Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệpLỜI MỞ ĐẦU
Xuất phát từ mục đích phục vụ cho công việc ngày càng phát triển sau này, tôi
chọn đề tài “Giám đốc tài chính và việc hoạch đònh chiến lược tài chính trong
DNNN VN” làm đề tựa cho luận văn tốt nghiệp của mình . Về bản thân tôi cho
rằng đây là một đề tài mới và hay nếu được đầu tư đúng mức . Trong quá trình
nghiên cứu, tìm tòi cơ sở để ủng hộ cho quản điểm này, tôi đã bắt gặp ý kiến
của ông Tiến só Trần Tiến Cường - Trưởng ban doanh nghiệp của Viện nghiên
cứu quản lý kinh tế Trung Ương như sau : “ Tôi rất lo ngại về khả năng hoạch
đònh chiến lược, điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh trong một loạt các doanh
nghiệp cổ phần hóa và năng lực vận hành bộ máy, bởi vì theo kinh nghiệm của
các nước đi trước như Singapore, loại doanh nghiệp đặc biệt này phải được vận
hành bởi những người có đầu óc kinh doanh tốt, được đào tạo có bài bản và nhìn
thấy được cơ hội đầu tư trong và ngoài nước”.
Có thể nói điều này hoàn toàn đúng, dân gian có câu “ không lo xa, ắt có buồn
gần”, trên thực tế việc hoạch đònh chiến lược mà đặc biệt là chiến lược tài chính
ví như chuyện biết “lo xa” của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam và
đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà Nước trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã
bộc lộ những yếu kém, hạn chế, đây chính là cản lực rất lớn trong năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Nhận thức được vấn đề này, các doanh nghiệp cần phải
biết nhận diện chính mình, xây dựng chiến lược tài chính trong ngắn hạn và dài
hạn với mục đích giúp doanh nghiệp dự trù trước những tình huống có thể xảy ra
và có những biện pháp đối phó thích ứng trước để hạn chế những rủi ro phát sinh
trong thực tế và đònh hướng phát triển trong tương lai, trên cơ sở đó đó có những
bước phát triển ngày càng vững chắc và toàn diện.
Trang 2
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệpChương 1:
GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH VÀ VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHIẾN
LƯC TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆPI. Chân dung giám đốc tài chính
1. Giám đốc tài chính – Ông là ai ?
Đối mặt với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp, các chuyên gia tài
chính luôn phải trả lời được ba câu hỏi :
• Trong rất nhiều cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết đònh
lựa chọn cơ hội đầu tư nào?
• Doanh nghiệp nên dùng nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn
đầu tư đã được hoạch đònh đó ?
• Doanh nghiệp nên thực hiện chính sách cổ tức như thế nào?
Người trả lời ba câu hỏi trên không ai khác hơn là giám đốc tài chính. Trong
hoạt động của doanh nghiệp, giám đốc tài chính phải là người lèo lái con thuyền
tài chính để cho doanh nghiệp ngày càng phát triển.
riêng và của đất nước nói chung là một việc làm hết sức cần thiết.
Thực tế của những vụ tham nhũng tiêu cực lớn gần đây như một bức tranh minh
hoạ của vấn đề người chủ và người đại diện. Cần hiểu rằng người chủ là người
bỏ vốn ra để đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh và người đại diện
là người thay mặt cho người chủ để điều hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh đó. Chi phí đại diện là chi phí mà hầu như bất cứ người chủ nào cũng có
lường trước, đó là những chi phí mà doanh nghiệp phải chòu khi người đại diện
thực hiện các quyết đònh đầu tư, tài trợ, phân phối có tính đến quyền lợi riêng
tư của chính bản thân mình. Trong khuôn khổ đề tài này, ta xem người đại diện
chính là giám đốc tài chính – một vò trí cực kỳ lý tưởng cho những mưu tính vụ
lợi cá nhân và trốn tránh nghóa vụ đối với Nhà Nước. Chính vì vậy, đạo đức
nghề nghiệp của giám đốc tài chính được đặt lên hàng đầu khi quyết đònh người
giữ vò trí này.
Một minh chứng sống động đó là vào tháng 7 năm 2002, những rung động trên
thò trường tài chính Mỹ qua sự kiện được coi là những vụ phá sản lớn nhất trong
lòch sử nước Mỹ của các công ty Enron, Worldcom…nguyên nhân chính của vấn
đề trên đã được phơi bày, đó chính là cách thức điều hành và quản trò tài chính
của các giám đốc tài chính ở những công ty này đã vi phạm những chuẩn mực
trong nguyên tắc nghề nghiệp và những chuẩn mực về đạo đức. Nhắc đến vấn
đề này để chúng ta thấy rằng chuẩn mực về đạo đức là vô cùng quan trọng nó
không chỉ ảnh hưởng đến một doanh nghiệp, một quốc gia, mà còn ảnh hưởng
đến cả thò trường tài chính của thế giới .
Chính vì lẽ đó, các giám đốc tài chính phải thoả mãn những phẩm chất sau:
Tính trung thực. Tính trung thực của giám đốc tài chính thể hiện qua các báo
cáo tài chính, cách thức sử dụng vốn của giám đốc tài chính trong các dự án đầu
tư, việc xác đònh dòng ngân lưu của dự án khi xây dựng dự án đầu tư. tính trung
Trang 4
khác trong doanh nghiệp như kênh kinh doanh, sản xuất và công tác quản trò.
Việc phản ánh đúng bản chất hoạt động kinh doanh và công khai minh bạch tài
chính làm cho các cổ đông và các nhà đầu tư an tâm hơn về các quyết đònh của
mình và đây chính là cơ sở cho những phát triển bền vững trong tương lai .
2.2 Tố chất thứ hai – Chuyên môn
Cần phải khẳng đònh rằng đây là một vấn đề lớn. Phạm vi công việc của giám
đốc tài chính ngày nay không chỉ giới hạn trong phạm vi kế toán tài chính mà
còn mở rộng ra ở cả lónh vực kinh doanh, thò trường tài chính trong nước và thế
giới, không chỉ giới hạn trong bộ phận quản trò vốn, làm thế nào để xây dựng
một cấu trúc vốn tối ưu, đạt hiệu quả và mang lại lợi ích cao nhất thì ngày nay
giám đốc tài chính là người phải giáp mặt với những thách thức, những đòi hỏi
Trang 5
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệpngày càng cao của công việc, ngoài những công việc thường xuyên, họ còn phải
hổ trợ đắc lực cho cả giám đốc kinh doanh trong việc xây dựng chiến lược doanh
nghiệp
Theo một số thông tin thống kê và nhu cầu tuyển dụng tại một số doanh nghiệp
trên đòa bàn TP. HCM gần đây cho thấy một giám đốc tài chính được tuyển dụng
phải thỏa các tiêu chí sau :
• Thứ nhất phải tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học
• Thứ hai anh ta phải có kinh nghiệm tương đương 10 năm công tác kế
toán tài chính tại các công ty có quy mô
2. Chiến lược tài chính có vai trò quyết đònh trong hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp .
2.1 Nội dung cơ bản của công tác họach đònh chiến lược tài chính .
Hoạch đònh chiến lược tài chính được hiểu như việc xây dựng một lộ trình về tài
chính cho mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của doanh nghiệp, trong mỗi giai đoạn
đều có những đặc điểm riêng biệt về tài chính và giám đốc tài chính là người
“cầm cương nẩy mực”, là người phải biết kết hợp khéo léo các chiến lược để đạt
mục tiêu cao nhất, các chiến lược đó là các chiến lược liên quan đến quyết đònh
về đầu tư, quyết đònh về tài trợ và quyết đònh về phân phối .
Chiến lược tài chính bao hàm một ý nghóa rộng và thường được xây dựng trong
một thời gian tương đối dài xác đònh, gắn với mỗi giai đọan phát triển cụ thể của
doanh nghiệp
Trong quá trình xây dựng chiến lược tài chính cho doanh nghiệp, giám đốc tài
chính hiểu được doanh nghiệp, nắm rõ những biến động và những tác nhân gây
ảnh hưởng đến lónh vực kinh doanh của doanh nghiệp, kết hợp cùng các phòng
ban nắm bắt diễn biến quy luật thò trường. Giám đốc tài chính phải hoạch đònh
chiến lược tài chính bao gồm những nội dung cụ thể như sau :
• Hoạch đònh chiến lược đầu tư hiệu quả
• Hoạch đònh nguồn tài trợ
• Hoạch đònh phân phối .
Các nhà họach đònh tài chính thường dùng một mô hình kế hoạch tài chính để
đánh giá kết quả của những chiếc lược tài chính khác nhau. Những mô hình này
Hoạch đònh chiến lược tài chính là một công việc hết sức quan trọng của doanh
nghiệp. Một chiến lược tài chính đúng đắn giúp doanh nghiệp giúp doanh nghiệp
đạt đến mục tiêu trong thời gian ngắn nhất, chi phí thấp nhất, hiệu quả cao nhất.
Chiến lược tài chính đúng đắn giúp doanh nghiệp tạo khoảng cách khác biệt và
vượt qua đối thủ cạnh tranh của mình một cách thận trọng và dễ dàng .
Giám đốc tài chính là người phải biết “thăm bệnh” để “bốc thuốc” cho đúng.
Chính vì vậy, trong mỗi giai đoạn nhất đònh, giám đốc tài chính phải là người
nhận biết rõ nhất thông qua các công cụ là những thông số chiến lược để làm
được điều này đòi hỏi giám đốc tài chính phải có kiến thức nhất đònh về tài
chính cộng với sự am hiểu sâu sắc về lónh vực mà doanh nghiệp mình hoạt động
Bên cạnh đó việc nhận biết doanh nghiệp của mình đang rơi vào giai đoạn nào
cũng là một vấn đề đòi hỏi tính chuẩn xác của giám đốc tài chính.
3. Chiến lược tài chính cho doanh nghiệp gắn liền với giai đoạn phát triển
chu kỳ sống .
Giám đốc tài chính xây dựng chiến lược tài chính cho doanh nghiệp trong mỗi
giai đoạn phát triển dựa trên tương quan nghòch giữa rủi ro kinh doanh và rủi ro
tài chính. Cũng như sự phát triển của con người, doanh nghiệp có sự phát triển
tuần tự từ khởi sự – giai đoạn đầu tiên của chu kỳ kinh doanh đến tăng trưởng –
giai đoạn phát triển kế tiếp quyết đònh sự lớn mạnh của doanh nghiệp, kế đến là
sung mãn và cuối cùng là suy thoái.
Trang 8
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệp
3.2 Giai đoạn tăng trưởng
Tiếp theo của giai đoạn trên khi một sản phẩm mới được tung ra thò trường một
cách thành công, doanh số bán đã bắt đầu tăng nhanh chóng. Điều này không
chỉ tiêu biểu cho việc sụt giảm rủi ro kinh doanh chung đi kèm với sản phẩm, mà
còn thấy nhu cầu điều chỉnh ý đồ chiến lược của công ty. Trong chiến lược cạnh
tranh, cần nhấn mạnh đến các hoạt động tiếp thò để bảo đảm doanh số tăng
Trang 9
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệptrưởng thoả đáng và để công ty gia tăng thò phần của doanh số đang tăng trưởng
này.
Giai đoạn tăng trưởng đi liền với nhu cầu nguồn vốn hoạt động của doanh
nghiệp ngày càng lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các
nguồn tài trợ được chú ý trong giai đoạn này kể đến như sau :
• Lợi nhuận giữ lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
• Phát hành cổ phiếu mới
• Đi vay
Mỗi nguồn tài trợ sẽ có những đặc điểm riêng cũng như những lợi thế riêng. Khi
quyết đònh lựa chọn nguồn tài trợ nào các giám đốc tài chính sẽ có những phân
tích, tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng và phù hợp với đặc điểm riêng biệt của từng
doanh nghiệp.
3.3 Giai đoạn sung mãn
phần đang xảy ra trong giai đoạn này, nó đưa đến một sụt giảm mạnh giá cổ
phần. Tuy nhiên, chừng nào các cổ đông biết rằng phần chi trả cổ tức cao cho họ
thực tế là hoàn trả vốn, giá trò sụt giảm này sẽ không gây ra những lo ngại
không đúng.
Giai đoạn suy thoái thường làm các doanh nghiệp đi vào lúng túng, bi quan và
đôi khi có những hành động phản tác dụng như việc tăng đầu tư để hy vọng có
thể cứu vãn tình thế. Trong trường hợp này các giám đốc tài chính nên hết sức
bình tỉnh để thấy đúng bản chất vấn đề và giải quyết hợp lý như việc giải thể
hay sát nhập.
4. Ý nghóa của các thông số trong chiến lược tài chính
Chiến lược tài chính có những thông số tài chính và nội dung của những thông số
này khác nhau cho từng giai đoạn nhất đònh. Để hiểu và xây dựng các thông số
trong chiến lược tài chính phù hợp cho từng giai đoạn, chúng ta nên xem qua ý
nghóa các thông số
4.1 Rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là tính khả biến hay không chắc chắn về EBIT của doanh
nghiệp. Các số đo như độ lệch chuẩn EBIT hay hệ số phương sai có thể được
dùng để chỉ rủi ro kinh doanh của một doanh nghiệp. Có nhiều yếu tố dẫn đến
tính bất ổn trong EBIT của doanh nghiệp. Các yếu tố đó bao gồm tính khả biến
trong doanh thu và chi phí họat động
Đòn bẩy kinh doanh phát sinh từ việc sử dụng các chi phí họat động cố đònh, như
chi phí trả lương được đảm bảo, tài sản cố đònh. Các chi phí hoạt động cố đònh
cao, các thay đổi nhỏ trong doanh thu được “ bẩy” lên thành thay đổi lớn trong
EBIT. Đòn bẩy kinh doanh cao là đặc trưng của các ngành ô tô và hàng không .
hơn. Vì vậy, sức mạnh thò trường của một doanh nghiệp càng lớn, rủi ro kinh
doanh của một doanh nghiệp càng nhỏ. Khi đánh giá sức mạnh thò trường của
một doanh nghiệp, nên xem xét không chỉ yếu tố cạnh tranh hiện tại doanh
nghiệp đang phải đối phó mà nên xem xét cả tiềm năng cạnh tranh tương lai,
nhất là cạnh tranh có thể phát sinh từ nước ngoài .
Phạm vi đa dạng hóa sản phẩm. nếu tất cả các yếu tố khác không đổi, các
chủng loại của một doanh nghiệp càng được đa dạng hóa. EBIT của một doanh
nghiệp càng ít biến động .
Các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường có tính biến đổi trong EBIT. Tăng
trưởng nhanh tạo nên nhiều căng thẳng trong họat động của doanh nghiệp. Phải
xây dựng thêm cơ sở mới, các chi phí họat động thường mang tính không chắn
chắn, phải mở rộng và cấp nhất các hệ thống kiểm soát nội bộ, phải gia tăng
nhanh bộ khung quản lý có tài và các sản phẩm mới cũng đòi hỏi chi tiêu tốn
kém cho công tác nghiên cứu phát triển. Các yếu tố này thường kết hợp để đưa
ra tính khả biến cao của EBIT. Trang 12
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệp4.2
Rủi ro tài chính
Minh họa về đòn bẩy kinh tế
EBIT
EBIT
1
EBIT
2
Rủi ro tài chính chỉ tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần và xác
suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài trợ
có chi phí tài chính cố đònh, như nợ và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn của
mình. ( Mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp không đáp ứng các
nghóa vụ tài chính theo hợp đồng – như thanh toán lãi và vốn vay, thanh toán các
khoản phải trả và thuế thu nhập doanh nghiệp khi đáo hạn ). Các chi phí sử dụng
vốn như lãi vay và cổ tức ưu đãi tượng trưng cho các nghóa vụ theo hợp đồng một
doanh nghiệp phải đáp ứng bất kể mức độ EBIT.
Khi gia tăng sử dụng các số lượng nợ và cổ phần ưu đãi làm tăng các chi phí tài
chính cố đònh của doanh nghiệp đến lượt mình. Chi phí này lại làm tăng mức
EBIT mà doanh nghiệp phải đạt được để đáp ứng các nghóa vụ tài chính và duy
trì hoạt động. Lý do một doanh nghiệp chấp nhận rủi ro tài trợ có chi phí tài
chính cố đònh là để làm tăng lợi nhuận có thể có cho các cổ đông.
Rủi ro của việc sử dụng đòn bẩy tài chính là nếu tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư
thấp hơn chi phí sử dụng vốn vay thì đòn bẩy tài chính sẽ làm giảm tỷ suất sinh
lợi mong đợi của các cổ đông.
Trang 13
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệp
để doanh nghiệp tiếp tục hoạt động dưới một ban điều hành mới. Lãi vay được
xem như một khoản chi phí, lãi được chi trả từ lợi nhuận trước thuế, trong khi cổ
tức và lợi nhuận giữa lại được trích từ thu nhập sau thuế.
Các công cụ nợ doanh nghiệp thì hầu như vô tận. Các công cụ được phân loại
theo ngày đáo hạn, các điều khoản thanh toán, cấp độ đảo đảm rủi ro không
thanh toán nợ
Nguồn tài chính thứ tư bao gồm các quyền lựa chọn : quyền lựa chọn đơn giản
là chứng chỉ đặc quyền, nó cho người nắm giữ quyền mua một cổ phần với một
giá ấn đònh và một ngày ấn đònh. Các doanh nghiệp cũng mua và bán các công
Trang 14
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệpcụ phái sinh để tự bảo vệ trước các nguy cơ rủi ro từ bên ngoài, như là giao động
về giá cả hàng hoá lãi suất và hối suất. Các công cụ phái sinh bao gồm các
quyền lựa chọn về giao dòch, các hợp đồng giao sau, hợp đồng kỳ hạn và các
hoán đổi.
Các giám đốc tài chính phải đối phó với hay quyết đònh tài trợ chủ yếu :
• Tỷ lệ lợi nhuận mà doanh nghiệp nên tái đầu tư vào doanh nghiệp thay vì
phân phối cổ tức các cổ đông là bao nhiêu ?
• Tỷ lệ thâm hụt nên được tài trợ bằng nợ vay thay vì phát hành vốn cổ
phần là bao nhiêu?
4.4 Chính sách cổ tức
Chính sách cổ tức ấn đònh mức lợi nhuận của công ty được đem ra phân phối
như thế nào. Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay được chi trả
cho cổ đông. Lợi nhuận giữ lại là một nguồn quan trọng cho việc tài trợ vốn cổ
phần cho khu vực tư nhân, mặc dù việc phân chia giữa lợi nhuận phát hành cổ
phần mới và lợi nhuận giữ lại có xu hướng thay đổi theo thời gian. Do vậy, lợi
một doanh nghiệp chi trả cổ tức ổn đònh, do đó làm giảm chi phí sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Chính sách chi trả cổ tức khác
Một vài doanh nghiệp chấp nhận một chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không
đổi. Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác
thì cổ tức cũng thay đổi theo.
Bên cạnh đó, một chính sách chi trả cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng
thêm vào cuối năm, chính sách này đặc biệt thích hợp chi một doanh nghiệp có
thành tích lợi nhuận biến động và nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này với
năm khác hoặc cả hai
4.5 Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS- Earning per share)
Thu nhập mổi cổ phần là yếu tố quan trọng nhất, quyết đònh giá trò cổ phần vì
nó đo lường sức thu nhập chức đựng trong một cổ phần hay nói cách khác nó thể
hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần
4.6 Tỷ số giá thu nhập ( P/E – Price earning ratio )
Tỷ số giá thu nhập là một trong những thuật ngữ tài chính được các nhà đầu tư
sử dụng hàng ngày trên thò trường chứng khoán. Với một cổ phần đang có giá
trên thò trường đồng nghóa với việc nó đang được bán với giá P/E cao. Điều này
có nghóa các nhà đầu tư sẳn sàng chi trả giá cao hơn trên cùng một đồng thu
nhập EPS để mua được cổ phần đó .
Tỷ số P/E cao có thể hiện một tỷ suất vốn hoá thò trường thấp hay không ?. Cần
khẳng đònh rằng không có mối quan hệ giữa P/E và tỷ suất vốn hoá thò trường.
Tỷ số EPS/Po giúp đo lường r chỉ khi hiện giá các cơ hội tăng trưởng PVGO = 0
và chỉ khi những ghi nhận về EPS là những thu nhập bình quân trong tương lai
mà công ty có thể tạo ra trong điều kiện công ty không tăng trưởng .
4.7 Giá cổ phần
Giá cổ phần ở thời điểm hiện tại, các cổ đông đang nắm giữ các cổ phần sẽ nhận
được thu nhập dưới hai hình thức
1.) Cổ tức
2.) Lãi vốn (hoặc lỗ vốn)
tỷ đồng thì đến năm 2004 con số chỉ còn đạt ở mức 72 và 24. như vậy xu hướng
quy mô nhỏ ngày càng tăng, do 3 năm qua doanh nghiệp mới chủ yếu là tư nhân
với quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm hơn 46%, từ
10 đến dưới 50 lao động chiếm 35%. Về quy mô vốn, số doanh nghiệp dưới 10
tỷ đồng chiếm 86%, trong đó hơn một nữa là dưới nửa tỷ đồng .
Những ngành tập trung nhiều doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn là công
nghiệp, bình quân 154 lao động và 32 tỷ đồng vốn, tiếp đó là vận tải, thông tin
liên lạc rồi đến xây dựng. Quy mô nhỏ và phân tán là ngành thương nghiệp, bình
quân 18 lao động và 6 tỷ đồng vốn. Doanh nghiệp khách sạn nhà hàng bình quân
27 lao động và 9 tỷ đồng vốn.
Do phần lớn doanh nghiệp có mức vốn thấp ( dưới 10 tỷ đồng) nên khả năng
trang bò máy móc thiết bò, kỹ thuật công nghệ tiên tiến là rất hạn chế. Mức trang
bò tài sản cố đònh cho 1 lao động ngoài quốc doanh là 50 triệu đồng, chỉ bằng
20% so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài .
Tổng cục thống kê còn chỉ ra rằng, doanh nghiệp phát triển còn mang tính tự
phát chưa có đònh hướng rỏ ràng. Số doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH
chiếm 77.5% số doanh nghiệp thành lập từ năm 2000 trở lại đây, nhưng chưa
biến động tới gần 20% hằng năm. Nhiều tỉnh có hàng nghìn doanh nghiệp nhưng
Trang 17
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệp70-80% trong số đó chỉ có 1-5 lao động và số vốn không quá 5 tỷ đồng như Long
An, Đồng Tháp, Nam Đònh…. Doanh nghiệp Nhà Nước và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngòai phát triển ổn đònh và có đònh hướng rõ ràng hơn, nhưng rất ít
Tốc độ
tăng trưởng
về tổng mức
lưu chuyển
hàng hố bán
ra
Tỷ trọng
trong tổng
mức lưu
chuyển
hàng hố bán
ra
Tỷ trọng
trong tổng
thu ngân
sách nội địa
trên địa bàn
1994
54.3
104.1
67.353.4
1997
51.3
114.2
63.3
126.2
49.7
58.6
1998
49.2
115.2
60
123.6
42.9
49.2
1999
110.2
46.3
105.6
35
36
2002
45.4
108.4
45.9
97.8
33.5
27.4
2003
43
115.6
chúng ta vẫn khẳng đònh rằng vai trò của DNNN vẫn là người “Anh cả” trong
nền kinh tế Việt Nam .
Giá trò sản xuất công nhiệp tăng 10.3% trong vòng 10 năm, tuy nhiên giá trò này
tăng không đều và có giao động tăng giảm qua các năm. Xét về mặt chỉ tiêu tỷ
trọng giá trò sản xuất công nghiệp trên đòa bàn, chỉ tiêu này có hướng đi xuống từ
67.3% trong năm 1994 thì đến năm 2004 chỉ còn là 45.2%
Đồ thị về tốc độ tăng của DNNN trong nền kinh tế
1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
n
ăm
( Nguồn : Tổng cục thống kê
Đồ thị về tỷ trọng của DNNN trong nền kinh tế
( Nguồn : Tổng cục thống kê
Trang 19
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệp Vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước tại TP Hồ Chí Minh từ 1994- 2004
nghiệp
nhà
nước642.67
1,921.12
3,218.37
4,813.503,594.353,697.356,685.10 6,134.92
5,898.524,756.86 5190
Tỷ
trọng
của
đầu tư
DNNN
trong
tổng
đầu tư
63.05
69.31
70.72
66.14
Trên đây là một vài số liệu và hình ảnh về tình hình đầu tư của DNNN, các con
số này có biến động nhất đònh, tuy nhiên nó hoàn toàn phù hợp với mục tiêu,
hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cụ thể. Tuy nhiên trong suốt khoảng thời
gian qua chúng ta cần có những nhìn nhận đánh giá đúng đắn để từ đó thấy được
mặt mạnh, mặt yếu để từ đó có những phát huy cũng như biện pháp khắc phục
hiệu quả nhất.
Trang 21
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệp1.3 DNNN và những đóng góp cho nền kinh tế .
Nền kinh tế mà nước ta đang xây dựng là nền kinh tế thò trường đònh hướng
XHCN, Giữ vững đònh hướng XNCH là vai trò có tầm quan trọng hàng đầu của
doanh nghiệp Nhà Nước.
DNNN có vai trò quan trọng trong ổn đònh kinh tế vó mô, được hình thành ở
những ngành, những lónh vực, những vùng mà các thành phần kinh tế khác
không thể hoặc không muốn đầu tư; hình thành các công trình trọng điểm của
Quốc Gia và góp phần hình thành cơ cấu cũng như chuyển dòch cơ cấu kinh tế
của đất nước; có tác động tạo thành các nguồn vốn mồi để thu hút các nguồn
vốn của xã hội các thành phần kinh tế khác. Đây cũng là những mặt mạnh của
DNNN. Những mặt mạnh này kinh tế Nhà Nướcvà DNNN được lượng hoá bằng
những chỉ tiêu cụ thể như sau :
Hiện tại, kinh tế Nhà Nước chiếm 39.1% GDP, so với kinh tế tập thể là 7.5%,
8.2% của kinh tế tư nhân, 30.7% của kinh tế cá thể và 14.55 của kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài .
DNNN chiếm tỷ trọng cao so với các khu vực còn lại về nhiều sản phẩm chủ
Nhà Nước là chủ sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp Nhà Nước vì là
người cấp vốn đầu tư ban đầu và là người đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp. Như
vậy, cho dù theo quy đònh của pháp luật, DNNN có quyền sử dụng, đònh đoạt
vốn và tài sản trong kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, nhưng vai trò chủ sở hữu
đối với các tài sản trong doanh nghiệp vẫn thuộc về nhà nước.
Trên thực tế, tài sản trong DNNN hiện nay không chỉ duy nhất là vốn, tài sản do
Nhà Nước giao từ nguồn ngân sách mà còn bao gồm cả vốn và tài sản có được từ
vay tính dụng từ việc tái đầu tư bằng lợi nhuận do người lao động trong doanh
nghiệp tạo ra được từ vay tín dụng, từ việc tái đầu tư bằng lợi nhuận do người
lao động trong doanh nghiệp tạo ra sau khi đã thực hiện các nghóa vụ đối với nhà
nước. Việc xác đònh sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp Nhà Nước có
liên quan trực tiếp đến nguyên tắc phân chia, sử dụng lợi nhuận thu được từ
nguồn vốn do Nhà Nước cấp và từ vốn của bản thân doanh nghiệp tự đầu tư,
nhất là xác đònh tỷ lệ lợi nhuận mà doanh nghiệp có nghóa vụ nộp vào ngân sách
nhà nước. Do đó khi chưa có quy đònh cụ thể, rõ ràng làm căn cứ để phân đònh
tài sản thuộc về sở hữu Nhà Nước và tài sản thuộc về sở hữu của tập thể người
lao động trong doanh nghiệp để xác đònh phạm vi trách nhiệm đối với từng lọai
tài sản đó, thì các nguyên tắc để bảo đảm quyền tự chủ về tài chính trong kinh
doanh, bảo toàn vốn, ổn đònh nguồn thu cho nhân sách Nhà Nước sẽ khó có thể
thực hiện được.
Mặt khác nếu vẫn quan niệm tài sản DNNN thuộc sở hữu Nhà Nước và lợi
nhuận làm ra đều phải nộp cho Nhà Nước thì sẽ không tạo ra động lực gắn bó
người lao động với hiệu quả họat động của doanh nghiệp. Khi họ đưa lợi nhuận
thu được, tức tài sản sở hữu tập thể của người lao động để tái đầu tư sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiện nay chế đònh về sở hữu tài sản trong
doanh nghiệp Nhà Nước vẫn chưa quy đònh rõ các căn cứ để xác đònh chế độ
sở hữu khác nhau đối với các nguồn vốn, tài sản trong doanh nghiệp Nhà Nước
và các nguyên tắc, chế độ phân phối lại lợi nhuận thu được từ họat động kinh
doanh của doanh nghiệp
Vấn đề xác đònh ranh giới rõ ràng giữa quyền hạn, trách nhiệm của Nhà Nước
thiệp trực tiếp của Nhà Nước có khi làm giảm khả năng trong phần đông các
DNNN.
Theo điều 27 luật DNNN quy đònh Chính phủ thực hiện quyền đại diện chủ sở
hữu về vốn, tài sản, quyển chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp. Thực hiện chế độ
phân cấp, ủy quyền, Chính phủ giao cho Bộ tài chính là người thực hiện quyền
và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu về vốn và tài sản trong DNNN ( theo
NĐ34/CP). Trên thực tế UBND cấp tỉnh, các bộ quản lý ngành cũng có một số
quyền như quyết đònh bổ sung vốn lưu động, quyết đònh phương án đầu tư vốn
vào các dự án liên doanh, quyền phê duyệt các phương án thế chấp, cầm cố các
tài sản có giá trò lớn. Như vậy rõ ràng có sự chồng chéo trong việc thực hiện
quyền của chủ sở hữu là Nhà Nước với tư cách là người góp vốn đối với việc
quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp. Hiện nay chúng ta đang có quá nhiều
đại diện sở hữu, có quá nhiều cơ quan Nhà Nước và thực hiện quyền quản lý nhà
nước, việc chỉ đạo, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như
việc tổ chức thực hiện các kế họach kinh doanh khó có thể bảo đảm tính đồng
bộ thống nhất, có hiệu quả, gây khó khăn, lung túng trong họat động kinh doanh
của các doanh nghiệp. Điều đáng chú ý là do có nhiều cơ quan quản lý, đại diện
chủ sở hữu nên khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, vi phạm pháp
luật thì việc xác đònh trách nhiệm cũng rất khó khăn.
Trang 24
Đề tài:
Giám đốc Tài chính và việc Hoạch đ
ònh chiến lược tài chính trong Doanh nghiệp2.2 DNNN với con số 75% doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong năm
2004
Một thực tế nữa là DNNN làm ăn thua lỗ, đến cuối năm 2004 chỉ còn 25%
DNNN đang họat động có hiệu quả, cơ chế “ tái bao cấp” trở thành phổ biến.
Việc khoanh nợ, giản nợ, xóa nợ đã gây thiệt hại không nhỏ cho NSNN song
vậy đội ngũ quản lý chủ chốt về thực chất không năng động, thiếu chuyên
nghiệp để có thể vận hành doanh nghiệp của mình đứng vững trong giai đoạn
cạnh tranh khốc liệt của thời hội nhập .
Trang 25