Luận văn: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN VŨ THƯ TỈNH THÁI BÌNH - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
BÙI THỊ THU HUẾ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN VŨ THƯ TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: LL và PPDH bộ môn SPKT
Mã số: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hoài Nam
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tôi
được gửi lời cảm ơn đến thầy giáo – Tiến sĩ Nguyễn Hoài Nam đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong
khoa Sư phạm Kỹ thuật, phòng Sau đại học trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã tham gia giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ động viên, giúp đỡ của
Ban Giám đốc, các bạn bè đồng nghiệp Trung tâm dạy nghề, Trung
tâm Giáo dục Thường xuyên – Hướng nghiệp, Phòng Lao động –
TBXH huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Trong quá trình nghiên cứu, do khả năng có hạn và kinh
nghiệm thực tế còn ít nên không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô giáo, các bạn bè đồng
nghiệp để công trình nghiên cứu được hoàn thiện hơn./.
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Bùi Thị Thu Huế
BẢNG THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

thôn trên địa bàn huyện trong thời gian qua 36
2.2 Thực trạng chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn của huyện
trong thời gian qua
2.2.1 Số lượng lao động nông thôn được đào tạo trên địa bàn huyện trong thời
gian qua 37
2.2.2 Ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn huyện Vũ Thư 40
2.2.3 Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đối với công tác đào tạo
nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình 43
2.2.4 Chất lượng đào tạo nghề của huyện qua đánh giá của người lao động 47
2.2.4.1 Đánh giá chung về công tác đào tạo nghề trên địa bàn huyện 47
2.2.4.2 Đánh giá về hình thức và nội dung chương trình đào tạo nghề
hiện tại của địa phương 49
2.2.4.3 Đánh giá về tác dụng của tham gia học nghề đối với người lao
động 50
2.2.5 Chất lượng lao động được đào tạo qua đánh giá của các doanh nghiệp sử
dụng lao động trên địa bàn huyện 51
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn của huyện
2.3.1 Các chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương 55
2.3.2 Trình độ của đội ngũ cán bộ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề 56
2.3.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề 57
2. Kiến nghị
a) Với Nhà nước 79
b) Với chính quyền địa phương huyện Vũ Thư 80
c)Với cơ sở đào tạo nghề 80
2
DANH MỤC BIỂU BẢNG
+Trình độ học vấn: 15
+Trình độ chuyên môn kỹ thuật: 16
b)Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 17

2.2.4.3 Đánh giá về tác dụng của tham gia học nghề đối với người lao
động 50
2.2.5 Chất lượng lao động được đào tạo qua đánh giá của các doanh nghiệp sử
dụng lao động trên địa bàn huyện 51
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn của huyện
2.3.1 Các chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương 55
2.3.2 Trình độ của đội ngũ cán bộ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề 56
2.3.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề 57
2. Kiến nghị
a) Với Nhà nước 79
b) Với chính quyền địa phương huyện Vũ Thư 80
c)Với cơ sở đào tạo nghề 80
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
+Trình độ học vấn: 15
+Trình độ chuyên môn kỹ thuật: 16
b)Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 17
+Vai trò của lực lượng lao động với tăng trưởng kinh tế đất nước 18
+Các chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề 22
2
+Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề 22
+Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề 24
e)Chương trình, giáo trình liên quan đến đào tạo nghề 24
f)Nhận thức của người học và xã hội về đào tạo nghề 25
g)Nguồn tài chính đầu tư cho công tác đào tạo nghề 26
1.2.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn của một số nước
Châu Á 26
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 26
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 31
1.2.1.4 Bài học kinh nghiệm 32

b) Với chính quyền địa phương huyện Vũ Thư 80
c)Với cơ sở đào tạo nghề 80
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Ngày 27-11-2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến
năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956) đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà
nước trong việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, trong đó nêu rõ:
- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động
nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn. [8]
- Đổi mới và phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo
hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao
động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện
kinh tế và nhu cầu học nghề của mình. [8]
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm,
tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động
và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn.[8]
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng đã khẳng định: “Hoạt động dạy nghề
lao động nông thôn đã qua thời đại trà, từng bước chuyển sang đào tạo gắn với
địa chỉ dạy nghề, quy hoạch việc làm của từng địa phương, từng vùng”. [9]
Tuy nhiên, các thành viên Ban chỉ đạo cũng thống nhất đánh giá hiệu
quả dạy nghề cho lao động nông thôn chưa đạt được mục tiêu của Đề án, số
lao động được hỗ trợ dạy nghề còn thấp, việc làm cho lao động nông thôn
1
chưa thật sự bền vững. Đầu tư cơ sở công lập cấp huyện thiếu đồng bộ, hiệu

- Những chính sách hỗ trợ học nghề, dạy nghề; công tác quản lý hoạt
động đào tạo nghề trên địa bàn của chính quyền tỉnh, huyện, xã.
* Phạm vi không gian: huyện Vũ Thư – tỉnh Thái Bình
* Phạm vi về thời gian:
- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015
3.Phương pháp nghiên cứu
3.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Phương pháp tiếp cận lịch sử
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
3.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tiếp cận mục tiêu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
4.Ý nghĩa của đề tài
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc làm có tính xã hội và nhân
văn sâu sắc, do đó đã nhận được sự đồng thuận rất cao của người dân, của các
cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp,
các phương tiện thông tin đại chúng. Tư tưởng bao trùm của các chủ trương,
đề án của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông
thôn. Nâng cao chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn là góp phần tạo
ra lực lượng sản xuất hiện đại trong nông nghiệp; tạo ra những lao động có
kiến thức, có kỹ năng sản xuất hiện đại, góp phần giúp nông dân có khả năng
thích ứng với sự cạnh tranh quốc tế trong sản xuất nông nghiệp.
3
Đối với huyện Vũ Thư, như đã nêu ở phần trên, có 71% là nông nghiệp
do đó việc nâng cao chất lượng nghề nghiệp cho lực lượng lao động nông
thôn nhằm đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn, đáp ứng được các tiêu chí trong sự nghiệp xây dựng nông thôn
mới và đặc biệt nhằm theo kịp sự phát triển như vũ bão của xã hội là việc làm
hết sức cần thiết.

Theo từ điển tiếng Việt:“Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự
phân công lao động xã hội“. [2, Tr67]
5
Như vậy, từ mỗi khái niệm nêu trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp
như một dạng lao động vừa mang tính xã hội, vừa mang tính cá nhân, trong
đó con người với tư cách chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu
cầu xã hội nhất định của xã hội và cá nhân. Nói tới nghề nghiệp trước hết phải
nói tới nhu cầu khách quan do xã hội đặt ra. Đôi khi chúng ta hay nhầm lẫn
giữa nghề nghiêp và việc làm, thực ra đây là hai khái niệm khác nhau có quan
hệ với nhau.
Tóm lại: Nghề là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình
đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và phẩm chất
chuyên môn nhất định. Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có
thể tạo ra sản phẩm thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội.
b)Đào tạo nghề
Luật dạy nghề định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm
trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học
nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành
khóa học“. [10, điều 5]
Đào tạo nghề là quá trình truyền thụ và lĩnh hội một hệ thống tri thức
nhất định đã được khái quát hóa trong nghề đào tạo và tư duy con người, các
kỹ năng, kỹ xảo và năng lực nhận thức để hình thành năng lực nghề nghiệp,
quá trình này được thực hiện chủ yếu thông qua việc giảng dạy theo các nghề
đào tạo.
Nguyên tắc đào tạo nghề: Trong công tác đào tạo nghề phải quán triệt
các nguyên tắc đảm bảo quan điểm, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội (KT-XH) của Đảng và Nhà nước trong đào tạo: Nguyên tắc này đòi hỏi
nội dung chương trình, giáo trình đào tạo phải phản ánh các đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải luôn luôn được cải tiến và
không ngừng hoàn thiện quá trình đổi mới của đất nước.

Kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo: Nội dung và chương trình
đào tạo nghề là một tổng thể thống nhất các kiến thức, kỹ năng của từng môn
học liên kết với nhau theo logic nhận thức. Vận dụng các kiến thức kỹ thuật
cơ sở để tiếp thu, nhận thức chuyên môn nghề từ đó hình thành năng lực kỹ
thuật, thực tiễn sáng tạo. Kế hoạch và chương trình đào tạo phải thỏa mãn các
nguyên tắc sư phạm của quá trình giảng dạy, đảm bảo tính hiệu quả, mềm
dẻo, linh hoạt, đảm bảo được khả năng liên thông dọc và liên thông ngang,
thích ứng kịp thời với thay đổi của khoa học công nghệ.
Phương pháp đào tạo: Là cách thức mà nhà trường nói chung, giáo
viên và học sinh nói riêng tác động lẫn nhau để làm chuyển biến khả năng của
học sinh theo mục tiêu và nội dung đã xác định. Phương pháp đào tạo bao
gồm các phương pháp giảng dạy, học tập ở các môn học cụ thể và các phương
pháp giáo dục, rèn luyện học sinh về mặt phẩm chất đạo đức.
1.1.1.2 Lao động và lao động nông thôn:
a) Lao động :
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các
vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết trong đời sống của mình.
Trong quá trình sản xuất con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối
tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người. Lao
động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở cho sự
tiến bộ về kinh tế văn hóa và xã hội. Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá
trình sản xuất nào. Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế
đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất quan trọng
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại
sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội. Ví dụ như Lao động chân tay, lao
động nghệ thuật
8
Theo Luật lao động mới số 10/2012/QH13: Nguồn lao động là toàn bộ
những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (theo quy định của
Nhà nước: nam có tuổi từ 15 - 60, nữ từ 15 -55). [11, điểm 1, điều 13]

lớn. Trên thực tế, loài người xuất hiện bắt đầu từ hoạt động sản xuất nông
nghiệp, vì vậy tuyệt đại dân số đều bắt đầu từ làm nông nghiệp. Xã hội ngày
càng phát triển, ngành nghề mới ngày càng xuất hiện, bộ phận dân cư nông
nghiệp dần chuyển sang các ngành nghề mới ngày càng xuất hiện, bộ phận
dân cư nông nghiệp dần chuyển sang các ngành nghề mới. Quá trình này
được đảy nhanh khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa.
Số lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn không chỉ lớn do số
lượng nguồn lao động nông thôn lớn mà còn thể hiện ở chất lượng của nguồn
lao động nông thôn thấp nên yêu cầu đào tạo cao.
+ Hai là, đối tượng đào tạo nghề của lao động nông thôn rất đa dạng.
Tính đa dạng của đối tượng đào tạo được biểu hiện qua tính đa dạng của
nguồn lao động nông thôn.
Xét theo đối tượng của đào tạo nghề, nguồn lao động nông thôn đa
dạng: đa dạng về độ tuổi, trạng thái sức khỏe, điều kiện sản xuất kinh doanh
và hoàn cảnh sống. Với mỗi đối tượng trên, điều kiện tham gia đào tạo nâng
cao chất lượng ngồn lao động ở nông thôn có khác nhau. Vì vậy, đào tạo nghề
cho lao động nông thôn cần triển khai dưới nhiều hình thức thích hợp với điều
kiện và hoàn cảnh của họ. Với đặc điểm này, đào tạo nghề cho lao động nông
thôn có các hình thức đào tạo rất đa dạng và nội dung phong phú. Dạy nghề
cho lao động nông thôn cần khuyến khích không chỉ các hoạt động đào tạo
tập huấn kỹ năng nghề nghiệp mà còn cả các hoạt động nâng cao trình độ văn
hóa cho người lao động (học chữ, phổ cập tiểu học )
10
+ Ba là, đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn có nguồn nội
lực cho đào tạo nghề đang rất hạn chế. Số lượng các đối tượng đào tạo nghề
rất lớn, phong phú về nghề và hình thức đào tạo. Tuy nhiên, do đó là vùng
nông thôn nên điều kiện để họ tham gia học nghề là rất hạn hẹp nhất là cho
học bậc cao và theo các hình thức trường lớp.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nông thôn là lĩnh vực rộng lớn, nông
nghiệp là hoạt động chủ yếu của đa số cư dân ở nông thôn. Nông nghiệp là

+ Theo đối tượng đào tạo: đào tạo nghề có thể phân thành: đào tạo nghề
cho lao động quản lý: giám đốc, đốc công, tổ trưởng và đào tạo nghề cho
lao động trực tiếp như: đào tạo nghề cho nông dân, cho thợ thủ công và lao
động dịch vụ. Đào tạo nghề cho lao động quản lý thường hiểu theo nghĩa rộng
của đào tạo khi coi quản lý là một nghề của người quản lý; đào tạo nghề
thường gắn trực tiếp với hoạt động đào tạo cho người lao động trực tiếp mang
tính kỹ thuật như nghề: gò, hàn, nghề mộc
+Theo phương thức đào tạo nghề có thể phân thành: Dạy nghề và
truyền nghề. Dạy nghề là truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành
để những người lao động nông thôn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự
khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn. Dạy nghề gắn với các tổ chức chuyên môn hoạt động
dạy nghề.
Dạy nghề và truyền nghề thường áp dụng trong đào tạo nghề cho các
lao động trực tiếp với các kỹ năng nghề nghiệp mang tính kỹ thuật. Dạy nghề
là phương thức đào tạo nghề của các tổ chức chuyên môn nên có hệ thống cơ
sở vật chất, chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên có chất lượng cao hơn so
với các phương thức khác. Kết quả đào tạo nghề theo phương thức này
12
thường lớn về số lượng có hiệu quả cao về hoạt động đào tạo, đặc biệt người
học có thời gian tập trung cho việc học nên chất lượng học tập cao. Tuy
nhiên, cùng một nghề nhưng thực tế áp dụng ở mỗi lĩnh vực có khác nhau nên
đào tạo nghề qua các cơ sỏ đào tạo không thề đi vào các hoạt động đặc thù
của các cơ sở sử dụng lao động cụ thể. Vì vậy người được đào tạo nghề sau
khi được tuyển dụng thường sau thời gian tập sự mới có thể thích ứng với
công việc ở chính nghề được đào tạo
Truyền nghề là phương thức đào tạo nghề của từng cơ sở sản xuất kinh
doanh, đặc biệt là trong các gia đình làm nghề thủ công truyền thống. Truyền
nghề có ưu điểm là nội dung đào tạo nghề rất sát với môi trường và tính chất
nghề mà người đó hoạt động, vì người đào tạo được đào tạo các nghề chuyên

để chỉ sự hoàn hảo, phù hợp, tốt đẹp.
Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo
đếm và cảm nhận được và luôn luôn biến đổi theo thời gian và theo không gian.
Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất định và
trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó. Sẽ không thể
biết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệ
thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng.
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng của người lao
động được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, theo mục tiêu và
chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu
hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của
xã hội đối với kết quả đào tạo. Đồng thời chất lượng đào tạo nghề còn phản
ánh cả kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề và hệ thống đào tạo nghề.
14
a)Các tiêu chí đánh giá chất lượng lực lượng lao động:
+Trình độ học vấn:
Trình độ học vấn là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triển của
một quốc gia. Bởi vì thực tế cho thấy phần lớn các quốc gia có trình độ học
vấn cao thì nền kinh tế xã hội phát triển nhanh hơn các quốc gia có trình độ
học vấn thấp hơn.
Trình độ học vấn của lực lượng lao động được đánh giá qua các chỉ tiêu:
- Tỷ lệ lao động đã tốt nghiệp tiểu học so với tổng lực lượng lao động.
Bậc tiểu học là bậc thấp nhất giúp con người có thể hiểu biết được
những kiến thức cơ bản nhất, giúp con người biết đọc, biết viết, biết tư duy,
tính toán và học lên bậc cao hơn.
Tỷ lệ lực lượng lao động đã
tốt nghiệp tiều học so với
tổng số lực lượng lao động
=
Số lao động đã tốt nghiệp tiểu học

- Tỷ lệ lực lượng lao động đã tốt nghiệp THPT so với tổng số lực lượng
lao động.
Tỷ lệ lực lượng lao động đã
tốt nghiệp THPT so với
tổng số lực lượng lao động
=
Số lao động đã tốt nghiệp THPT
*100%
Tổng số lực lượng lao động
Người lao động đã tốt nghiệp THPT có thể đi học nghề ở các trường
dạy nghề, có thể học ở các trường THCN, các trường CĐ, ĐH để nâng cao
trình độ chuyên môn kỹ thuật, phát huy khả năng của mình. Xu hướng là phải
có giải pháp để nâng cao hơn nữa số lao động có trình độ THPT, nhằm đưa
lao động đạt đến trình độ cao về học vấn để người lao động có thể có cơ hội
học nghề, học lên cao hơn và thực hiện tốt chuyên môn của mình.
+Trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Trình độ chuyên môn kỹ thuật có được thông qua hệ thống đào tạo.
Đào tạo làm tăng lực lượng lao động có trình độ cao, tạo ra khả năng thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Đào tạo nâng cao giá trị vốn, nhân lực cụ thể là nâng cao
trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ lành nghề, khả năng làm việc sức sáng
tạo của con người. Giáo dục trang bị cho con người những kiến thức về xã hội
16

Trích đoạn Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đối với công tác đào tạo Chất lượng đào tạo nghề của huyện qua đánh giá của người lao động Đánh giá về tác dụng của tham gia học nghề đối với người lao Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề Với chính quyền địa phương huyện Vũ Thư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status