Nghiên cứu ứng dụng hình thức đối tác công tư trong quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị (TT) - Pdf 30

p
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
NGÔ THẾ VINH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HÌNH THỨC ĐỐI TÁC
CÔNG TƯ TRONG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DựNG
CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
MÃ SỐ 62.58.01.06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ
Hà Nội - 2015
m
m
Luận án được hoàn thành tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Tố Lăng
TS. Nguyễn Thị Bình Minh
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Hồng Tiến
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Phản biện 3: TS. Phạm Văn Bộ
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường Đại
học Kiến trúc Hà Nội
vào hồi

giờ

ngày

tháng


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công
trình.
2
b. Phạm vi nghiên cứu: việc ứng dụng hình thức PPP trong quản lý
ĐTXD công trình GTĐT trên địa bàn thành phố Hà Nội phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của Quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2030
và tầm nhìn đến năm 2050.
- Luận án tập trung nghiên cứu công trình cầu bộ hành (một thành
phần trong 6 loại hình công trình GTĐT: đường bộ, đường sắt, cầu,
hầm, đường thủy và sân bay) nhằm làm sáng tỏ các luận chứng và
nội dung nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng 6 phương pháp
nghiên cứu: 1) Phương pháp thống kê; 2) Phương pháp điều tra khảo
sát và phỏng vấn; 3) Phương pháp phân tích tổng hợp; 4) Phương
pháp đánh giá SWOT; 5) Phương pháp so sánh và đối chiếu; và 6)
Phương pháp kế thừa.
5. Nội dung nghiên cứu: về hình thức PPP trong quản lý ĐTXD
công trình GTĐT.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Bổ sung phương pháp luận trong việc ứng dụng hình thức PPP
vào quản lý ĐTXD công trình GTĐT nhằm khai thác hợp lý và tối
ưu hóa vai trò của các bên liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả đầu
tư. Nội dung nghiên cứu gắn liền với nhu cầu cấp thiết hiện nay
trong việc thu hút nguồn lực đầu tư, nâng cao chất lượng, hiệu quả
ĐTXD công trình trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu
là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, nhà đầu tư, tổ chức
tư vấn và là tài liệu giảng dạy cho các cơ sở đào tạo.
7. Những đóng góp khoa học và điểm mới của luận án
- Luận án đã nghiên cứu những đặc điểm của việc hợp tác giữa

đối tác công tư của các tổ chức nghiên cứu, các học giả trên thế giới,
từ đó đưa ra được khái niệm tổng quát về hình thức PPP trong quản
lý ĐTXD công trình GTĐT là hình thức Cơ quan nhà nước và Nhà
4
đầu tư tư nhân cùng thực hiện dự án ĐTXD công trình hoặc cung
cấp dịch vụ công cho xã hội thông qua các cam kết, ràng buộc bằng
hợp đồng dự án. Trong đó các bên được coi là đối tác, có vai trò
bình đẳng, cùng đóng góp những ưu điểm/thế mạnh của mình nhằm
thực hiện mục tiêu chung với hiệu quả cao nhất.
9. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 3 chương nghiên cứu chính, và Phần Mở đầu, Kết
luận, Kiến nghị cùng các phụ lục nghiên cứu, tài liệu tham khảo và
công trình nghiên cứu trong quá trình học tập.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG
TƯ TRONG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DựNG CÔNG TRÌNH
1.1. Giới thiệu về hình thức đối tác công tư
1.1.1. Nguồn gốc của đối tác công tư
Vào khoảng năm 63 trước công nguyên, Hoàng đế Caesar
Augustus thuộc Đế chế La Mã đã hợp tác với bộ tộc Salassi trong
việc quản lý tuyến đường đèo Saint Bernhard theo hình thức PPP
[67]. Thuật ngữ “PPP” xuất hiện lần đầu tiên tại Hoa Kỳ từ những
năm 1950 trong lĩnh vực giáo dục [75, 80]. Sau đó “PPP” dần được
phổ biến ở nhiều nước trong
1.1.2. Sự khác nhau giữa
hình thức ĐTTTvà PPP
Sự khác nhau cơ bản
giữa hình thức ĐTTT và
hình thức PPP chính là
việc chuyển giao trách
nhiệm thực hiện một phần

Trong số 61 dự án kể trên thì có 9 dự án là ĐTXD công trình
đường đô thị, phần lớn các dự án thực hiện theo hình thức BT với cơ
chế “đổi đất lấy hạ tầng”, chỉ có 01 dự án thực hiện theo hình thức
BOT. Tuy nhiên, các dự án được thực hiện theo hình thức BOT, BT
6
hay BTO hiện nay đều chưa phải là dự án PPP do chưa phản ánh
đúng bản chất hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân [18].
1.3.2.2. Về vốn đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị
Trong những năm gần đây, thành phố Hà Nội đã tập trung sử
dụng các nguồn vốn khác nhau để ĐTXD các công trình GTĐT, như
vốn ODA, vốn ngân sách thành phố, Trong giai đoạn 2008^2013,
thành phố đã đầu tư 41.677 tỷ đồng cho lĩnh vực GTĐT, chiếm 36%
tổng chi đầu tư phát triển và 11,5% tổng chi ngân sách nhà nước
[14]. Dự kiến trong giai đoạn 2015^2030, nhu cầu VĐT xây dựng hạ
tầng giao thông của thành phố Hà Nội dự kiến là 918.224 tỷ đồng,
trong đó lĩnh vực đường giao thông cần 442.171 tỷ đồng (48,1%),
đường sắt cần 433.580 tỷ đồng (47,2%) [4], [5].
Trong khi đó, nguyên nhân 41 dự án trọng điểm của thành phố bị
chậm tiến độ đề ra là do thiếu vốn. Tổng nhu cầu vốn của 41 dự án
trọng điểm giai đoạn 2011-2015 là khoảng 164.000 tỷ đồng, nhưng
trong năm 2012, Nhà nước và Thành phố mới bố trí được 2.000 tỷ
đồng, chiếm khoảng 2% nhu cầu vốn đầu tư xây dựng [87]. Điều đó
cho thấy áp lực về vốn ĐTXD trên địa bàn thành phố Hà Nội rất lớn,
trong khi Chính phủ lại đang có chủ trương cắt giảm đầu tư công.
1.3.2.3. về quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị
Nội dung quản lý ĐTXD các công trình GTĐT trên địa bàn
thành phố Hà Nội được phân cấp theo quy mô, đặc điểm, tính chất
công trình, nguồn vốn nhà nước do các chủ thể quản lý (Bộ GTVT,
UBND thành phố, Sở chuyên ngành, UBND Quận huyện, ) thực
hiện và chia thành 2 giai đoạn: đầu tư xây dựng và quản lý vận hành.

17,4% ý kiến (trong đó 80% đối tượng điều tra là các DNTN) có
quan điểm cần có một Luật riêng về PPP. Ngày 14/2/2015 Chính phủ
ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối
tác công tư, tuy nhiên văn bản này cũng còn tồn tại một số bất cập.
8
+ Bộ máy QLNN: Thành phố chưa có cơ quan chuyên trách về
PPP, tháng 3/2013 Thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PPP (hoạt
động theo hình thức kiêm nhiệm), tuy nhiên kết quả điều tra cho thấy
có 87% đối tượng được hỏi chưa biết hoặc biết rất ít về Ban chỉ đạo
PPP này, chỉ có 13% đối tượng được hỏi biết về Ban chỉ đạo PPP.
+ Về n ng lực của hà đầu tư đánh giá trên hai tiêu chí nhân lực
và tài chính cho thấy: 92% doanh nghiệp được điều tra chưa có các
cán bộ, chuyên gia có kiến thức, kinh nghiệm thực hiện dự án PPP.
Về năng lực tài chính: 83% doanh nghiệp được điều tra là doanh
nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này hoạt động chủ
yếu dựa trên nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng thương mại.
+ về nhận thức đối với hình thức PPP: kết quả điều tra cho thấy
phần lớn các đối tượng được hỏi đều hiểu “chưa đúng” về PPP, họ
cho rằng đây là hình thức “xã hội hóa” hay là “tư nhân hóa”. Có
83,69% đối tượng được hỏi cho rằng hình thức BOT, BT, BTO
không phải là hình thức PPP. Ngay cả trong một số văn bản QPPL
của cơ quan Nhà nước (CQNN) cũng chưa hiểu đúng về PPP (ví dụ
Nghị định số 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số
10/2013/TT-BXD của Bộ Xây dựng, Quyết định số 9/2012/QĐ-
UBND của thành phố Hà Nội, Văn bản số 135/QĐ-KH&ĐT của Sở
KH&ĐT Hà Nội, ).
+ Về thời điểm áp dụng hình thức PPP: có 29% đối tượng được
hỏi cho rằng có thể áp dụng ngay hình thức PPP; 59% ý kiến cho
rằng chỉ có thể áp dụng trong tương lai khi Nhà nước hoàn thiện
thêm các quy định pháp lý, văn bản hướng dẫn về PPP; 12% ý kiến

trách nhiệm và nghĩa vụ của các đối
tác tham gia dự án phải thực hiện trên cơ sở năng lực và nguồn lực
của mình. Sự tham gia và hỗ trợ của nhà nước giúp nâng cao hiệu
tác công tư
Hình 2.1 : Bản chất của
hình thức đối tác công tư
10
quả của dự án mà không làm tăng chi ngân sách đầu tư là yếu tố then
chốt để so sánh hình thức PPP với các hình thức đầu tư khác.
Hình thức PPP có 4 đặc điểm chính [36]: (i) Quan hệ bình đẳng
giữa các đối tác, (ii) Đóng góp nguồn lực, (iii) Chia sẻ rủi ro, và (iv)
Hợp đồng dự án PPP. Hình thức PPP có ưu điểm: Đẩy nhanh tiến độ
thực hiện dự án, tiến độ huy động vốn; Nâng cao hiệu quả đầu tư;
Quản lý rủi ro; Nâng cao chất lượng dịch vụ; Nâng cao năng lực
quản lý dịch vụ công; Hình thức PPP có nhược điểm: tăng chi phí
chuẩn bị đầu tư; Lợi ích đầu tư khó xác định; Khó khăn trong đàm
phán hợp đồng; Chịu rủi ro về môi trường đầu tư [34, 36, 50, 71].
2.1.2. Các hình thức hợp tác trong đối tác công tư
Một số học giả trên thế giới, như là Idelovitch (1995), Faulkner
(1997) đã phân loại sự hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân trong hình
thức PPP theo 4 hình thức: Hình thức dịch vụ; Hình thức quản lý và
vận hành; Hình thức ủy thác; và Hình thức nhượng quyền [26].
2.1.3. Hợp đồng đối tác công tư
Hợp đồng dự án PPP phải đảm bảo được mối quan hệ hợp tác lâu
dài trong đó trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên được xác định
tương ứng với việc đóng góp, chia sẻ nguồn lực thực hiện dự án.
Trong phạm vi dự án, hợp đồng dự án PPP có tính pháp lý cao để
ràng buộc các bên, đặc biệt là đối tác tư nhân về quyền và nghĩa vụ
thực hiện các cam kết đối với Nhà nước [51].
2.1.4. Bộ máy quản lý chuyên trách về đối tác công tư

Hình thức PPP bao gồm nhiều mô hình hợp tác giữa Nhà nước và
Tư nhân tùy thuộc vào mục đích và nội dung hợp tác. Mô hình PPP
thể hiện đặc điểm về sự hợp tác giữa các bên đối tác, theo đó 1 phần
hoặc toàn bộ công việc được chuyển giao cho Tư nhân thực hiện với
sự hỗ trợ của Nhà nước [24]. Bảng 2.1 thể hiện đặc điểm của 5 mô
hình PPP.
12
,,,. * Bảng 2.1: Đặc điểm về mô hình đối tác công tư
VỚI các mo '
hình PPP khác
nhau nhưng sở
hữu tài sản,
công trình vẫn
thuộc về Nhà
nước. Tuỳ theo
mục tiêu của
cơ quan Nhà
nước, như thu hút VĐT, kinh nghiệm quản lý, để lựa chọn mô hình
PPP trong quản lý ĐTXD cho phù hợp. Đối với quản lý ĐTXD công
trình GTĐT có 4 mô hình PPP thường được áp dụng, như:
2.2.2.1. Mô hình dịch vu (Services):
^ ỉ ọ p đồng
Đặc đ i ể m ^ \ ^
DB. BT
TOT
OM,
OUM
BTL,
BLT
BOT,

Tư nhân
Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân
Hình 2.4. Mô hình dịch vu - Nguồn [26], [46]
2 2 2 2 . Mô hình CỊiiân lý vân hành (OveratìoncdMcincis.ement)
Hình 2.5. Mô hình quản lý vận hành - Nguồn [26], [46]
13
2.2.2. ỉ. Mô hình ủy thác (Commission Management)
Cơ quan nhà nước
Hợp đồng
Đầu tư xây đựng
Công trình giao
thông đô thị
phân chia lợi nhuận
Quản lý, khai thác
Tô chức / Cá nhân
Lợi nhuận kinh tế
Hình 2.6. Mô hình ủy thác - Nguồn [26], [46]
2.2.3.4. Mô hình nhươns quyền quân lý (Franchise Management)
Hình 2.7. Mô hình nhượng quyền quản lý - Nguồn [26], [46]
2.3. Cơ sở pháp lý trong việc ứng dụng hình thức đối tác công tư
Việc ứng dụng hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công trình
GTĐT chịu sự điều tiết của văn bản QPPL chính như là: Luật Xây
dựng, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, Luật Đất đai,
Luật Thủ đô, Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức
PPP và Nghị định 30/2015/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Đấu
thầu về lựa chọn nhà đầu tư, và một số văn bản khác liên quan.
2.4. Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng hình thức đối tác công tư
Luận án nghiên cứu, phân tích 8 ví dụ cụ thể của một số nước trên
thế giới trong việc ứng dụng hình thức PPP trong lĩnh vực GTĐT.
Các trường hợp được phân tích theo nhóm vấn đề: Lựa chọn dự án

nhà nước, góp phần giảm nợ công; Các bên đối tác phải có vai trò
bình đẳng, cùng đóng góp và chia sẻ nguồn lực để thực hiện dự án;
15
Việc ứng dụng được thực hiện trong điều kiện môi trường đầu tư
thông thoáng, minh bạch.
- Ứng dụng hình thức PPP trong các dự án công trình GTĐT,
bước đầu cần nghiên cứu đối với các dự án có quy mô nhỏ, đơn giản.
3.1.2. Nguyên tắc ứng dụng hình thức đối tác công tư
Việc ứng dụng hình thức PPP được thực hiện theo 5 nguyên tắc
sau: 1) Dự án PPP phải có tính hiệu quả về kinh tế tài chính, kinh tế
xã hội; 2) Các bên đối tác tham gia dự án đều có trách nhiệm và lợi
ích khi thực hiện dự án PPP; 3) Việc phân chia rủi ro cho bên nào có
khả năng quản lý rủi ro tốt nhất, giảm thiểu tác động tiêu cực đến dự
án; 4) Không còn cơ chế “xin-cho”, các bên đối tác có quan hệ bình
đằng cùng nhau thực hiện dự án; và 5) Đảm bảo yếu tố cạnh tranh,
minh bạch trong suốt quá trình thực hiện dự án PPP tốt nhất.
3.2. Điều kiện ứng dụng hình thức đối tác công tư
- Ứng dụng hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công trình GTĐT
phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, phát triển
kinh tế xã hội của thành phố.
- Dự án PPP phải có tính hiệu quả về kinh tế, khả năng thu hút và
tiếp nhận nguồn vốn cũng như kinh nghiệm quản lý của Nhà ĐTTN,
sản phẩm dự án PPP phải đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
- Dự án PPP phải có quy mô VĐT tối thiểu từ 20 tỷ trở lên (trừ
trường hợp áp dụng hình thức O&M).
3.3. Hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công trình GTĐT
3.3.1. Lựa chọn mô hình đối tác công tư
Sự hợp tác giữa nhà nước và tư nhân trong quản lý đầu tư xây
dựng công trình giao thông đô thị theo hình thức đối tác công tư
được thể hiện thông qua nhiều mô hình đối tác khác nhau. Việc lựa

dịch
vụ

hình
quản lý
vận
hành
Mô hình
nhượng
quyền
vận hành

hình
ủy
thác
Mô hỉnh
nhượng
quyền sở
hữu
1
Cầu đường bộ
(vượt sông, eo biển)
•/ •/ ■/ v'
2
Cầu đường sắt
•/
3
Cầu vượt cho người
đi bộ (cầu bộ hành)
•/ •/ ■/ s ■/

toàn bộ
Tur nhâ n
thực hiện
toàn bộ
Nhà nước và
Tư nhân cùng
thực hiện
1 Nguồn vốn đầu tir (tỷ đồng) 165,195 175,657 169,352
a
vổ n Nhà nirớc
165,195
-
49,559
b
Vốn Tư nhản
-
165,195 I 15,636
Vốn tự có
-
24,779 34,690
Vốn vay thưcmg mợi - 140,416 80,945
c Lãi vay
10,462 4,157
2 Chĩ tiêu giá tri hiên tai thuần
- NPV (tỷ đồng)
161,099 - 34,699 34,824
3
C hỉ tiê u su ất sin h lọri n ộ i tại,
'V o (IR R )
5,1 1 6,0 7

hiện theo hình thức PPP được Nhà nước góp (30% VĐT) thì dự án
có tính khả thi về pháp lý, hiệu quả kinh tế tài chính.
3.4. Giải pháp ứng dụng hình thức PPP vào thực tiễn
3.4.1. Bộ máy quản lý nhà nước về đối tác công tư
Luận án đề xuất mô hình bộ máy QLNN về hình thức PPP nói
chung và của thành phố Hà Nội nói riêng, đó là việc phải thành lập
các đơn vị đầu mối chuyên trách về đối tác công tư từ cấp Trung
ương đến Địa phương với chức năng, nhiệm vụ cụ thể (hình 3.3).
hiện ở Bảng 3.3.
T T C ức c hi tiên
P h ư ơ n g ỉín p liũn tíc h
P tu rơ n g ÏÎ1» 1 P lnrơ n g án 2 Phurơiig An 3
1
Thực hiện d ự án
N hà nước
thực hiện
toàn bộ
Tư nhân
thực hiện
toàn bộ
N hà nước và Tư
nhãn cùng thự c hiện
theo hình thức p p p
2
C ơ ché chính sách
N hà nước
Nhà nước N hà nước
3 Thiết kế, X ây dựng N hà nư ớc Tư nhân T ư nhân
4 Tài chính N hà nước Tư nh ân Nhà Iiước, Tư nh ân
5

Hình 3.5. Cơ cấu tổ chức Văn phòng PPP Hà Nội
3.4.2. Quy trình đề xuất dự án
Để khắc phục những bất cập hiện nay trong việc đề xuất dự án
PPP, luận án đề xuất giải pháp hoàn thiện “quy trình đề xuất dự án
PPP” được thực hiện theo sơ đồ ở
hình 3.6.
20
Hình 3.6. Quy trình đề xuất dự án đối tác công tư
Trường hợp Nhà ĐTTN đề xuất dự án PPP thì được hưởng ữu đãi
khi tham gia đấu thầu lựa theo một trong ba hình thức (1) Điểm
thưởng, (2) Ưu tiên đề xuất hoặc (3) Ưu tiên xét duyệt.
3.4.3.Chính sách pháp lý
3.4.3.1. Chính sách đảm bảo tính pháp lý khi đầu tư dự án PPP
- Xây dựng khung pháp lý thống nhất và hoàn chỉnh để thực hiện
dự án PPP trong lĩnh vực GTĐT.
- Trên cơ sở Luật Thủ đô, Chính quyền thành phố Hà Nội cần ban
hành các văn bản QPPL về PPP nhằm tạo môi trường đầu tư thông
thoáng, hấp dẫn Nhà ĐTTN tham gia vào các dự án PPP.
3.4.3.2. Chính sách về sở hữu công trình giao thông đô thị
Nhà nước cần có những quy định riêng về vấn đề sở hữu công
trình đối với công trình GTĐT. Trong trường hợp thực hiện mô hình
nhượng quyền sở hữu thì Nhà nước vẫn quản lý, kiểm soát công trình
và không phải chuyển giao hoàn toàn sở hữu công trình cho Nhà
ĐTTN sử dụng, khai thác vận hành.
3.4.3.3. Cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư
Thành phố Hà Nội cần sớm ban hành cơ chế chính sách ưu đãi
đầu tư (ƯĐĐT) như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi
về khai thác dịch vụ công trình GTĐT, Chính sách ƯĐĐT là một
trong những yếu tố giúp dự án thực hiện được khả thi, có hiệu quả về
21

22
3.4.7. Lộ trình thực hiện: theo giai đoạn 2015^2020 và Giai đoạn
2020^2030 và định hướng đến 2050.
3.5. Bàn luận những vấn đề nghiên cứu trong luận án
3.5.1. Bộ máy quản lý nhà nước về hình thức đối tác công tư
Việc thành lập cơ quan chuyên trách về PPP (Văn phòng đối tác
công tư) trực thuộc UBND thành phố giúp khắc phục được những
vướng mắc, bất cập hiện nay. Việc đề xuất thành lập Văn phòng đối
tác công tư phù hợp với cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển của
thành phố, phù hợp với các quy định của pháp luật.
3.5.2. Mô hình PPP trong quản lý ĐTXD công trình GTĐT
Giá trị giải pháp đề xuất ứng dụng hình thức đối tác công tư là
thay đổi phương thức quản lý ĐTXD công trình giao thông cầu bộ
hành, khắc phục được những tồn tại, bất cập trong công tác quản lý
ĐTXD theo hình thức ĐTTT. Nghiên cứu thực hiện dự án ĐTXD
công trình cầu bộ hành hoàn thiện, chất lượng, đảm bảo các yếu tố
kinh tế tài chính, xã hội. Mô hình nhượng quyền hoàn toàn phù hợp
với đặc điểm, điều kiện thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3.5.3. Lợi ích kinh tế - xã hội khi ứng dụng hình thức PPP
Ứng dụng hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công trình GTĐT
sẽ mang lại lợi ích cho đối tác: Nhà nước không những giảm được
gánh nặng đầu tư mà còn thu về cho ngân sách thông qua hiệu quả
hoạt động kinh doanh, khai thác dự án, trong khi vẫn đảm bảo trách
nhiệm cung cấp dịch vụ công cho xã hội; Nhà nước có các công trình
GTĐT có kiến trúc độc đáo, là điểm nhấn của đô thị. Nhà ĐTTN có
cơ hội đóng góp nguồn lực, quảng báo thương hiệu, thu lợi nhuận từ
dự án PPP. Người dân được hưởng quyền sử dụng công trình (sản
phẩm của dự án PPP) với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống.
3.5.4. Cơ chế chính sách quản lý hình thức đối tác công tư
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status