoa học. Bài tập chuyên môn là bài tập nhằm hỗ trợ cho việc nhanh
chóng tiếp thu và thực hiện có hiệu quả bài tập được đặt ra, trong đó bài tập
chuyên môn là những bài tập hỗ trợ cho việc tiếp thu kỹ thuật động tác. Có một
số tác giả nước ngoài cho rằng: ” Bài tập bổ trợ là một trong những biện pháp
giảng dạy, bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho vận động. Bài tập mang
tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường các tố chất thể
lực ”. Quan điểm của các học giả Trung Quốc về bài tập bổ trợ chuyên môn là
những bài tập mang tính chuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kỹ thuật riêng
biệt ( từ điển TDTT Trung Quốc, trang 17, xuất bản năm 1993 ).
Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách trình bày nhưng luôn có sự
thống nhất về ý nghĩa. Như vậy “ bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập mang
tính chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt cho từng
kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau ”.
Thông thường mỗi kỹ thuật được phân chia thành 3 giai đoạn. Trên cơ sở

1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng nghiên cứu.
Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện để đạt được hiệu quả tốt thì
người giáo viên và huấn luyện viên phải nắm vững được các đặc điểm về tâm
sinh lý của lứa tuổi đó mà áp dụng các phương pháp phương tiện sao cho phù
hợp với lứa tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe, đó cũng là một trong những
nhân tố quan trọng để tác động bài tập thể chất lên cơ thể người tập. Bởi vì cơ
thể con người là một khối thống nhất hoàn chỉnh, bất cứ một sự tác động nào
cũng gây nên những biến đổi trong cơ thể cho nên phải xác định mức độ vừa sức
cho người tập. Lượng vận động vừa sức là lượng vận động không quá dễ cũng
không quá khó nhưng đòi hỏi người tập phải có sự nỗ lực ý chí để hoàn thành
bài tập. Để biết được lượng vận động có vừa sức với người tập hay không thì
phải thường xuyên có sự kiểm tra y học và kiểm tra sư phạm để trên cơ sở đó
7
mà điều chỉnh các phương pháp tập luyện sao cho phù hợp mà không ảnh hưởng
tới sức khỏe người tập.
1.4.1. Đặc điểm tâm lý
Trong tâm lý học lứa tuổi người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn
phát triển từ lúc dậy thì và kết thúc khi bắt đầu vào tuổi người lớn.
Những đặc điểm tâm lý hoạt động thanh thiếu niên lứa tuổi 19 – 20. Lứa
tuổi này được chia làm 2 giai đoạn :
+ Từ 14 – 18 tuổi là giai đoạn đầu của thanh niên (còn gọi là thanh niên
mới lớn)
+ Từ 18 – 25 tuổi là giai đoạn 2 của thanh niên.
Trong giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu đặc điểm tâm lý của
thanh niên giai đoạn 2 ( từ 18 – 25 tuổi ).
Xét về nội dung và tình cảm của hoạt động, lứa tuổi này phức tạp hơn
nhiều so với lứa tuổi thiếu niên ở giai đoạn trước. Ở lứa tuổi này không những
đòi hỏi về mặt học tập mà còn đòi hỏi về tính năng động, sáng tạo ở mức cao
hơn nhiều. Đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được chương trình học tập một
cách sâu sắc hơn thì cần phải tư duy về mặt lý luận, khi tuổi trưởng thành càng

1.4.2. Đặc điểm sinh lý
- Hệ xương: Vẫn phát triển cho tới 24 – 25 tuổi bộ xương mới hoàn thiện,
các cơ tăng khối lượng và đạt 43 – 44% trọng lượng toàn thân. Sự cốt hóa bộ
xương điều đó có ý nghĩa chấm dứt sự phát triển chiều dài. Quá trình đó xảy ra
do các màng xương được phát triển dày lên bao bọc xung quanh sụn.
- Hệ thần kinh: Được phát triển một cách hoàn thiện khả năng tư duy,
phân tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi tạo điều kiện tốt
cho việc hình thành phản xạ có điều kiện. Ngoài ra, do hoạt động mạnh của hệ
thần kinh chiếm ưu thế. Giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã có ảnh
hưởng đến hoạt động có thể lực, cho nên phải sử dụng các bài tập sao cho phù
hợp.
9
- Hệ cơ: Thành phần quan trọng của bộ máy vận động là cơ. Sự phát triển
của cơ phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của xương. Khối lượng của cơ cũng
tăng dần theo độ tuổi. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này xảy ra không đều, (cơ chân
phát triển nhanh hơn cơ tay). Riêng các bắp cơ lớn phát triển nhanh (cơ đùi, cơ
cánh tay), các cơ co phát triển nhanh hơn cơ duỗi. Trên cơ sở nắm vững các đặc
điểm phát triển của hệ xương, hệ cơ chúng ta cần phải lựa chọn, áp dụng và dựa
vào các bài tập chuyên môn phù hợp với sự phát triển của chúng. Có như vậy
mới đem lại hiệu quả cao trong công tác giảng dạy và huấn luyện.
Nếu không chú trọng những đặc điểm này không những kìm hãm sự phát
triển mà còn ảnh hưởng đến cơ thể người tập.
- Hệ tuần hoàn: Phát triển hoàn thiện, nam khoảng 70 – 75 lần/phút, nữ
75 – 80 lần/phút. Sau vận động huyết áp và mạch đập tương đối nhanh cho nên
phù hợp với những bài tập chạy dai sức và những bài tập có khối lượng, cường
độ tương đối lớn.
- Hệ hô hấp: Đã hoàn thiện hơn, vòng ngực trung bình của nam khoảng
75 - 85 cm, nữ khoảng 80 - 85 cm, diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 120
-150cm, dung lượng phổi khoảng 4 – 5 lít, tần số khoảng 10 – 20 lần/phút.
Như vậy, hoạt động thể dục thể thao ở lứa tuổi này rất thuận lợi vì khối

Ngoài việc nghiên cứu các tài liệu chuyên môn như sách giáo khoa Bóng
rổ, các tài liệu Bóng rổ của liên đoàn bóng rổ … Các tài liệu liên quan như lý
luận và phương pháp giáo dục thể chất, học thuyết huấn luyện, tâm lý học thể
thao, sinh lý học … chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu phân tích các chương
trình, kế hoạch giảng dạy môn Bóng rổ của trường Đại học TDTT Bắc Ninh,
tham khảo các chương trình huấn luyện của một số câu lạc bộ, để từ đó rút ra
được thực trạng giảng dạy, huấn luyện và sự cần thiết phải lựa chọn các bài tập
nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ cho sinh viên phổ tu Bóng rổ
khóa 45 trường Đại học TDTT Bắc Ninh.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Phương pháp này nhằm thu thập và xử lý những thông tin ban đầu từ
những ý kiến người khác. Là một phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng
rãi trong các công trình nghiên cứu khoa học. Thông qua việc trao đổi, phỏng
vấn, tham khảo những ý kiến của các chuyên gia, các HLV, cũng như các giáo
viên Bóng rổ lâu năm có kinh nghiệm từ đó chắc chắn hơn nữa việc lựa chọn
một số bài tập tại chỗ ném rổ một tay trên cao nhằm nâng cao hiệu quả bài tập
cho sinh viên phổ tu Bóng rổ khóa 45 trường Đại học TDTT Bắc Ninh.
Chúng tôi tiến hành 2 hình thức phỏng vấn :
12
- Phỏng vấn trực tiếp: Chúng tôi trao đổi trực tiếp với các giáo viên và
HLV có kinh nghiệm cũng như những HLV, giáo viên có thâm niên trong giảng
dạy và huấn luyện, thông qua quá trình trao đổi trực tiếp chúng tôi có những
thông tin cần thiết, quý báu về việc lựa chọn các bài tập cho phù hợp với đối
tượng giảng dạy. Đồng thời hiểu biết được, sử dụng phương tiện và phương
pháp giảng dạy, huấn luyện.
- Phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn
20 giáo viên của trường Đại học TDTT Bắc Ninh, các HLV của các câu lạc bộ
Bóng rổ ở thành phố Hà Nội và một số HLV tại các Sở TDTT.
2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Là phương pháp nhận thức đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục

mà người ta đưa vào quá trình giảng dạy và huấn luyện những nhân tố mới được
nghiên cứu và phải sáng tỏ tính ưu việt của nó so với những nhân tố khác.
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm song song.
Phân nhóm thực nghiệm một cách ngẫu nhiên thành nhóm thực nghiệm và nhóm
đối chứng.
+ Nhóm 1: Nhóm đối chứng gồm 10 sinh viên tập luyện theo chương
trình giảng dạy của nhà trường.
+ Nhóm 2: Nhóm thực nghiệm gồm 10 sinh viên thực hiện các bài tập đã
lựa chọn.
2.1.6. Phương pháp toán học thống kê
Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học.
Trong đề tài ứng dụng các công thức để tính toán và xử lý sau đây:
- Số trung bình cộng :
n
x
x
i

=
- Phương sai :
1
)(
1
2
2


=

=


− −

−−
−−
=
n
n
n
n
ii
n
n
ii
yyxx
yyxx
r
1 1
22
1
)()(
))((
δ





quá trình giảng dạy kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên
phổ tu Bóng rổ khóa 45 trường Đại học TDTT Bắc Ninh.
3.1.1. Thực trạng hiệu quả thực hiện kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay
trên cao của sinh viên phổ tu.
Qua quan sát học tập trên lớp của các lớp phổ tu Bóng rổ khóa 45 việc
thực hiện kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao của các sinh viên phổ tu chưa
đạt kết quả tốt do một số vấn đề sau:
Do chương trình học tập môn Bóng rổ dành cho phổ tu là 30 tiết, số lượng
sinh viên học tập rất đông nhưng sân bãi dụng cụ tập luyện lại thiếu, vì vậy tác
động đến kết quả học tập kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao của sinh viên.
Với số lượng sinh viên một lớp rất đông, bên cạnh đó giáo viên giảng dạy,
quản lý mỗi lớp chưa đảm bảo để sửa chữa những sai lầm thường mắc trong quá
trình tập luyện. Dẫn đến việc thực hiện kỹ thuật sai về tư thế, dùng lực ở các giai
đoạn: Chuẩn bị, cơ bản, kết thúc.
Đặc điểm tâm lý của hầu hết những sinh viên mới tập thường dễ chán nản
do kỹ thuật khó và kỹ thuật chưa thành thục nên thành tích không cao. Ngoài ra
đặc điểm sinh lý của từng người cũng khác nhau nên kỹ thuật cũng bị ảnh
hưởng.
3.1.2. Thực trạng việc sử dụng các bài tập bổ trợ kỹ thuật tại chỗ ném
rổ một tay trên cao của bộ môn Bóng rổ.
Quá trình giảng dạy bóng rổ là một quá trình sư phạm nhằm trang bị cho
học sinh những kỹ năng cần thiết và những tri thức có liên quan. Trong kế
hoạch đào tạo của nhà trường môn Bóng rổ là môn cơ bản đối với ngành giáo
dục thể chất dành cho chuyên sâu cũng như phổ tu.
16
Theo chương trình của nhà trường, sinh viên phổ tu học môn Bóng rổ
được học kỹ thuật chuyền bóng bằng hai tay trước ngực, hai người di động
chuyền bóng ném rổ, hai bước ném rổ và tại chỗ ném rổ một tay trên cao.
Thời gian quy định cho từng loại kỹ thuật, phương pháp giảng dạy rõ
ràng. Song vẫn còn tồn tại một số vấn đề như tỉ lệ thời gian tập các kỹ thuật

Thực hiện tay không mô
phỏng động tác ném rổ
5/20 10 x 1 phút 4 - 5 phút
6
Đứng tại chỗ ném thẳng lên,
bắt lại
9/20 10 x 5 phút 1 phút
7 Ném rổ ở khu vực ném phạt 10/20 10 – 10phút 30s
Qua bảng 3.1. có thể nhận xét như sau :
Nhìn chung việc sử dụng các hình thức tập luyện cơ bản là để nâng cao
trình độ kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ tu. Tuy vậy
số lượng thống kê cho thấy :
- Các bài tập sử dụng chưa thật toàn diện, thiếu các bài tập sức bền
chuyên môn, các bài tập bổ trợ.
- Các phương tiện tập luyện còn đơn giản và chưa được sử dụng triệt để.
- Thời gian tập trên lớp chưa đảm bảo cho quá trình tiếp thu ngay tại lớp
của sinh viên.
- Sinh viên chưa tự giác tập luyện theo yêu cầu bài tập mà giáo viên đã
đề ra.
- Sự hứng thú của sinh viên đối với các bài tập là chưa có hoặc chưa
cao.
18
- Do thời gian học tập trên lớp có hạn nên khối lượng sử dụng các bài
tập còn hạn chế, sinh viên chỉ hiểu kỹ thuật được học một cách khái quát chưa
thực sự hiểu rõ bản chất.
Việc sử dụng các bài tập hợp lý cũng là yếu tố để sinh viên phát triển và
hoàn thiện kỹ thuật, bên cạnh đó các bài tập bổ trợ cũng phải được sử dụng tùy
theo kỹ thuật, từ đó mới thấy được kết quả đạt được từ những bài tập bổ trợ.
Từ những thực trạng nêu trên là cơ sở cho chúng tôi lựa chọn các bài tập
nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ

ý
Không
đồng ý
1 Mức độ thành thạo về kỹ thuật 20 20 0 100%
2 Trình độ thể lực 20 19 1 95%
3
Sự kết hợp các yếu tố kỹ thuật
với chiến thuật
20 18 2 90%
4 Trạng thái tâm lý 20 16 4 80%
Từ kết quả bảng 3.2 chúng tôi có thể khẳng định rằng yếu tố chi phối tới
hiệu quả của bất kỳ kỹ thuật thể thao nào nói chung và kỹ thuật tại chỗ ném rổ
một tay trên cao nói riêng là :
+ Mức độ thành thạo về kỹ thuật.
20
+ Trình độ thể lực duy trì, đảm bảo tính ổn định của kỹ thuật.
+ Sự kết hợp hợp lý các yếu tố kỹ thuật với chiến thuật.
+ Tạo được trạng thái tâm lý tối ưu.
Thông qua điều tra thực trạng cho thấy việc sử dụng các bài tập nâng
cao hiệu quả của sinh viên là không đồng đều. Trước thực trạng như vậy, vấn
đề đặt ra là phải lựa chọn được các bài tập cho phù hợp và đạt hiệu quả cao.
Vấn đề này chúng tôi giải quyết cụ thể ở sinh viên phổ tu Bóng rổ khóa 45
trường ĐH TDTT .
3.2. Giải quyết mục tiêu 2
Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn
trong học tập kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ
tu Bóng rổ khóa 45 trường Đại học TDTT Bắc Ninh
3.2.1. Nghiên cứu lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả tại chỗ ném rổ
một tay trên cao cho sinh viên phổ tu Bóng rổ khóa 45 trường Đại học
TDTT Bắc Ninh.

tại chỗ ném rổ một tay trên cao. Dựa vào các cơ sở khoa học và các yêu cầu
lựa chọn bài tập, chúng tôi đã lựa chọn được 20 bài tập nâng cao hiệu quả kỹ
thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ tu ( xem ở bảng 3.3 )
Sau khi lựa chọn được 20 bài tập. Để đảm bảo tính khách quan trong việc
lựa chọn bài tập, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các giáo viên, HLV có kinh
nghiệm lâu năm và các HLV ở các CLB TDTT ở thành phố Hà Nội và một số
HLV tại các sở TDTT để xác định mức độ ưu tiên của các bài tập.
Nội dung phỏng vấn là xác định mức độ ưu tiên của các bài tập ở 3 mức
độ ưu tiên của các bài tập ở 3 mức.
+ Bài tập rất quan trọng : 3 điểm
+ Bài tập bình thường : 2 điểm
+ Bài tập không quan trọng : 1 điểm
Bảng 3.3. Kết quả phỏng vấn xác định mức độ ưu tiên các bài tập nâng cao
hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên phổ tu
Bóng rổ khóa 45 trường Đại học TDTT Bắc Ninh (n=20)
Mức độ ưu tiên
Tổng
22
3
điểm
2
điểm
1
điểm
1 Tập ném bóng vào một điểm trên bảng rổ (quả) 19 1 0 59
2
Tại chỗ ném rổ một tay trên cao ở góc 90
o
cự ly gần
(3m) (quả)

13 Chạy con thoi 28m x 2 lần (s) 16 4 1 57
14 Tại chỗ ném bóng nặng (quả) 7 5 8 39
15
Bài tập với tạ ante ( co gập cẳng tay, làm động tác
ném rổ ) (lần)
19 1 0 59
16
Mô phỏng động tác tại chỗ ném rổ một tay trên cao
theo tín hiệu (lần)
18 1 1 57
17 Co tay xà đơn (lần) 16 4 0 56
18 Chạy nâng cao đùi tại chỗ 15 lần (s) 13 3 4 49
19 Dẫn bóng tại chỗ và dẫn bóng di động. (s) 14 4 2 52
20 Trò chơi vận động 18 2 0 58
Tổng số n = 20 cho điểm từ cao xuống (3 điểm là rất quan trọng, 2 điểm là
quan trọng , 1 điểm là không quan trọng) thì điểm tối đa là 59 điểm, tối thiểu là
39 điểm. Lấy những bài tập cấp số điểm từ cao xuống thấp ta sẽ lựa chọn được
10 bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho
sinh viên phổ Bóng rổ 45 Trường Đại học TDTT Bắc Ninh .
1. Tập ném bóng vào một điểm trên bảng rổ (quả).
2. Tại chỗ ném rổ một tay trên cao ở góc 90
o
cự ly gần (3m) (quả).
23
3. Tại chỗ ném rổ một tay trên cao ở góc 90
o
và 45
o
cự ly trung bình (4m)
(quả).

4
Tại chỗ đẩy bóng vào tường liên tục bằng một tay ở
cự ly khoảng 60 cm(s)
0.92 0.05
5
Tại chỗ ném rổ một tay trên cao chéo góc bảng cự ly gần
(1 m) (quả)
0.82 0.05
6
Hai người đứng đối diện nhau thực hiện kỹ thuật tại chỗ
ném rổ một tay trên cao (quả)
0.90 0.05
7 Tại chỗ ném rổ một tay trên cao tại điểm ném phạt (quả) 0.88 0.05
8 Bài tập với tạ ante ( co gập cẳng tay, làm động tác ném rổ ) 0.85 0.05
9 Chạy con thoi 28m x 2 lần (s) 0.83 0.05
10 Trò chơi vận động 0.84 0.05
Từ kết quả của bảng 3.4 cho ta thấy các bài tập có mối tương quan mạnh.
Hệ số tương quan r từ 0.82 – 0.92. Điều đó chứng tỏ thành tích các bài tập
chúng tôi lựa chọn có mối tương quan chặt chẽ với kết quả tập luyện.
Do vậy 10 bài tập trên được chúng tôi sử dụng để kiểm tra, lấy các chỉ số
so sánh, đánh giá hệ thống các bài tập cũng như mức tăng trưởng, trình độ của
các sinh viên qua các giai đoạn tập luyện.
Sau khi lựa chọn được 10 bài tập có mức độ ưu tiên cao, chúng tôi trình
bày các bài tập nhằm phát triển hiệu quả của kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên
cao được trình bày như sau:
* Nhóm bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật.
- Tập ném bóng vào một điểm trên bảng rổ (quả).
- Tại chỗ đẩy bóng vào tường liên tục bằng một tay ở cự ly khoảng 60 cm
(s).
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status