Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn Đầu tư trực tiếp FDI ở Việt Nam - Pdf 30

Lời nói đầu
Qua số liệu đầu tư nước ngoài trên thế giới, cho thấy 70 -75% dòng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài di chuyển trong nội bộ các nước phát
triển, chỉ có 25 - 30% di chuyển đến các nước đang phát triển và kém
phát triển. Điều đó cho thấy các nước chủ đầu tư không phải chỉ dựa vào
khai thác lợi thế của các nước nhận đầu tư là có nguồn tài nguyên dồi dào
và lao động rẻ. Tài nguyên dồi dào và lao động rẻ không phải là nhân tố
quan trọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mà các nước phát triển
đang đánh giá các nước đang phát triển về mọi mặt và tính khả thi trong
các dự án đầu tư của mình. Việt Nam là một trong những môi trường như
vậy – một môi trường đầu tư hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.
Ở nước ta, bên cạnh nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định,
vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng. Trong
nguồn vốn nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) được coi là
nguồn vốn thích hợp đối với nước ta. Tạp chí hàng đầu tạp chí kinh tế
hàng đầu thế giới The Economist xem “Việt Nam là ngôi sao đang lên của
châu Á” đặc biệt trong vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài. Hiện nay, nền
kinh tế Việt Nam ngày càng mở cửa với thương mại quốc tế, với bước đi
mới nhất và dài nhất trong quá trình hội nhập, là trở thành thành viên thứ
150 của WTO. Công nghiệp hóa đi đôi với hội nhập tạo cơ hội mở rộng
hoạt động sản xuất cho các nhà đầu tư tại thị trường Việt Nam. Cùng với
đó là mức đầu tư cao, chiếm tới 1/3 GDP, đặc biệt là FDI có mức tăng
trưởng ấn tượng. Vai trò của FDI trong những năm qua đã được khẳng
định, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
Đầu tư nước ngoài hiện chiếm khoảng trên 13% GDP cả nước.
Chúng ta thường nhấn mạnh Việt Nam là thành viên của ASEAN,
nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với những lợi thế về vị trí
địa lý, tài nguyên và lao động, đặc biệt là môi trường kinh tế chính trị ổn
định, nên là thị trường có tiềm năng thu hút vốn FDI nhưng thực tế lại
không như vậy. Thủ tục rườm rà, cách quản lý lỏng lẻo, và dự án chưa có
tính khả thi cao đang là những nguyên nhân khiến dòng vốn FDI gặp

mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
2. Đặc điểm
- Trong thời gian đầu tư, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn
liền với chủ đầu tư.
- Chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn đủ tối thiểu tuỳ
theo luật đầu tư nước ngoài của nước chủ nhà.
Ví dụ: ở Việt Nam tối thiểu là 30%.
- Thực hiện thông qua việc xây dựng mới doanh nghiệp, mua toàn bộ
hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phần để thôn
tính, sáp nhập doanh nghiệp với
nhau.
- Vốn đầu tư trực tiếp bao gồm: vốn đầu tư ban đầu, vốn vay và thuê
tài sản.
- Bên tiếp nhận đầu tư thu hút được nhiều vốn nước ngoài do hình
thức này chỉ quy định mức góp tối vốn tối thiểu
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI
2
1. Xu hướng vận động của vốn FDI
Dòng vốn FDI trên thế giới ngày càng gia tăng và chịu sự chi phối
chủ yếu của các nước công nghiệp phát triển. Nguyên nhân là do cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển một cách nhanh chóng dẫn đến
làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới dẫn đến đòi hỏi phải có sự hợp tác
giữa các quốc gia. Môi trường các quốc gia phát triển rất ổn định, hấp dẫn
và an toàn.
Ngoài ra chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
cũng ảnh hưởng đến dòng vốn FDI. Các nhà kinh tế học Helpman và
Sibert cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các
nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn
một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này
sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm

3
ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi
nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy
các lợi thế đặc thù nói trên.
5. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột
thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây
Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng du thương mại còn các nước kia bị
thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã
tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô
tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm
này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ
đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.
6. Khai thác chuyên gia và công nghệ, tiếp cận nguồn tài nguyên
thiên nhiên
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước
kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa.
Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ
chuyên gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ
phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty
máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ,
các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự. Để có
nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào
những nước có nguồn tài nguyên phong phú.
7. Môi trường đầu tư và khả năng cạnh tranh thu hút FDI của các
nước tiếp nhận đầu tư
Môi trường đầu tư của nước ngoài là tổng hoà các yếu tố kinh tế,
chính trị, xã hội có liên quan tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo
khả năng sinh lời của vốn đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài đánh
giá môi trường đầu tư của một quốc gia không chỉ về mặt chất lượng sức

chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê
mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa
phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của
địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề
nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang
phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một
đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao
động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ
hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
2.4 Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi tiếp nhận FDI các nước tiến hành mở cửa thị trường hàng hoá
quốc tế, có tác động quan trọng đến xuất nhập khẩu và cán cân thanh
toán. Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có
vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong
nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân
công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội
tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
2.5 Nguồn thu ngân sách lớn
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương,
thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân
sách quan trọng.
3.Mặt trái đối với các nước tiếp nhận đầu tư
- Tình trạng nhập khẩu máy móc công nghệ lạc hậu
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status