LUẬN VĂN:
Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã ở Việt Nam hiện nay Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng
hoà ra đời đánh dấu một bước chuyển biến vô cùng trọng đại của dân tộc ta. Nó đập
hình thức, kém hiệu quả, chưa quy định rõ ràng trách nhiệm của chính quyền trong
việc thực hiện Quy chế dân chủ. Còn thiếu các phương thức cụ thể để thực hiện
phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" một nội dung quan trọng
của việc thực hiện quyền dân chủ ở cấp xã.
Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước. Việc triển khai
nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ở Việt Nam hiện
nay" là việc làm cần thiết có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đáp ứng
yêu cầu bức xúc hiện nay là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của
dân, do dân và vì dân.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã là những quy phạm mới được ban
hành từ năm 1998 và đang được triển khai thực hiện do vậy các bài viết, công trình
nghiên cứu chỉ dừng lại ở chỗ:
Tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc triển khai
thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã. Đánh giá, tổng kết những thành tựu và những
khó khăn sau hơn 6 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã.
Nhìn chung các bài viết đã lý giải về tính tất yếu phải xây dựng và thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở, qua thực tiễn khảo sát việc thực hiện quy chế ở các địa
phương, vùng miền trong cả nước để đưa ra những thành tựu đã đạt được của việc
thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã cũng như rút ra những bất cập, hạn chế, vướng
mắc của Quy chế, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống pháp
luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã và hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp xã
trên cơ sở lý luận và thực tiễn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
3.1. Mục đích:
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về dân
chủ ở cơ sở và đánh giá thực trạng pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở trong điều
kiện hiện nay; luận văn đề xuát phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn
thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay.
nghĩa duy vật biện chứng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Lịch sử - cụ thể;
kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: Thống kê, so sánh, điều tra xã hội
học.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn:
- Luận văn nghiên cứu xác định khái niệm, tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực
hiện dân chủ ở cấp xã.
- Phân tích, đánh giá một cách tương đối toàn diện thực trạng và những
nguyên nhân tồn tại của Quy chế và thực thi Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện Quy chế thực
hiện dân chủ ở cấp xã trong điều kiện mới.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
- Luận văn góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay
đang đặt ra đối với hoạt động thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở.
- Luận văn thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng
dạy trong các trường pháp lý cũng như nghiện cứu hoàn thiện pháp luật thực hiện
quyền dân chủ ở Việt Nam trong thời gian tới.
8. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết./.
Chương 1:
Cơ sở lý luận về hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã
1.1. Nhận thức chung về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
tách rời dân chủ với pháp luật, quyền lợi và nghĩa vụ. Đây là những vấn đề thời sự
trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay mà chúng ta không thể xem nhẹ.
Một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu về lý luận và có ý nghĩa
thực tiễn cấp bách trong việc mở rộng và phát huy quyền dân chủ của công dân đó
chính là việc nghiên cứu một cách có hệ thống, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
1.1.1.1.1. Dân chủ:
Dân chủ là khái niệm xuất hiện từ thời cổ đại. Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ
là do 2 từ hợp thành Demos (dân chúng) và Cratos (quyền lực hay cai trị). Như vậy,
với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân
dân, dân chủ là sự cai trị của nhân dân. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa:
"Dân chủ, hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận
nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân
chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế
chínn trị nhất định"
1
Dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân là một trong những hình thức tổ
chức chính trị Nhà nước của xã hội mà đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên
tắc thiểu số phải phục tùng đa số, thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân,
thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực. Dân chủ XHCN là một hình thức dân
chủ do nhân dân lao động chủ động thiết lập trong tiến trình đấu tranh cách mạng,
dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thông qua đội chính trị tiên phong của nó, là
Đảng cộng sản. Trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" C.Mác và Ph. Ăng - ghen đã
cho rằng: "Trước hết giai cấp công nhân phải tự mình tổ chức thành giai cấp thống
trị và giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp của nó là giành lấy quyền lực Nhà
nước". Như vậy dân chủ XHCN có mục đích tự thân, giành lấy dân chủ là để tạo điều
kiện phát triển mạnh mẽ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội vì mục tiêu đem lại hạnh
phúc, ấm no, tự do, bình đẳng cho mọi người lao động. C.Mác đã dự báo điều đó
rằng: "Thay cho xã hội tư bản cũ với những giai cấp và đối kháng, giai cấp của nó sẽ
thiết chế chính trị để thực hiện dân chủ tuy không phải bất cứ chế độ nhà nước nào
cũng là chế độ dân chủ. Lịch sử đã từng biết tới các hình thức nhà nước chuyên chế,
quân chủ (dưới các triều đại và chế độ phong kiến) cũng như nhà nước phát xít, các
khuynh hướng độc tài và phát xít hoá nhà nước trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Đó
là những chế độ nhà nước phản dân chủ, xung đột gay gắt với quyền dân chủ của
công dân và xã hội nói chung. Sự trùng hợp giữa dân chủ với nhà nước đòi hỏi tổ
chức và bộ máy Nhà nước được xây dựng nên cùng với công cụ của nó là pháp luật
phải ít nhiều mang tính chất tiến bộ, đáp ứng được những mức độ nào đó của lợi ích
nhân dân và nhu cầu xã hội. Do vậy các cuộc đấu tranh cho dân chủ diễn ra trong
lịch sử bao giờ cũng phản ánh và gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp và đấu
tranh xã hội. Nó đụng chạm trực tiếp tới những cải cách hoặc phá bỏ chế độ Nhà
2
Mác - Ph. Ăng ghen toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 1995, tập 4,
trang 628.
nước này hay chế độ Nhà nước khác. Quyền thống trị của giai cấp này hay giai cấp
khác. Xét trên bình diện xã hội và quản lý xã hội, giải quyết vấn đề dân chủ có nội
dung căn bản của nó ở chỗ giải quyết vấn đề Nhà nước. Lênin viết:
"…Dân chủ là sự thống trị của đa số. Chừng nào mà ý chí của đa số vẫn còn
mờ tối, chừng nào mà người ta vẫn có thể, dù chỉ là hơi giống như thế thôi, cho ý chí
đó là còn mờ tối, thì chừng đó người ta vẫn còn đưa ra cho nhân dân một Chính phủ
của bọn tư sản phản cách mạng dưới chiêu bài Chính phủ "dân chủ". Nhưng tình
trạng đó không thể kéo dài được. Trong vài tháng đã trôi qua kể từ ngày 27/2 trở đi, ý
chí của đa số công nhân và nông dân, tức là tuyệt đại đa số dân cư trong nước, đã thể
hiện ra rõ rệt. nhưng không phải chỉ dưới một hình thức chung mà thôi. ý chí đó đã
biểu hiện rõ trong các tổ chức có tính chất quần chúng - các Xô - Viết đại biểu công
nhân, binh sĩ và nông dân.
giải phóng con người và xã hội mà loài người đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử.
Mỗi bước tiến của dân chủ và mỗi trình độ phát triển của dân chủ là những nấc thang
khác nhau của tiến bộ xã hội. Phản ánh những kết quả khác nhau theo xu hướng ngày
càng cao hơn và hoàn thiện hơn của tổ chức xã hội, của quản lý Nhà nước và quản lý
xã hội nói chung. Sự phát triển của dân chủ đồng thời là nhân tố kích thích và cũng là
kết quả sự mở rộng và nâng cao tính tích cực chính trị của quần chúng. Việc quần
chúng nhận được nhiều hay ít những khả năng và điều kiện để tham gia vào các hoạt
động của Nhà nước, các công việc quản lý xã hội, các hoạt động chính trị, điều đó
phụ thuộc vào mức độ phát triển thực tế của dân chủ xã hội. Của pháp luật dân chủ và
tiến bộ xã hội. Với dân chủ, con người chuyển từ thế bị động, lệ thuộc bởi giai cấp
bóc lột, thống trị tới chỗ xác lập vai trò chủ thể, tích cực trong xã hội mà mình trở
thành người chủ. Việc nhân dân lao động giành lấy dân chủ thông qua đấu tranh giai
cấp và cách mạng xã hội để thay thế chế độ xã hội cũ bằng chế độ xã hội mới tiên tiến
hơn, dân chủ hơn có ý nghĩa tích cực về chính trị và văn hoá.
Để có quan niệm đúng đắn và toàn diện về bản chất của dân chủ XHCN cần
phải khắc phục tính chất phiến diện trước đây thường dẫn tới đồng nhất giản đơn giữa
dân chủ với Nhà nước, với chế độ Nhà nước và từ đó quan niệm rằng sự tiêu vong
của Nhà nước (đến một lúc nào đó trong tiến trình phát triển của lịch sử) cũng đồng
thời là sự tiêu vong của dân chủ. Điều đó đem lại cảm giác rằng, dường như dân chủ
là một vấn đề tạm thời, vấn đề quyền lực của giai cấp thống trị gắn liền với tổ chức và
bộ máy Nhà nước. Cũng do đó, trong quan niệm truyền thống dân chủ chỉ được xem
như một phạm trù lịch sử. Phương pháp tiếp cận hệ thống khắc phục tình trạng ấy
bằng cách xác định một tập hợp các yếu tố nổi bật và quan trọng nhất dưới đây:
1. Dân chủ được xét với tư cách là hình thức tổ chức xã hội, là phương thức
quản lý và điều hành xã hội được xây dựng thành các thiết chế, Quy chế, chế độ được
bảo đảm về mặt pháp lý và được biểu hiện thành trật tự của tổ chức, bộ máy Nhà
nước. Dân chủ trở thành một hình thức tổ chức Nhà nước, thông qua tổ chức và quản
lý để thực hiện quyền lực đối với xã hội. Lẽ đương nhiên, chủ thể trực tiếp của quyền
lực đó trước hết thuộc về một giai cấp hoặc lực lượng xã hội nào nắm quyền điều
đích thực của dân chủ là ở chỗ giành về cho đại đa số nhân dân lao động những
quyền lực của chính họ thông qua đấu tranh cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới
của chính bản thân quần chúng nhân dân. Sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa dân chủ
và CNXH là ở đó. CNXH tìm thấy dân chủ một thuộc tính bản chất, một trong những
4
V.I. Lênin toàn tập, Tiếng việt, NXB Tiến bộ, Mat - Xcơ - Va, 1976, T33,
trang 101.
động lực phát triển nội tại của mình. Dân chủ trên con đường tiến hoá và phát triển
tìm thấy ở hình thức tổ chức xã hội XHCN những khả năng và điều kiện tốt nhất để
bộc lộ đầy đủ tiềm lực, sức mạnh bản chất, chân giá trị của mình.
1.1.1.1.2. Quyền dân chủ:
Nếu hiểu dân chủ là việc nhân dân giành lấy quyền lực Nhà nước, làm chủ xã
hội và tham gia vào việc quản lý xã hội ấy là khách quan, thì Quyền dân chủ là tất cả
những quyền năng được luật pháp ghi nhận.
Theo chúng tôi Quyền dân chủ là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định
quyền của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội nó bao gồm các quyền về dân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
Như vậy khi nói tới quyền dân chủ hay các giá trị dân chủ được thể chế hoá
trước hết phải xác định nguồn gốc của nó là do pháp luật thừa nhận và quy định phù
hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của xã hội trong từng thời kỳ. Sau đó Nhà nước
bảo đảm cho các giá trị đó được thực hiện trên thực tế.
Quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà
nước XHCN ban hành và bảo đảm thực hiện quy định các quyền của công dân trong
mối quan hệ với Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… bảo
đảm cho nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước.
Theo chúng tôi quyền dân chủ XHCN hiện nay của nhân dân ta được phân
Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức. Tổ chức sản
xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư
nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.
Các quyền kinh tế gắn liền với việc bảo đảm cho cá nhân tự do sử dụng các đồ
dùng và các yếu tố cơ bản của hoạt động sản xuất - các điều kiện sản xuất và sức lao
động là một trong các điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại của xã hội công dân
với tư cách là cơ sở xã hội của chế độ dân chủ và cho sự bảo đảm tự do của cá nhân.
Các quyền kinh tế ngày càng được mở rộng cho cá nhân, đó là việc Nhà nước
tôn trọng và bảo hộ các quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, các cá nhân có quyền tự
do lựa chọn ngành nghề kinh doanh trong cơ chế bình đẳng, công bằng, công khai
giữa các thành phần kinh tế.
4. Các quyền xã hội, văn hoá và sinh thái:
Các quyền xã hội, văn hoá và sinh thái bao gồm quyền được bảo đảm có các
điều kiện vật chất, tinh thần và môi trường trong sạch cho sự tự do và cuộc sống xứng
đáng của mỗi người.
Việc thực hiện các quyền này của nhân dân không chỉ bằng pháp luật và sự
bảo vệ của Nhà nước, mà còn đòi hỏi phải tạo ra hàng loạt các phúc lợi xã hội khác.
Nhóm các quyền này quy định nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm cho mỗi người những
điều kiện sinh tồn xứng đáng, những phúc lợi và dịch vụ vật chất tối thiểu để duy trì
cuộc sống của con người, phát triển tinh thần trong một môi trường bao quanh lành
mạnh. Khi đó, các quyền xã hội sẽ bao gồm việc bảo đảm cho mỗi người một mức
sống và bảo đảm xã hội xứng đáng (các quyền Bảo hiểm xã hội, nơi ở, lao động, bảo
vệ sức khoẻ…). Các quyền văn hoá có nhiệm vụ bảo đảm sự phát triển tinh thần của
cá nhân (quyền học tập, tự do sáng tạo, tận hưởng các giá trị văn hoá…); Các quyền
sinh thái là quyền có một môi trường bao quanh tốt lành, có thông tin đáng tin cậy về
thực trạng của nó. Nhà nước cần quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ môi trường sinh
trong lúc này là nâng cao dân trí" và "Mọi người dân Việt Nam phải hiểu biết quyền
lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công
cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ"( T4 trang
29). Nhờ chủ trương đúng đắn này và với sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân mà
chỉ sau một thời gian ngắn dưới chế độ mới da số nhân dân ta đã có thể tự tay viết lá
phiếu bầu những Đại biểu xứng đáng vào Quốc hội đầu tiên của một nước độc lập.
Chủ trương của Hồ Chí Minh về "diệt giặc dốt", xoá nạn mù chữ là nhất quán
và xuyên suốt trong quá trình thực hành dân chủ, khi bắt đầu cách mạng XHCN ở
miền Bắc Người khẳng định "Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, chịu hèn cho
nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng của nhân
dân các nước dân chủ mới". ( Tập 7 trang 237) Trong những năm cuối đời Hồ Chí
Minh vẫn luôn quan tâm đến vấn đề này. Người thường xuyên đến thăm hỏi, khen
ngợi những đơn vị, những địa phương làm tốt công tác xoá mù chữ, nhắc nhở, động
viên, hướng dẫn những nơi làm chưa tốt. Bản thân việc xoá nạn mù chữ không phải là
mục đích cuối cùng. Xoá nạn mù chữ là một bước để tiến tới việc nâng cao dân trí,
nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân. Người nói: "Thanh toán nạn mù chữ là bước
đầu nâng cao trình độ văn hoá. Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp
chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình
độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một
nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" ( T 7 trang 551) vì vậy Hồ
Chí Minh cùng với Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nhân
dân về kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật và cả về giáo dục chính trị, tư tưởng.
Giáo dục kiến thức văn hoá - khoa học kỹ thuật có tác- dụng tạo ra cơ sở cho
việc thực hiện dân chủ. Người lao động có trình độ văn hoá, trình độ khoa học và kỹ
thuật mới làm chủ được sản xuất, làm chủ xí nghiệp, áp dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật để cải tiến sản xuất, cải tiến quản lý, tăng năng suất lao động, làm cho kinh
tế phát triển. Trên cơ sở đó mới có thể nâng cao đời sống nhân dân, mặt khác, giáo
"Công dân nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà:
Có quyền làm việc.
Có quyền nghỉ ngơi.
Có quyền học tập.
Có quyền tự do thân thể.
Có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình.
Có quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Có quyền bầu cử, ứng cử…" ( T8 trang 567 )
Và các quyền đó phải đi đôi với nghĩa vụ "Tuân theo hiến pháp, pháp luật, kỷ
luật lao động, trật tự công cộng và những quy tắc sinh hoạt xã hội - công dân có nghĩa
vụ tôn trọng tài sản công cộng, đóng thuế theo luật pháp, làm nghĩa vụ quân sự, bảo
vệ Tổ quốc"( T 8 trang 586 )
Để bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân, để bảo đảm
công bằng và bình đẳng giữa các công dân, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc xây dựng hệ
thống luật pháp. Hiến pháp và pháp luật có tác dụng giáo dục, thuyết phục là chính
nhưng cũng "Thẳng tay trừng trị kẻ bất lương, bất kỳ người ấy ở đơn vị nào, làm
nghề gì" ( T 5 trang 245 ) tuy nhiên, người cũng không có ảo tưởng rằng khi đã có
luật là đã có thể sống và làm việc theo luật một cách đầy đủ và ngay lập tức, vì tư
tưởng cũ, tập quán cũ đã ăn sâu bén rễ trong nhân dân. Vì vậy, khi công bố một đạo
luật "Chưa phải là mọi việc đã xong, mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới
thực hiện tốt"( T 8 trang 499 ).
Để có thể làm trọn chức năng của dân, do dân, vì dân, ngoài việc xây dựng và
thi hành Hiến pháp và luật, Nhà nước cần phải tạo ra các điều kiện vật chất và tinh
thần giúp nhân dân thực hiện các quyền dân chủ, hướng dẫn nhân dân phát huy các
quyền làm chủ của mình. Người nói: "Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và
sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tính cực và sức sáng tạo của nhân
dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà
chính quyền cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp, Người thường nêu khẩu
hiệu "Chống giặc đói" lên hàng đầu. Suốt cuộc đời Người thường mong muốn và
phấn đấu thực hiện để mọi người Việt Nam được no ấm, đời sống của nhân dân ngày
một được nâng cao. Không thể nói đến dân chủ và thực hành dân chủ khi dân không
có cơm ăn, áo mặc. Không thể có dân chủ trong đói nghèo, lạc hậu và không thể phát
triển dân chủ nếu đời sống của nhân dân không được nâng cao. Hồ Chí Minh cho
rằng, điều quan trọng bậc nhất của các kế hoạch kinh tế là nhằm cải thiện dần đời
sống của nhân dân và "Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết
nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên CNXH
1
(T7, trang 623), Mặt
khác, người nhắc nhở: Chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội, để nâng
cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự"
2
(T7, trang 4). Hồ Chí Minh
đã triển khai tư tưởng này trong thực tế, người luôn quan tâm đến việc làm sao để
tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, cải tiến quản lý, hợp lý hoá sản xuất; chăm lo
giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, việc làm cho nhân dân và thực hiện cải
cách xã hội khác nhằm làm cho đời sống của nhân dân ngày một nâng cao, góp phần
thực hiện dân chủ thực sự. Luận điểm này còn có giá trị phương pháp luận, nó khẳng
định rằng mọi biện pháp, bước đi, con đường xây dựng đất nước, mọi đường lối, chủ
trương, cải cách, cải tạo, cải tiến, đổi mới là đúng đắn và có kết quả nếu thoả mãn
được 2 yêu cầu: Đời sống và dân chủ cho nhân dân.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng, dưới ánh sáng của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng HCM cho thấy, nguồn gốc của mọi thắng lợi là sức mạnh
của nhân dân. Thực tiễn ngày càng khẳng định quan điểm khoa học, cách mạng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của
khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp sau này. Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định:
"Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là
những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra
vầ chịu trách nhiệm trước nhân dân". Như vậy, hình thức chủ yếu của dân chủ đại
diện ở nước ta là thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Ngoài ra nhân
dân còn làm chủ thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp của
nhân dân được lập nên theo nguyên tắc tự nguyện.
Tuy nhiên, dân chủ đại diện dù có ý nghĩa quan trọng đến mấy vẫn không thể
khắc phục được những hạn chế của chế độ Nhà nước với tính cách là chủ thể quyền
lực được uỷ quyền nhưng lại trực tiếp thực hiện quyền năng của người uỷ quyền là
nhân dân. Do vậy, trong một phạm vi, mức độ đáng kể nhân dân vẫn bị tách khỏi
quyền lựcNhà nước và không phải lúc nào những uỷ quyền của nhân dân cũng được
thực thi đúng. Vẫn có nguy cơ về căn bệnh tha hoá quyền lực, quan liêu hoá bộ máy
Nhà nước, sự cồng kềnh, kém hiệu quả của các thiết chế quyền lực, sự xuất hiện một
bộ phận cán bộ đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Nhà nước sẽ khó khắc phục nổi nến
thiếu các nổ lực của các lực lượng quần chúng nhân dân. Để khắc phục tình trạng đó
cần phải có sự tham gia tích cực và chủ động của nhân dân với tư cách là chủ thể duy
nhất và tối cao của quyền lực Nhà nước - Đó chính là chế độ dân chủ trực tiếp.
1.1.2.2. Dân chủ trực tiếp:
Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền lực về
những vấn đề cơ bản, chính yếu của một tập thể, một cộng đồng. Cơ quan quản lý có
trách nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảođảm đưa nó vào thực thi trong cuộc sống.
Dân chủ trực tiếp có vị trí, vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với toàn bộ
đời sống dân chủ của đất nước được thể hiện trên những điểm chính sau đây:
Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí
tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn
đề lớn từ quốc kế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, dân cư. Thông
Tăng cường và hoàn thiện các chế độ thực hiện dân chủ của nhân dân là việc
làm lâu dài và thường xuyên của Đảng và Nhà nước để bảo đảm mỗi bước phát triển
của dân chủ phải được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật có tính chất mở
đường định hướng cho sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhưng việc phát huy
và mở rộng dân chủ phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ dân
trí, truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân chủ đi đôi với kỷ
cương, quyền hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ.
1.2. Quy chế thực hiện dân chủ ở xã - khái niệm, phạm vi điều chỉnh, vai trò:
1.2.1. Khái niệm, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã:
Quyền dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, luật và các
văn bản dưới luật khác. Để thực hiện quyền dân chủ của công dân đòi hỏi các cơ quan
Nhà nước, tổ chức xã hội, các nhân viên Nhà nước, các cán bộ, công chức và mọi
công dân phải triệt để tuân thủ pháp luật. Nói cách khác thực hiện quyền dân chủ là
tất cả các quyền dân chủ do pháp luật quy định được tôn trọng và thực hiện trên thực
tế.Thực hiện dân chủ ở xã là việc chính quyền (HĐND và UBND) phải thực hiện một
số hành vi nhất định để công dân thực hiện được các quyền dân chủ của mình.
Quy chế thực hịên dân chủ ở xã là văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa chính quyền cơ sở với công
dân trong việc phải thông tin kịp thời và công khai những việc để dân biết; những
việc dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc dân tham gia ý kiến trước khi cơ
quan Nhà nước quyết định; những việc dân giám sát kiểm tra và việc xây dựng cộng
đồng dân cư thôn.
1.2.2. Phạm vi điều chỉnh của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã:
Phạm vi điều chỉnh của pháp luật (nói chung) là giới hạn điều chỉnh của hệ
thống pháp luật nhưng không phải là giới hạn chung cho tất cả các chế định pháp luật
và các ngành luật. Mỗi chế định pháp luật, mỗi ngành luật đều có phạm vi điều chỉnh
riêng, đó là những quan hệ xã hội cùng loại thuộc một lĩnh vực của đời sống xã hội
Thứ ba: Những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, chính quyền xã quyết
định.
Đây là những công việc thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền cấp xã
hoặc của cơ quan nhà nước cấp trên nhưng có liên quan đến việc phát triển kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội ở địa phương. Nhân dân được bàn bạc, tham gia ý kiến.
Chính quyền cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân công khai để dựa vào đó mà ban
hành quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Thứ tư: Những việc nhân dân giám sát kiểm tra.
Đây là những nội dung liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành của chính
quyền cấp xã, nhân dân có quyền giám sát, kiểm tra đối với các hoạt động ấy bằng
nhiều hình thức khác nhau. Chính quyền cấp xã có trách nhiệm giải quyết và trả lời
những nội dung mà nhân dân quan tâm theo thẩm quyền.
Thứ năm: Xây dựng cộng đồng dân cư thôn:
Nhằm thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình
thức hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư và là nơi tổ chức cho nhân dân thực
hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm
vụ cấp trên giao. Tổ chức thôn được thành lập. Trưởng thôn là người đại diện cho
nhân dân trong thôn do nhân dân bầu và được Chủ tịch UBND xã công nhận. Thôn
xây dựng hương ước, quy ước về công việc nội bộ cộng đồng dân cư, kế thừa và phát
huy thuần phong, mỹ tục của cộng đồng, phù hợp với quy định của pháp luật hiện
hành nhằm bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an
toàn giao thông, vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh.
Xác định phạm vi điều chỉnh của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã có ý nghĩa
hết sức quan trọng, một mặt giúp cho chính quyền thấy được những nội dung công
việc cụ thể phải thực hiện mặt khác để người dân thực hiện quyền dân chủ trong
khuôn khổ của pháp luật tránh việc lợi dung dân chủ để gây mất đoàn kết nội bộ, phá
rối trật tự công cộng hoặc có những hành vi chống phá chính quyền nhân dân.
dân chủ nó đã thúc đẩy các cơ quan Nhà nước, các nhà chức trách thực hiện nghiêm
chỉnh các nghĩa vụ pháp lý để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân theo
quy định của pháp luật.
Như vậy Quy chế thực hiện dân chủ ở xã đã góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam "nó" không chỉ là công cụ thể chế hoá một số chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước mà còn
đóng góp tích cực vào việc nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác.
1.2.3.2. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã trong đời sống xã hội:
Với các quan điểm chỉ đạo trong quá trình xây dựng Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã là:
"Đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể
của hệ thống chính trị "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", coi
trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn một mặt mà coi nhẹ, hạ thấp các mặt khác.
Vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động
của Quốc hội, chính phủ, hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp vừa thực
hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực
tiếp những công việc quan trọng thiết thực, gắn liền với lợi ích của mình. Phát huy
dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao dân trí, tạo điều kiện
mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả" (Chỉ thị 30 - CT/TW ngày 10/2/1998 của
BCHTW).