Bộ văn hoá, thể thao và du lịch Bộ giáo dục và đào
tạo
trờng đại học thể dục thể thao bắc ninh
trần minh khơng
lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ
chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật
bơi trờn sấp
cho sinh viên khoa thể dục thể thao
trờng đại học s phạm thái nguyên
Chuyên ngành: giáo dục thể chất
Mã số: 60.81.01
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Ngời hớng dẫn khoa học:
pgs. nguyễn văn trạch
1
B¾c Ninh - 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan ngoài những nội dung được trích dẫn trong các tài liệu
tham khảo được liệt kê ở phần danh mục tài liệu tham khảo, công trình nghiên
cứu này là của riêng tôi. Các số liệu nghiên cứu là trung thực và chưa có ai công
bố và xuất bản trong bất kỳ hình thức nào.
Tác giả
Trần Minh Khương
2
1. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTBT: Bài tập bổ trợ
CT/TW: Chỉ thị trung ương
NĐ/CP: Nghị định Chính phủ
NXB: Nhà xuất bản
GDTC: Giáo dục thể chất
của các giáo viên khoa GDTC trường Đại học Thái Nguyên
3.3. Thực trạng hiệu quả sử dụng các bài tập bổ trợ dạy bơi trườn
sấp truyền thống của khoa GDTC Đại học Thái Nguyên
Chương 4. Xây dựng và đánh giá hiệu quả ứng dụng hệ thống bài
tập bổ trợ trong dạy bơi trườn sấp cho sinh viên khoa GDTC Đại
học Thái Nguyên
4.1. Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ trong dạy bơi
trườn sấp cho sinh viên khoa GDTC Đại học Thái Nguyên
4.2. Đánh giá hiệu quả ứng dụng hệ thống bài tập bổ trợ đã xây
dựng trong dạy bơi trườn sấp cho sinh viên khoa GDTC Đại học
Thái Nguyên
Kết luận và kiến nghị
Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
4
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa xã hội Thế giới.
Nó được hình thành và phát triển trong quá trình thực tiễn cuộc sống lao động
sản xuất và chiến đấu lâu dài của loài người. Sau khi đã trở thành một hiện
tượng văn hóa, thể dục thể thao lại có tác dụng ngược trở lại thúc đẩy sự phát
triển thể chất, bảo vệ và nâng cao sức sản xuất và góp phần làm phong phú cuộc
sống văn hóa tinh thần của loài người.
Bơi lội là một trong những môn thể thao cơ bản của loài người, từ lịch sử
phát sinh phát triển của môn Bơi lội ta có thể nhận thấy: Từ xa xưa cách đây
khoảng 5000năm, loài người khi còn đang sống trong chế độ nguyên thủy, nô lệ
đã biết sáng tạo ra các vận động ở dưới nước để làm thành một phương tiện rèn
luyện sức khỏe, vui chơi giải trí, săn bắt động vật dưới nước kiếm sống và góp
được những tấm huy chương vàng, bạc, đồng ở các đấu trường quốc tế: như năm
1966 ở tiểu Ganefo châu Á, VĐV bơi đã giành được 7 tấm huy chương.
Trong những năm gần đây, bơi lội của nước ta cũng đã bước đầu có sự
khởi sắc. VĐV Nguyễn Hữu Việt lần đầu tiên giành được tấm huy chương vàng
ở Seagames 23 tại Philippin. Tuy vậy để có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa
môn bơi lội thể thao thành tích cao, nhất thiết phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa
phong trào bơi lội quần chúng nhất là bơi lội thể thao ở các trường trung - tiểu
học nhằm làm nền tảng cho việc tuyển chọn đào tạo VĐV bơi lội xuất sắc.
Chính vì vậy việc đào tạo giáo viên bơi để phát triển môn bơi lội ở trường trung
- tiểu học có ý nghĩa chiến lược quan trọng của thể thao nước nhà.
Khoa TDTT trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên là một chiếc nôi đào tạo
các giáo viên trong đó có các giáo viên dạy bơi cho các trường trung, tiểu học
khu vực miền núi và Trung du các tỉnh miền Bắc. Trong nhiều năm qua, trường
đã đào tạo được hàng ngàn giáo viên, trong đó có hàng trăm giáo viên có thể
giảng dạy huấn luyện bơi. Hiện nay nhà trường có 1 bể bơi hiện đại và các cơ sở
vật chất đáp ứng tốt việc đào tạo giáo viên bơi. Tuy vậy, chất lượng dạy bơi của
khoa TDTT trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên vẫn còn ở mức độ khiêm tốn.
7
Quan sát quá trình dạy bơi, đặc biệt là trong dạy bơi kiểu bơi trườn sấp cho sinh
viên, chúng tôi phát hiện thấy hầu hết giáo viên sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ
trong dạy bơi còn quá đơn điệu, nặng về sử dụng các bài tập dẫn dắt. Mặt khác
đối với đối tượng sinh viên miền núi có tới 80 % sinh viên nam và khoảng 95%
sinh viên nữ trước khi nhập trường còn chưa biết bơi mà nếu các giáo viên triển
khai các bài tập làm quen với thở quá muộn, ít sử dụng các bài tập tạo tư thế
đúng trong nước, chưa chú trọng kết hợp tập các bài tập bổ trợ với dụng cụ chân
vịt bàn quạt... Vì vậy, hầu như chỉ có khoảng 50-60% sinh viên thi qua lần đầu.
Kết thúc môn bơi vẫn có trên 10% nợ bơi.
Xuất phát từ nhu cầu bức xúc về chất lượng dạy bơi cho sinh viên khoa
TDTT trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên, tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật
nữ của khoá 40 trường Đại học Sư phạm Thái nguyên.
Giả thiết khoa học: Kết quả học tập thực hành của học sinh phụ thuộc rất
lớn vào nội dung và phương pháp giảng dạy của người thầy. Vì vậy nếu ta lựa
chọn được hệ thống bài tập bổ trợ khoa học hợp lý sẽ nâng cao được hiệu suất
phương pháp bài tập của giáo viên. Từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả học tập
môn bơi trườn sấp của sinh viên Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.
1.1.1. Khái niệm kỹ thuật thể thao
Theo các nhà khoa học TDTT trong và ngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép
(Nga), Lý Văn Tĩnh (Trung Quốc), Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (Việt Nam)...
thì khái niệm về kỹ thuật thể thao có thể được hiểu là: “Cách thức giải quyết
nhiệm vụ vận động hợp lý và có hiệu quả cao nhất, trong đó những cách thức
giải quyết nhiệm vụ vận động chính là cách thức xếp sắp tổ chức và thực hiện hệ
thống các động tác để giải quyết nhiệm vụ vận động”. [16], [25], [46].
Cũng theo các nhà khoa học trên thì trong TDTT bất kỳ hoạt động vận
động nào cũng được xác định nhiệm vụ vận động tức là một mục đích nào đó
mà hoạt động phải đạt được. Ví dụ, quạt tay trong bơi lội phải tạo ra được sức
kéo sức đẩy lớn giúp cho cơ thể lao nhanh ra trước... Trong hoạt động TDTT bất
cứ 1 hành vi vận động nào đó thông thường gồm hàng loạt các vận động nhỏ
(gọi là cử động) được xếp sắp theo trật tự và hệ thống nhất định. Cách thức thực
hiện hành vi vận động chính là việc tổ chức các hoạt động động tác theo 1 trật tự
kiểu cách nhất định được dựa trên nhiệm vụ vận động, các quy luật, các điều
kiện khách quan và chủ quan khi thực hiện vận động. Trong thực tế vận động,
rất nhiều trường hợp mặc dù có cùng nhiệm vụ vận động, song lại có những
cách thức thực hiện khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm cá nhân của VĐV. [16],
[25].
Thứ hai là phải phù hợp với một số nguyên lý có liên quan về thủy động
học và môi trường vận động, lợi dụng triệt để đặc tính của nước để tạo động lực.
Thứ ba, là cần xoay quanh hiệu lực thực tế để lợi dụng triệt để hình
dạng, tốc độ của các bộ phận vận động nhằm phát huy hiệu ứng lực trong phạm
vi cho phép.
11
Thứ tư là kỹ thuật hợp lý phải lấy hiệu lực thực tế toàn phần làm tiền đề
để xem xét tới việc được và mất của kỹ thuật từng phần, kết hợp với điều kiện
thực tế của từng người mà phát huy đặc điểm riêng về kỹ thuật.
Thứ năm là kỹ thuật hợp lý cần phải phù hợp với luật thi đấu, đồng thời
còn có thể dựa vào những mặt có lợi của điều luật để cải tiến kỹ thuật”.[46],
[47], [50].
1.1.3. Khái niệm Bài tập thể chất.
Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện thể thao, bài tập thể chất là một
phương tiện quan trọng để giáo dục kỹ năng nâng cao thể chất và thành tích thể
thao.
Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Nguyễn Toán,
Phạm Danh Tốn (Việt Nam)... thì “Bài tập thể chất là những hoạt động vận động
chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích phù hợp
với các quy luật giáo dục thể chất”. [16], [25].
Các bài tập thể chất trong quá trình huấn luyện thể thao được phân loại
theo các quan điểm khác nhau. Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp,
Mátvêép và các nhà khoa học huấn luyện học như PhiLim, Điền Mạnh Cửu... thì
Bài tập thể chất có thể được chia thành 3 loại chính là bài tập thi đấu, bài tập
chuyên môn, và bài tập phát triển chung. Sự phân chia này phải dựa trên đặc
điểm môn chuyên sâu và nhiệm vụ của loại bài tập đó trong giải quyết các
nhiệm vụ chung hoặc từng phần riêng lẻ”.[16], [18], [49].
Cũng theo các nhà khoa học trên thì bài tập thi đấu là loại hình bài tập mà
các động tác của nó có quá trình vận động và có đặc điểm riêng về lượng vận
động phù hợp với yêu cầu thi đấu của môn thể thao chuyên sâu.
dụ: trong bơi lội các tố chất sức nhanh chuyên môn phải gắn với các bài tập phát
triển tốc độ bơi các kiểu bơi ở đoạn 25 - 50 m. Song sức bền tốc độ lại phát triển
thống qua các bài tập lặp lại hoặc bơi nghỉ giữa quãng các đoạn bơn từ 25 -
400m. Trên cơ sở sức bền chung (tức năng lực bơi dài) của VĐV sẽ tiến hành
tập phát triển sức bền tốc độ sẽ có hiệu quả tương đối tốt.
13
1.1.5. Khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn (BTBT chuyên môn).
Hiện nay thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau ở trong và ngoài nước
chúng ta có thể thu thập các khái niệm đối với các BTBT chuyên môn như sau:
Các tác giả nước ngoài như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Harre (Đức), Điền
Mạch Cửu (Trung Quốc), Lê Văn Lẫm, Nguyễn Văn Trạch (Việt Nam)... cho
rằng: “Bài tập bổ trợ là một trong những phương tiện dùng để giảng dạy huấn
luyện TDTT. Trong đó bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho VĐV, bài
tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường các tố
chất thể lực.... Còn bài tập bổ trợ chuyên môn lại là những bài tập mang tính
chuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kỹ thuật riêng biệt của môn thể thao”.
[10], [16], [28], [49].
Cũng có cùng quan điểm với các học giả nước ngoài, PGS Nguyễn Toán
và TS Phạm Danh Tốn cho rằng: “BTBT chuyên môn là các bài tập phối hợp
các yếu tố của động tác thi đấu và các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫn
dắt tác động có chủ đích và có hiệu quả đến sự nắm vững kỹ năng kỹ xảo và sự
phát triển các tố chất thể lực của VĐV ngay ở chính những môn thể thao đó”.
[25].
Các khái niệm của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách trình bày cũng
như ngôn ngữ sử dụng nhưng đều có sự nhất trí cao về nội hàm. Như vậy BTBT
chuyên môn có thể được hiểu là những bài tập mang tính chuẩn bị, tính dẫn dắt,
tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt nhằm giúp VĐV nắm vững và hoàn
thiện, nâng cao kỹ chiến thuật cho từng môn thể thao cụ thể.
Chúng ta có thể đơn cử trong dạy bơi ếch, người ta có thể phân ra thành
các phần kỹ thuật tay, chân, phối hợp. Và từng kỹ thuật lại phân ra các phần
người học tạo ra vốn vận động ban đầu làm cơ sở cho việc học tập các kỹ thuật
tiếp sau”... Đồng thời trong quá trình dạy học, người thầy có thể sử dụng các
BTBT làm thành phương tiện tác động có chủ đích đến sự nâng cao kỹ thuật và
phát triển thể chất. [9], [18], [20], [25].
15
Trong dạy bơi, do đặc điểm môn bơi hoạt động trong môi trường xa lạ so
với các hoạt động trên cạn, đồng thời kỹ thuật bơi gồm các động tác phối hợp
của toàn thân theo một yếu lĩnh kỹ thuật và một nhịp điệu riêng biệt. Bởi vậy
việc dạy bơi sẽ rất khó hoàn thành tốt nếu như không biết vận dụng các BTBT
kỹ thuật cũng như các loại BTBT thể lực một cách hợp lý. Do vậy có thể nói,
BTBT có vai trò rất quan trọng trong dạy học các động tác kỹ thuật trong bơi
lội. Trong dạy bơi, nếu sử dụng được các BTBT một cách hợp lý sẽ giúp cho
người học nhanh chóng nắm bắt được các kỹ thuật riêng lẻ và sẽ không bị mắc
các sai sót nghiêm trọng trong học bơi. Đồng thời có thể bổ sung kịp thời những
mặt yếu về kỹ thuật, thể lực để thông qua đó giải quyết những nhiệm vụ chuyển
dịch trình đọ của người tập lên một trình độ cao hơn.
Hiệu quả dạy học TDTT nói chung và dạy bơi nói riêng chỉ được nâng cao
khi việc lựa chọn sử dụng các bài tập có nội dung và lượng vận động hợp lý.
Tóm lại, có thể nói trong dạy học bơi lội các BTBT có vai trò hết sức quan
trọng giúp cho người học nắm được kỹ thuật chính xác, rút ngắn được thời gian
học biết bơi và phát triển các năng lực còn thiếu để đạt được thành tích bơi tốt
hơn.
1.3. ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT KIỂU BƠI TRƯỜN SẤP.
Bơi trườn sấp là một trong 4 kỹ thuật bơi thể thao, song nó lại là kiểu bơi
thể thao quan trọng hàng đầu bởi lẽ: Trong thi đấu bơi, các nội dung thi đấu có
sự hiện diện của bơi trườn là nhiều nhất. Ví dụ trong 34 cự ly thi đấu bơi của
Olympic thì có tới trên dưới 20 cự ly bơi có kỹ thuật bơi trườn sấp, như nam nữ
đều có các cự ly thi đấu 25m, 50m, 100m, 200m,400m, 800m, 1500m; tiếp sức 4
x 100m, 4 x 200m; tiếp sức hỗn hợp 4 x 100m; hỗn hợp cá nhân 200m, 400m.
Do có vai trò quan trọng hàng đầu đó mà người ta thường lấy trình độ bơi
tay trườn sấp đúng lại là kỹ thuật khó. Độ khó của quạt tay trườn sấp được thể
hiện ở đặc điểm quạt tay trườn sấp dưới đây:
- Thứ nhất là quạt nước cong tay. Kỹ thuật tay bơi trườn sấp hiện đại thể
hiện ở đặc điểm này là toàn bộ chu trình quạt tay, tay luôn ở tư thế co khuỷu
nhiều hay ít. Mục đích co khuỷu khi rút tay vung tay và vào nước là để cơ bắp
17
được thả lỏng, tiết kiệm sức và phù hợp với vung tay đường ngắn hơn, tay rút
khỏi nước và vào nước ít cản hơn. Còn cong tay khi tỳ nước kéo nước đẩy nước
là để tăng diện tích lớn hơn và lợi dụng hình dáng lướt nước của bàn tay cẳng
tay và cánh tay tốt hơn, giúp tạo ra lực kéo và đẩy nước cao hơn.
- Thứ hai là quạt nước theo đường cong (hình chữ S ngược với tay phải và
S xuôi với tay trái). Theo các nhà sinh cơ học thì quạt nước đường cong sẽ làm
cho bàn tay, cẳng tay tránh được tình trạng luôn ở vào “tầng chảy” của cơ thể và
“tầng chảy” của các bộ phận quạt nước, từ đó tạo ra điểm tỳ vững chắc hơn góp
phần tăng hiệu quả quạt nước.[28], [44], [47].
- Thứ ba là sự phối hợp của 2 tay phần lớn là phối hợp giữa và phối hợp
trước. Nghĩa là điểm giao nhau của tay quạt và tay vung gặp nhau trên 1 mặt
phẳng nằm ở phía giữa hoặc phía trước trục vai.
Hiện nay những VĐV bơi trườn xuất sắc của thế giới, hiệu lực quạt tay
thường chiếm khoảng 80 - 85% tổng hiệu lực đẩy cơ thể tiến về phía trước. [46].
- Thứ 4 là kỹ thuật thở trong bơi trườn sấp khác với thở của các kiểu bơi
khác ở chỗ: Khi thở ra cần thở 90% lượng khí ở dưới nước với tốc độ ra từ từ
thở ra bằng mồm và mũi. Sau đó, khi tay bên thở bắt đầu kéo nước thì quay đầu
sang hõm sóng há miệng ra thở nốt 10% khí cần thở ra rồi nhanh chóng hít vào
bằng mồm đúng vào lúc tay đẩy nước từ vai ra sau. Cuối cùng, quay đầu về vị trí
cũ rồi nín thở chờ thực hiện chu kỳ sau.
Rõ ràng ở đây ta thấy giữa tay và thở cần phối hợp nhịp nhàng, quạt tay
phải tạo ra hõm sóng trước mặt, phía bên thở để giúp cho VĐV không cần quay
thân người và đầu nhiều đã có thể đưa mồm vào khoảng không của hõm sóng để
thở một cách thoải mái mà không bị sặc nước. Hay nói cách khác quạt tay đã tạo
phân tích, làm mẫu động tác giúp cho học sinh sơ bộ nắm được yếu lĩnh kỹ thuật
và hình thành dần biểu tượng động tác. Tiếp đó, qua quá trình tập luyện lặp lại
và sự nhắc nhở uốn nắn của người dạy, học sinh sẽ bước đầu hình thành mối liên
hệ tạm thời các phản xã có điều kiện trên vỏ đại não. Tuy vậy ở giai đoạn này sự
19
hưng phấn còn đang lan toả nên động tác thường có biểu hiện căng thẳng, không
nhịp điệu, còn nhiều động tác thừa, đặc biệt là trong động tác thở thường thực
hiện vội vàng, không sâu.
Trong giai đoạn lan toả này, giáo viên cần nắm vững các khâu trọng điểm,
then chốt của kỹ thuật để nhắc nhở và cường hoá, đồng thời không nên có yêu
cầu quá cao đối với các chi tiết động tác.
Trong giai đoạn này làm mẫu động tác cần phải chuẩn mực (hoặc cho xem
tranh ảnh, băng hình kỹ thuật) để làm cho người học sơ bộ hiểu và hình thành
được biểu tượng động tác đúng.
Do bơi lội là môn thể thao hoạt động trong môi trường nước, một môi
trường tương đối xa lạ với con người. Do vậy, thời gian nắm động tác sơ bộ
thường kéo dài hơn so với các môn thể thao ở trên cạn; Sau khi người dạy giảng
giải phân tích làm mẫu và tiến hành tập luyện sơ bộ ở trên cạn, cần phải nhanh
chóng cho học sinh xuống tập luyện ở dưới nước. Mặt khác, giai đoạn này
thường là giai đoạn học sinh dễ xảy ra sự cố đuối nước; Do đó trong dạy học
phải hết sức coi trọng khâu an toàn giảng dạy.
1.4.2. Giai đoạn cải tiến và nâng cao kỹ thuật động tác.
Ở giai đoạn này, người học tiến hành sửa chữa những sai sót và nắm vững
động tác chính xác, nâng cao tính nhịp điệu và chất lượng động tác. Thông qua
tập luyện lặp lại nhiều lần, làm cho động tác nhịp nhàng và bơi được nhanh hơn,
xa hơn. Cũng qua tập luyện ở giai đoạn này làm cho mối liên hệ tạm thời của
các phản xạ có điều kiện trên vỏ đại não sẽ được chuyển dần từ giai đoạn lan toả
sang giai đoạn ức chế phân biệt. Nắm vững đặc điểm của giai đoạn này người
giáo viên cần phát hiện và xác định nguyên nhân của sai sót và tiến hành sửa
chữa sai sót. Để thực hiện được việc nhanh chóng nâng cao trình độ kỹ thuật
động cơ ý thức học tập, trình độ bơi ban đầu... cũng như các điều kiện khách
quan khác nên đối với từng đối tượng cụ thể thời gian ở 3 giai đoạn này cũng
kéo dài ở mức độ khác nhau. Mặt khác thời gian của ba giai đoạn này còn quan
hệ chặt chẽ với năng lực và kinh nghiệm dạy học của người thầy. Nếu người
21
thầy giỏi có kinh nghiệm giảng dạy biết sử dụng hợp lý các phương pháp giảng
dạy, tìm ra những điểm mấu chốt trong kỹ thuật, phát hiện kịp thời và chẩn đoán
đúng nguyên nhân của các sai sót kỹ thuật, sử dụng đúng các biện pháp sửa
chữa... thì thời gian cần dùng để hoàn thành mỗi giai đoạn sẽ rút ngắn lại. Từ đó
mang lại hiệu suất cao trong dạy bơi.
1.5. CÁC QUY LUẬT BIẾN ĐỔI HOẠT ĐỘNG CHỨC NĂNG SINH LÝ
CỦA CƠ THỂ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY BƠI NÓI CHUNG VÀ BƠI
TRƯỜN SẤP NÓI RIÊNG.
1.5.1. Quy luật biến đổi năng lực hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể.
Theo các nhà sinh lý và lý luận dạy học TDTT trong và ngoài nước như
Lưu Quang Hiệp (1995), Harre (1996), Diên Phong (1999) thì trong các môn thể
thao nói chung và môn bơi lội nói riêng sẽ tạo ra sự biến đổi các năng lực hoạt
động chức năng của cơ thể, những biến đổi đó theo những quy luật sau.
- Khi bắt đầu vận động, cơ thể chịu ảnh hưởng của tính ỳ sinh lý làm cho
các hoạt động chức năng của các hệ thống cơ quan trong cơ thể từ trình độ
tương đối thấp tăng dần lên trình độ cao hơn. Quá trình này được gọi là quá trình
tăng dần. Một thời gian sau đó, năng lực hoạt động của chức năng cơ thể được
ổn định và duy trì ở mức cao, đồng thời duy trì trong sự dao động không lớn.
Giai đoạn này được gọi là giai đoạn ổn định. Hoạt động chức năng cơ thể đạt
được mức độ nhất định sẽ tạo ra mệt mỏi, năng lực hoạt động chức năng cơ thể
suy giảm và phục hồi được gọi là giai đoạn giảm thấp và phục hồi. Quá trình
năng lực hoạt động chức năng của cơ thể từ giai đoạn tăng lên đến giai đoạn ổn
định rồi chuyển sang giai đoạn giảm thấp và hồi phục được gọi là quy luật biến
đổi năng lực hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể.
Cường độ, thời gian kéo dài các giai đoạn của quá trình dài hay ngắn, lớn
quy luật thích ứng của cơ thể.
Trong quá trình dạy bơi nói chung và dạy bơi trườn sấp nói riêng người
dạy phải tích cực sử dụng các bài tập nhằm nâng cao năng lực vận động của
người học. Muốn vậy phải xếp sắp lượng vận động và nghỉ ngơi để có thể tạo ra
hồi phục vượt mức. Từ đó tạo ra sự biến đổi cơ thể mang tính thích ứng. [10];
[12]; [20]
1.5.3. Các quy luật mang tính phát triển cơ thể và chuyển đổi kỹ năng của
người học.
Quy luật phát triển cơ thể là chỉ các ảnh hưởng của việc truyền thụ kiến
thức kỹ năng các môn TDTT làm cho cơ thể cũng tạo ra sự phát triển về thể
chất. Ngược trở lại sự phát triển thể chất trong học tập lại giúp cho người học
nắm bắt tốt hơn đối với các kỹ thuật. Nói cách khác, trong dạy học thì giữa học
tập kỹ thuật với phát triển thể chất là một quá trình thống nhất có mối quan hệ
ràng buộc lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau và là một trong những quy luật không
chịu sự chi phối của ý chí con người.
Trong quá trình giảng dạy TDTT nói chung và bơi lội nói riêng, tồn tại một
quy luật khác nữa đó là quy luật chuyển đổi kỹ năng. Theo các nhà khoa học về
sinh lý thể thao, sự phát triển cơ thể của nguời học, một mặt có đặc điểm và quy
luật phát triển phát dục tự nhiên về mặt sinh lý và tâm lý. Vì vậy dạy học TDTT
cần phải thích ứng với quá trình phát triển này. Một mặt khác lại có tính tái tạo
sự phát triển. Dạy học TDTT cần phải xem xét một cách khoa học tiềm lực phát
triển của nó để thúc đẩy sự phát triển đối với cơ thể và không ngừng cải tiến
phát triển phương pháp dạy học. Nhà lý luận dạy học Ngô Chí Triêu (Trung
Quốc) đã mô tả quá trình phát triển của cơ thể người học trong quá trình dạy học
như biểu đồ dưới đây. [51].
24
Biểu đồ 2: Biểu đồ biểu thị tính phát triển cơ thể của người học (thanh,
thiếu niên - nhi đồng) trong quá trình dạy học TDTT.
3
2 Quá trình dạy học TDTT