Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nâng cao hiệu quả ném rổ cho vị trí hậu vệ đội tuyển bóng rổ nữ trường đh TDTT bắc ninh - Pdf 30

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết: Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa
xã hội, nó ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, trong
xã hội hiện nay TDTT ngày càng có vai trò quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn
đến cuộc sống của con người. TDTT là một loại hình hoạt động mà phương tiện
cơ bản là các bài tập thể lực nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao
thành tích thể thao. TDTT góp phần làm cho cuộc sống của con phong phú và
giáo dục con người phát triển toàn diện, tập luyện TDTT giúp con người nâng
cao được sức khỏe, đáp ứng được yêu cầu về học tập, lao động, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, và quan trọng hơn TDTT còn giúp mọi người trên
thế giới đoàn kết, gắn bó với nhau tạo nên sự hòa bình, hữu nghị giữa các dân
tộc trên thế giới. Thông qua các cuộc thi đấu giao hữu, các kỳ thi đấ khu vực,
đại hội Olympic…
Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước TDTT Việt Nam ngày nay đẵ có
những chuyển biến tíc cực theo hướng đông hơn về số lượng vận động viên
(VĐV), tốt hơn về chất lượng, đảm bảo tốt về việc bồi dưỡng tài năng thể thao,
chuẩn bị tốt cho VĐV tham gia các cuộc thi đấu lớn điiều đó được minh chứng
bởi những tấm huy chương vàng mà các VĐV đem về từ những đấu trường khu
vực và trên thế giới, ở những môn thể thao mũi nhọn như võ, cờ vua, điền kinh,
bắn súng…
Bóng rổ ra đời ở Mỹ năm 1891, là môn thể thao thi đấu đối kháng trực
tiếp nó đòi hỏi các VĐV hoạt động với cường độ lớn, có sự phát triển toàn diện
về thể lực, sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khẳ năng phối hợp, có tính kỷ luật
cao, tâm lý vững vàng… Vì thế nhiều môn thể thao còn sử dụng bóng rổ để rèn
luyện thể lực, ý trí, tâm lý cho các VĐV. Qua quá trình hình thành và phát triển,
bóng rổ là một trong những môn thể thao nằm trong hệ thống thi đấu của
Olympic.
1
Ở Việt Nam, môn bóng rổ du nhập vào những năm 30 của thế kỷ XX, chủ
yếu phát triển ở các tỉnh thành như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và trong
quân đội. Qua quá trình thăng trầm của lịch sử, bóng rổ hiện tại dẵ thực sự phát

bóng tập hợp nhiều các thành phần trong đó đa số là các sinh viên mới bắt đầu
tập luyện cùng với một số vận động viên đã qua tuổi thi đấu về đi học. Hiện nay
lực lượng hậu vệ của đội hiện đang gặp khó khăn một phần là do thành phần của
đội tuyển cũ đã ra trường, các vận động viên trẻ thì chưa đáp ứng được yêu cầu
cao của hậu vệ một đội bóng. Chính vì vậy việc nâng cao hiệu quả thi đấu cho
các vận động viên vị trí hậu vệ nói riêng và của toàn đội nói chung là đặc biệt
quan trọng.
Tham khảo nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả, chúng tôi thấy
cũng đã có tác giả nghiên cứu về một số bài tập nâng cao hiệu quả ném rổ vị trí
hậu vệ cho nam sinh viên chuyên sâu như tác giả Nguyễn Tiến Đạt năm 2008.
Nhưng chưa thấy tác giả nào đi sâu nghiên cứu lựa chọn bài tập nâng cao hiệu
quả ném rổ cho đội tuyển nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh. Xuất phát từ lý do
trên, cùng với sự giúp đỡ của thầy cô trong bộ môn vì vậy chúng tôi tiến ành
nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nâng cao hiệu quả ném rổ cho vị trí
hậu vệ đội tuyển bóng rổ nữ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.”
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng hiệu quả thi đấu
của các hậu vệ đội tuyển nữ trường đại học TDTT Bắc Ninh, cũng như đánh giá
chương trình huấn luyện tại trường. Chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra
các bài tập có hiệu quả cao nhất nâng cao hiệu quả ném rổ cho cho đội tuyển nữ
trường ĐH TDTT Bắc Ninh. Thông qua đó góp phần nâng cao cất lượng đội
tuyển nữ bóng rổ nói riêng và hiệu quả học tập môn bóng rổ trong trường ĐH
TDTT Bắc Ninh nói chung.
Mục tiêu nghiên cứu: Để thực hiện mục đích của đề chúng tôi đã đề ra
và tiến hành giải quyết hai mục tiêu:
3
1. Đánh giá thực trạng hiệu quả ném rổ của vị trí hậu vệ trong đội tuyển
nữ bóng rổ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.
2. Nghiên cứu lựa chọn và đánh giá hiệu quả các bài tập ném rổ cho vị trí
hậu vệ của đội tuyển nữ bóng rổ trường ĐH TDTT Bắc Ninh.

khả năng ném rổ tốt và gần cầu thủ có trình độ cao khác của đối phương, tập
5
trung chống lại trung phong nguy hiểm đang có bóng và chống lại sự đột phát
ném rổ;
- Đội phòng thủ kèm người chặt, tích cực tranh bóng và chiếm vị trí trên từng
điểm của sân, giành quyền chủ động trận đấu, không cho đối phương tự do nhận
và khống chế bóng và thi đấu theo sự chuẩn bị phối hợp được tính từ trước;
- Hoàn thiện hơn nữa khả năng đua tranh sức mạnh tốc độ của hậu vệ với tiền
đạo, làm phong phú các kỹ thuật động tác yểm hộ, kết hợp phòng thủ khu vực và
kèm chặt tiền đạo ở sân đôi phương và ở rổ của đội mình;
- Nâng cao tính linh hoạt, năng động của tất cả 5 vận động viên bóng rổ trên cơ
sở rút ngắn quá trình chuẩn bị, sử dụng hợp lý các hành đọng phối hợp cực
nhanh của tiền đạo khi chơi với tốc độ lớn;
- Kết hợp một cách thông minh lối chơi phối hợp đã được chuẩn bị kỹ bằng cách
chơi toàn sân và hướng toàn đội vào phản công nhanh (đặc biệt là sau khi đối
phương ném rổ thành công);
- Không cứng nhắc thực hiện các hình thức và sơ đồ phối hợp đã được chuẩn bị
trước, mà chuyển sang chơi tốc độ và cơ động dựa trên cơ sở tư duy chiến thuật
toàn diện, khả năng dự đoán tình huống thi đấu và sự lựa chọn linh hoạt các
quyết định phù hợp của vận động viên;
- Mở rộng một cách hợp lý khu vực thi đấu của trung phong và tiền phong để tạo
khả năng cho mỗi vận động viên biểu hiện trình độ tài nghệ, tư duy sáng tạo và
phối hợp toàn diện của mình, để tăng độ linh hoạt về chiến thuật của cả đội, đảm
bảo khả năng thay thế cho nhau giữa các vận động viên, nâng cao hiệu quả chỉ
đạo tập thể trong cả giải căng thẳng kéo dài và trong từng trận đấu;
- Sử dụng toàn diện và hiệu quả những khả năng cá nhân và tố chất thể lực của
các vận động viên ngoại hạng, độ ổn định, niềm tin của họ vào lợi ích của đội;
- Nâng cao đáng kể các khả năng chức phận của cơ thể, sức bền nhanh - mạnh
của VĐV trên cơ sở chuẩn bị thể lực tốt, nhờ đó đảm bảo tính kiên định, tin
6

sân khi tạm thời mất quyền khống chế bóng (thời điểm tranh cướp bóng này cần
phải hỗ trợ chặt cho đồng đội);
- Tấn công nhanh với tốc độ lớn bằng cách chuyền bóng mạnh, xa qua
toàn sân bằng một tay;
- Điền khiển nhịp độ các kỹ năng vận động thi đấu một cách thoải mái;
- Những động tác chống lại có hiệu quả đối với VĐV đối phương ném rổ
là đột ngột tiến gần đến đối phương đó sau khi kết thúc dẫn bóng từ phiá chân
đang ở trước và tác động mạnh vào bóng để che bóng bằng “bước dài” tới bảng
và ném bóng;
- Mở rộng khả năng phối hợp thi đấu của trung phong bằng cách tăng
cường các động tác tấn công, dứt điểm được thực hiện khi mặt quay về hướng
rổ.
1.2. Đặc điểm huấn luyện bóng rổ [11].
Trong công tác huấn luyện và thi đấu bóng rổ đặc biệt quan tâm nâng cao
lượng vận đông tối đa, chú trọng hoàn thiện các kỹ thuật chuyên môn, các kỹ
thuật sở trường của từng VĐV để thích ứng với nhịp độ thi đấu, cường độ cao
luôn biến đổi. Toàn diện hóa lối chơi và chức năng của các cầu thủ. Huấn luyện
toàn diện các vị trí trong các giai đoạn thi đấu khác nhau và đặc biệt huấn luyện
về tâm lý cho các cầu thủ là không thể thiếu trong công tác huấn luyện VĐV các
môn bóng nói chung cũng như môn bóng rổ nói riêng. Trong huấn luyện phải
biết kết hợp chặt chẽ giữa trí tuệ bẩm sinh với tiếp thu, bổ sung hình thành
nhanh các kĩ năng vận động kinh nghiệm thi đấu của đội thông qua các cuộc thi
đấu lớn.
8
Huấn luyện thể lực chung đảm bảo sự phát triển toàn diện của VĐV bóng
rổ và tạo những tiền đề để biểu hiện những tố chất thể lực chuyên môn có hiệu
quả nhất trong môn thể thao đã chọn. Nó cần có tính định hướng đặc thù cụ thể
là: củng cố các cơ quan và hệ thống của cơ thể VĐV đáp ứng với những đòi hỏi
của môn bóng rổ, tạo khả năng mang lại hiệu quả tập luyện từ những bài tập
chuẩn bị để thực hiện những phối hợp cơ bản.

hiện sức nhanh trong các tình huống không ngừng thay đổi, khi có đủ các yếu tố
cản phá (sự phản công của đối phương, bị căng thẳng tâm lý, bị mệt mỏi). Và
với toàn bộ tầm quan trọng của phản ứng nhanh, kết quả cuối cùng phụ thuộc
vào khả năng nhanh chóng tăng tốc độ (tăng tốc xuất phát) và đạt tốc độ tối đa,
cũng như phụ thuộc vào khả năng duy trì tốc độ này và chống lại sự mệt mỏi
(tốc độ cự ly).
Các năng lực tốc độ là cái nền để xuất hiện các mặt của tốc độ như sức
nhanh thực hiện ném rổ, chuyền và dẫn bóng, tốc độ giải quyết những nhiệm vụ
chiến thuật.
1.2.3. Huấn luyện sức bền.
Bóng rổ sức bền có những đặc điểm tiêu biểu là lượng vận động tập luyện
và thi đấu cũng như nhịp độ thi đấu rất cao, các động tác kỹ thuật được thực
hiện với tốc độ lớn trong khi có sự phản công của đối phương, áp dụng các hệ
thống phòng thủ và tấn công tích cực, đột phá tấn công nhanh và phòng thủ kèm
người toàn sân. Thời kỳ thi đấu kéo dài, cùng sự căng thẳng cao độ của các trận
đấu giải và các cuộc thi riêng lẻ đòi hỏi phát triển sức bền đến trình độ cao, tức
là phải có khả năng chống lại chống lại sự mệt mỏi do thực hiện vận động thi
đấu gây ra. VĐV bóng rổ có sức bền ổn định sẽ có khả năng duy trì trạng thái
sung sức thể thao trong thời gian lâu, có thể biểu hiện tính tích cực vận động
không những trong một trận đấu mà cả suốt thời gian của giải, có thể biểu diễn
10
kỹ thuật một cách hiệu quả và ổn định hơn, có thể có tư duy chiến thuật nhanh
và có thể đạt kết quả tốt hơn.
1.2.4. Huấn luyện tố chất khéo léo.
Khéo léo là khả năng thực hiện những động tác phối hợp vận động phức
tạp, cũng như khả năng giải quyết nhanh và chính xác nhiệm vụ vận động tương
ứng với tình huống thay đổi.
Khéo léo là một tố chất tổng hợp, trong đó có sự phối hợp hữu cơ giữa
biểu hiện trình độ cao về sức mạnh và sức nhanh với khả năng phối hợp vận
động và đảm bảo độ chính xác của các VĐV trong các tình huống thi đấu thay

căn cứ vào sự phát triển và hoàn thiện của trình độ điêu luyện thể thao mà yêu
cầu của huấn luyện kĩ thuật chung phải được nâng lên một cách tương đối.
Xu hướng thi đấu bóng rổ hiện đại quyết định phương hướng huấn luyện
kĩ thuật, chỉ có thể đạt được thành tích cao qua quá trình huấn luyện kĩ thuật
toàn diện cho VĐV. Muốn vậy, VĐV bóng rổ cần :
- Nắm vững tất cả các động tác thi đấu bóng rổ hiện đại và thực hiện
chúng trong những điều kiện khác nhau.
- Biết phối hợp các động tác theo sở thích bất kỳ tuần tự nào trong những
điều kiện di chuyển khác nhau.
- Nắm vững tổ hợp các yếu lĩnh động tác hay phải sử dụng nhiều trong thi
đấu và thực hiện chúng sao cho có hiệu quả nhất, việc thi đấu phối hợp sắc bén
đòi hỏi phải sử dụng tối đa mọi khả năng và đặc điểm của cá nhân.
- Thường xuyên hoàn thiện các yếu lĩnh động tác, đồng thời tăng kĩ năng
phối hợp thực hiện chúng.
Qúa trình huấn luyện cần tổ chức sao cho có thể không ngừng tăng yêu
cầu đối với mức độ phát triển các năng lực vận động của VĐV để đảm bảo tiến
hành thi đấu trong những điều kiện “ một chọi một” ngày càng căng thẳng hơn.
12
Việc nắm vững kĩ thuật hợp lý trong thời gian ngắn nhất đòi hỏi phải biết
được cách chơi và phương pháp xây dựng kế hoạch huấn luyện nhiều năm.
Trong từng giai đoạn huấn luyện phải đề ra cho VĐV những nhiệm vụ rõ ràng
để căn cứ vào đó tiến hành chọn lựa những phương pháp và phương tiện huấn
luyện thích hợp .
Những nhiệm vụ hoàn thiện kĩ thuật được thay đổi theo lứa tuổi và tăng
trình độ chuyên môn của VĐV. Qúa trình huấn luyện nhiều năm được quy ước
chia ra làm 3 giai đoạn :
- Chuẩn bị kĩ thuật ban đầu.
- Ổn định và hoàn thiện kĩ thuật.
- Đạt trình độ tài nghệ thể thao cao.
Việc chuẩn bị kĩ thuật, cũng giống như huấn luyện thể lực toàn diện, cần

Trước hết, huấn luyện chung cho VĐV phải bao gồm các phương tiện giáo dục
thể chất toàn diện, đặc biệt là các bài tập tác động có hiệu quả đến phát triển các
tố chất thể lực và làm phong phú vốn kĩ năng kĩ xảo cần thiết trong đời thường.
Hai là, nội dung huấn luyện chung cho VĐV cần phản ánh đặc điểm chuyên
môn hóa thể thao, trong quá trình nâng cao trình độ tập luyện có thể nảy sinh
những tác động dương tính và âm tính giữa các mặt khác nhau trên. Do đó, các
phương tiện huấn luyện chung của VĐV cũng cần phải chuyên môn hóa để tận
dụng đến mức cao nhất sự chuyển tốt của trình độ thể lực và cố gắng loại trừ
hoặc làm giảm hiệu ứng của sự chuyển xấu. Như vậy, nội dung huấn luyện
chung của VĐV cũng phải phản ánh đặc điểm của chuyên môn hóa thể thao.
Các bài tập huấn luyện chung trong quá trình tập luyện thể thao có chức
năng sau :
+ Hình thành, củng cố hồi phục kĩ năng- kĩ xảo có tác động bổ trợ đối với
môn thể thao lựa chọn ( nghĩa là đặt nền móng cho các kĩ năng- kĩ xảo, kĩ thuật,
14
chiến thuật) có tác động trau dồi (theo cơ cế chuyển tốt kĩ năng), hoặc khi cần
thiết để thực hiện hợp lí các bài tập theo hướng phát triển các năng lực thể chất.
+ Là một phương tiện để giáo dục các năng lực thể chất chưa được phát
triển đầy đủ ở môn thể thao lựa chọn, nâng cao hoặc duy trì trình độ năng lực
hoạt động chung.
+ Là một yếu tố nghỉ ngơi tích cực, có tác động đáng kể tới quá trình hồi
phục sau lượng vận động lớn để phòng tránh sự đơn điệu trong tập luyện.
Các bài tập huấn luyện chung và huấn luyện chuyên môn có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Trước hết, các bài tập xuất phát từ mục đích chủ yếu của hoạt
động thể thao phục vụ cho đời sống. Các bài tập huấn luyện chung, một mặt tạo
tiền đề cho các bài tập huấn luyện chuyên môn, đồng thời lại phản ánh những
đặc điểm chuyên môn hóa thể thao.
Trái lại, các bài tập huấn luyện chuyên môn lại luôn luôn xuất phát từ các
tiền đề do các bài tập huấn luyện chung mang lại. ở đây, cũng cần nhớ rằng có
những bài tập hầu như đứng giữa hai loại đó. Đó là những bài tập có hình thức

1.2.6. Huấn luyện tâm lý.
Khi nói về đặc điểm diễn ra các quá trình cảm giác vận động trong cơ thể
VĐV cần phải nhấn mạnh rằng các phản ứng phức tạp là những yếu tố thành
phần của các năng lực chuyên môn của VĐV Bóng rổ. Tính hiệu quả của những
bài tập thi đấu như chuyền bóng, ném phạt, bắt bóng bật bảng, ném bóng rổ từ
các vị trí khác nhau có liên quan chặt chẽ với các chỉ số định hướng cảm giác
vận động. Những điều có ý nghĩa dự báo tốt nhất đối với VĐV là: phản xạ lựa
chọn, phản xạ dự báo các khả năng có thể xảy ra, phản xạ đoán trước và “cảm
giác thời gian”.
Việc thi đấu luôn diễn ra trong khi có sự phản công tích cực và trong các
tình huống thường xuyên thay đổi. Vì thế cho nên xuất hiện sự đòi hỏi phải có
16
tư thế tư duy chiến thuật hay tư duy tác chiến của VĐV. Đặc điểm tư duy chiến
thuật của VĐV Bóng rổ là trong khi sử dụng các kỹ xảo chiến thuật đồng thời
thực hiện chiến thuật của mình ( thực tế VĐV có thể thấy ngay kết quả thực hiện
chúng).
Độ nhanh của các quá trình tư duy là một đặc điểm không kém phần quan
trọng của tư duy chiến thuật trong bóng rổ. Đặc điểm về sức nhanh tư duy biểu
hiện:
- Khi cần đánh giá ngay lập tức tất cả các đặc điểm về tình huống trong
thi đấu.
- Khi cần tính đến khả năng thay đổi của tình huống.
- Trong trường hợp thông qua quyết định kéo dài trong những điều kiện
căng thẳng về cảm xúc.
Như vậy hiệu quả của hoạt động thể thao phụ thuộc vào tất cả các biểu
hiện tâm lý do các tác động tâm lý tạo nên.
1.3. Huấn luyện ném rổ cho vị trí hậu vệ trong Bóng rổ hiện đại [11].
Ngày nay trước sự phát triển của xã hội đòi hỏi sự hoàn thiện không
ngừng các phương pháp nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực của đời sống và
hoạt động của con người, trong đó việc dự báo chiếm một vị trí đặc biệt quan

Nói tóm lại, xu thế phát triển của một môn bóng biểu hiện ở tính năng
động, tính tích cực của từng cầu thủ, ở chất lượng hiệu quả các hành động thi
đấu của họ, uy tín và tính phổ cập của từng môn bóng.
Bóng rổ là một môn thể thao mang tính nghệ thuật, có tác dụng tăng
cường sức khỏe, phát triển toàn diện con người không chỉ về thể lực mà còn bồi
dưỡng cả về trí dục và đức dục. Ngày nay, bóng rổ không không chỉ phát triển
về chiều rộng (trên toàn thế giới) mà còn phát triển mạnh cả về chiều sâu. Trình
độ của các đội bóng thường xuyên được nâng cao. Các chỉ số về kĩ thuật, chiến
18
thuật, tính hiệu quả, tính vững chắc, tính tích cực trong các hành động tấn công
và phòng thủ giữa các đội hàng đầu có xu thế ngày càng được nâng cao. Do đó
tính cạnh tranh giữa các đội ngày càng khốc liệt.
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây trình độ kĩ thuật chiến thuật của các
VĐV các đội mạnh luôn có sự tiến bộ không ngừng, chủ yếu là trình độ tấn công
của các cá nhân phát triển nhanh biểu hiện cụ thể ở quá trình thực hiện các động
tác kĩ thuật, động tác giả, tốc độ và ném bóng chính xác ở các cự ly xa với các vị
trí khác nhau, cùng với đó là xu hướng huấn luyện các kĩ chiến thuật tấn công
nhằm chia rẽ sự liên kết giữa các vị trí pòng thủ của đối phương. Trong xu
hướng này người ta thường tập trung huấn luyện chiến thuật tấn công nhanh,
hoặc huấn luyện chiến thuật tấn công khu vực ở phạm vi xa rổ. Chiến thuật tấn
công khu vực ở phạm vi xa rổ là chiến thuật sử dụng các miếng phối hợp yểm
hộ, truyền nhanh tao ra những khoảng trống thuận lợi để đồng đội có thể ném dễ
dàng ở cự ly xa (ngoài vòng 3 điểm).
Hiện nay trên thế giới, đa số các đội mạnh có đẳng cấp cao như:
Arghentina, Mỹ, Italia…thường vận dụng hệ thống chiến thuật tấn công khu
vực, sử dụng nhiều các miếng phối hợp yểm hộ và phát huy tối đa khả năng ném
rổ của vị trí hậu vệ đặc biệt là ở cự ly xa (3 điểm) của VĐV. Việc tăng cường sử
dụng các kĩ thuật ném rổ xa ở các vị trí khác nhau của hậu vệ đã gây ra nhiều
khó khăn cho khâu phòng thủ, nó kéo giãn đội hình phòng thủ của đối phương,
bẻ gẫy các mối liên kết phòng ngự, tạo ra được nhiều khoảng trống gần rổ giúp

Một số nước Châu Á , Đông Nam Á có nền bóng rổ phát triển như : Hàn
Quốc, Trung Quốc, Philipin…. Cũng đã mạnh dạn áp dụng kĩ thuật này và đã
đạt được hiệu quả cao trong các giải quốc gia cũng như khu vực. Ở Việt Nam
mặc dù đã có những đội, VĐV mạnh dạn ứng dụng vào thi đấu, nhưng do điều
kiện thể lực ( nhất là sức bền chuyên môn) khả năng duy trì lâu dài kĩ thuật động
tác trong thi đấu để có hiệu quả chưa cao.
20
Đánh giá trình độ thi đấu của VĐV Việt Nam qua quan sát một số giải
đấu trong nước và quốc tế ta nhận thấy một số nhược điểm như sau :
- Tâm lý thi đấu chưa ổn định.
- Kỹ thuật tấn công chưa hoàn hảo điêu luyện.
- Tầm vóc chiều cao còn khiêm tốn .
- Kỹ thuật phòng ngự còn kém.
- Thể lực giảm sút nhanh chóng ở các hiệp cuối.
Tính chất quyết liệt của các trận đấu yêu cầu mỗi VĐV phải có kĩ thuật
điêu luyện , thể lực chuyên môn hoàn hảo mới đáp ứng được cường độ thi đấu ở
mức cao và căng thẳng. Trong điều kiện như vậy người ta cho rằng ném rổ của
vị trí hậu vệ ở các vị trí khác nhau, ở cự ly xa cần được thực hiện ngay cả trong
các điều kiện thi đấu mạo hiểm và thần kinh căng thẳng nhất. Do đó, VĐV phải
rèn luyện cho chính mình một bản lĩnh tâm lý thi đấu cực kỳ vững vàng trên cơ
sở đã được chuẩn bị kĩ lưỡng về mọi mặt.
1.4. Đặc điểm tâm - sinh lý của VĐV lứa tuổi 18 – 20 [ 9].
1.4.1. Đặc điểm tâm lý.
Ở lứa tuổi này mà thời kì tăng trưởng cơ thể đã đạt tới trình độ hoàn thiện
và được coi là một hiện tượng xã hội, đặc biệt là đối với phái nữ, họ biết xoáy
vào những quan hệ bản chất bên trong, tỏ ra có vẻ nhạy bén nhạy cảm với cái
mới, đặt ra giả thiết táo bạo không ghi nhớ một cách máy móc, nhớ chung chung
ít cụ thể và thiếu chính xác. Họ có những ước mơ lớn và muốn làm những việc
có ý nghĩa lớn lao, lý tưởng mang tính đậm màu sắc tảng mạng và có đời sống
tình cảm phong phú, sâu sắc, họ rất nhạy cảm về đạo đức, phát hiện nhanh sự

nhỏ huyết áp tối đa của các em đạt tới 120mmHg, huyết áp tối thiểu đạt
90mmHg. Chứng tỏ sự co bóp của tim và sự lưu thông máu đã khá mạnh mẽ.
22
- Hệ hô hấp:
Sự phát triển của cơ quan hô hấp đã khá mạnh phế nang và dung tích sống
đã cao hơn, cơ gian sườn phát triển nhanh và cơ hoành phát triển tương đối
khoẻ, tần số hít thở đã gần ổn định và chậm, ở nữ tần số hít thở kém hơn và độ
sâu hô hấp cao hơn, với lý do đó ngoài việc vận dụng các bài tập chuyên môn
cho phép lượng vận động lớn, cần phải hướng tới cho các em hít thở đều hơn.
- Hệ thần kinh:
Sự phát triển thể hình đã đi đến hoàn thiện. Kích thước não và hành tuỷ đã
đạt đến mức của người trưởng thành, hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ não
tăng lên, tư duy trìu tượng đã hình thành tốt. Mức độ tiếp thu các kỹ xảo động
tác, kỹ năng kỹ xảo đã đạt tới mức độ cao, rất thuận lợi cho việc hình thành phản
xạ có điều kiện, quá trình hoạt động của tuyến yên, tuyến giáp phát triển mạnh
mẽ. Tuyến sinh dục của hệ thần kinh làm cho hưng phấn thần kinh chiếm ưu thế.
23
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu nêu trên, trong quá trình nghiên cứu
đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.1. Phương pháp nghiên cứu [ 5].
2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu[ 5].
Phương pháp chủ yếu phục vụ nhiên cứu tổng quan một số vấn đề liên
quan tới đề tài. Chúng tôi đã sử dụng thường xuyên phương pháp này trong quá
trình nghiên cứu nhằm tổng kết các vấn đề về lý luận và sư phạm đặc biệt là hệ
thống hóa các tri thức, kiến thức liên quan tới đề tài. Đồng thời phương pháp
này còn sử dụng để thu thập các số liệu nhằm kiểm chứng và so sánh với các số
liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu. Các tài liệu nghiên cứu phục vụ
đề tài được chúng tôi trình bày cụ thể tại mục tài liệu tham khảo.

2.1.6. Phương pháp toán học thống kê [7].
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong quá trình xử lý các số liệu đã
thu thập được trong thời gian nghiên cứu. Trong toán học thống kê chúng tôi sử
dụng các công thức sau:
x
, t, δ, r.
- Giá trị trung bình:
n
x
x
n
x
i


=
1
- Công thức phương sai:
1
)(
2
2


=

n
xx
i
x


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status