Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Còn nhớ mỗi câu chuyện bố mẹ kể về cuộc sống xưa, mỗi nét phảng phất
nét buồn hoài niệm về một thời khá vất vả khó khăn nhưng cũng khá vui vẻ đằm
thắm tình cảm gia đình –Thời bao cấp . Thời đó mỗi cân thịt , con cá nong gạo ,…
đều chia và phân phối và ngày tết mới đầy đủ chút , thêm một vài cái bánh cái kẹo
cho gọi là có tết Nhưng trẻ con với mấy cái kẹo đen vỏ ngoài thì xấu xí vẫn ăn ngon
lành vẫn vui vẻ nô đùa . Hôm nay đất nước như thay da đổi thịt cuộc sống no ấm hơn
rất nhiều .Lớn lên giữa thời đại đất nước hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trước
những khó khăn những thử thách của việc toàn cầu hóa cũng là cơ hội đưa đất nước
bắt kịp các cừong quốc trên thế giới . Trong quá trình đó đất nước đang lớn lên từng
ngày từng giờ từng bước tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa với sự vận động
biến chuyển không ngừng .Và Hôm nay trước khi bước chân thứ hai vào đời em
muốn biết một góc nhỏ về những thay đổi của những ngày qua. Những đổi mới như
thế nào ? hơn một chút là do đâu ? vì đâu mà có những thay đổi đó . Và em muốn tìm
hiểu qua ngành bánh kẹo với công ty CP bánh kẹo Hải Hà. Báo cáo thực tập bao
gồm 3 phần :
Chương 1: Giới thiệu sơ lược về công ty CP bánh kẹo Hải Hà
Chương2: Đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Chương 3 Đánh giá khái quát về mặt tổ chức và quản trị
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 1: Giới thiệu sơ lược về công ty CP bánh kẹo
Hải Hà
I. Thông tin chung về công ty CP bánh kẹo Hải Hà
1. Vài nét sơ lược về công ty CP bánh kẹo Hải Hà
Tên công ty :Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Gọi tắt là HaiHaCo
Tên giao dịch quốc tế :Haiha Conectionery Joint -Stock company
Biểu tượng của công ty:
Trụ sở công ty : 25-29 Trương Định - Quận Hai bà Trưng -Tp.Hà Nội
Năm 1992 Công ty Hải hà liên kết với công ty Kotobuki thành lập công ty
TNHH Hải hà -Kotobuki
Năm 2003 Công ty thực hiện cổ phần hóa theo quyết định số 191/2003/QĐ-
BCN ngày 14/11/2003 của Bộ Công nghiệp
Công ty chính thức hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần từ ngày
20/01/2004 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103003614 do Sở Kế
hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp và thay đổi lần thứ hai ngày 13/08/2007
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Đặc điểm kinh tế kĩ thuật công ty CP bánh kẹo Hải Hà
Kẹo chew : Dẫn đầu trong cơ cấu doanh thu là nhóm sản phẩm kẹo chew Hải Hà với
sản lượng tiêu thụ của kẹo chew gối và chew nhân đạt 4.287 tấn, doanh thu tăng từ 27,7%
năm 2004 lên 32% năm 2006. Xét về dòng kẹo chew, HAIHACO giữ vị trí số 1 về công
nghệ, uy tín và thương hiệu trên thị trường. Trong tương lai gần sản phẩm của các đối thủ
cạnh tranh như Bibica, Perfectti Van Melle sẽ chưa phải là thách thức lớn nhất đối với
HAIHACO. Sản phẩm kẹo chew Hải Hà có mười hai hương vị: nhân dâu, nhân khoai môn,
nhân sôcôla, nhân cam….với công suất 20 tấn/ngày.
Kẹo mềm : Trong cơ cấu doanh thu 2006 sản phẩm kẹo mềm chiếm 24,7%. HAIHACO là
Công ty sản xuất kẹo mềm hàng đầu, với dây chuyền thiết bị hiện đại của Cộng hòa liên
bang Đức, các sản phẩm kẹo xốp mềm Hải Hà chiếm lĩnh phần lớn thị phần của dòng sản
phẩm này vượt qua tất cả các công ty sản xuất kẹo mềm trong nước.
Bánh kem xốp : Sản phẩm bánh kem xốp và bánh xốp cuộn được sản xuất trên 2 dây
chuyền của Malaysia công suất 6 tấn/ngày và 3 tấn/ngày. Sản phẩm của HAIHACO vẫn có
ưu thế về giá cả, chất lượng cũng không thua kém các sản phẩm cạnh tranh khác từ các
doanh nghiệp trong nước như Kinh Đô, Bibica, Hải Châu, Wonderfarm và hàng nhập khẩu.
Doanh thu từ bánh kem xốp đạt 36,1 tỷ đồng trong năm 2006 tăng 5,2 tỷ đồng. Về tỷ trọng,
dòng sản phẩm này chiếm 10,9%, tăng từ 9% năm 2005. Sản lượng tiêu thụ đạt mục tiêu
chất lượng đề ra.
Kẹo Jelly : Là dòng sản phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, từ 6,0% năm 2004 đến
8,6% năm 2006, kẹo jelly đem lại cho HAIHACO 28,6 tỷ đồng doanh thu (tăng 22,8% so
kg/người/năm vào năm 2003
(2)
);
Thị trường bánh kẹo có tính chất mùa vụ, sản lượng tiêu thụ tăng mạnh vào thời điểm sau
tháng 9 Âm lịch đến Tết Nguyên Đán, trong đó các mặt hàng chủ lực mang hương vị truyền
thống Việt Nam như bánh trung thu, kẹo cứng, mềm, bánh qui cao cấp, các loại mứt, hạt…
được tiêu thụ mạnh. Về thị phần phân phối, trong các siêu thị, bánh kẹo Việt Nam luôn
chiếm khoảng 70%, bánh kẹo của các nước lân cận như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc
chiếm khoảng 20% và bánh kẹo châu Âu chiếm khoảng 6 - 7%
(3)
;
Kể từ khi việc giảm thuế nhập khẩu cho các mặt hàng bánh kẹo xuống còn 20% có hiệu
lực trong năm 2003, các doanh nghiệp trong nước dưới sức ép cạnh tranh từ hàng nhập khẩu
phải không ngừng đổi mới về công nghệ. Điều này mở ra nhiều cơ hội hơn là thách thức do
hàng rào thuế hạ thấp sẽ tạo thêm thuận lợi để sản phẩm của các doanh nghiệp trong ngành
đi vào các nước ASEAN.
Tham gia thị trường hiện nay có khoảng hơn 30 doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo có tên
tuổi. HAIHACO là một trong năm nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam, là đối thủ
cạnh tranh trực tiếp của các công ty như Bibica, Kinh Đô miền Bắc với qui mô tương đương
về thị phần, năng lực sản xuất và trình độ công nghệ.
HAIHACO được đánh giá có thế mạnh về sản xuất kẹo và bánh xốp, Đức Phát mạnh bởi
dòng bánh tươi, Kinh Đô mạnh về bánh qui, bánh cracker, trong khi Bibica lại mạnh về kẹo
và bánh bông lan. HAIHACO chiếm khoảng 6,5% thị phần bánh kẹo cả nước tính theo
doanh thu. Thị phần của Kinh Đô chiếm khoảng 20%, Bibica chiếm khoảng 7%, Hải Châu
chiếm khoảng 3%. Số lượng các cơ sở sản xuất bánh kẹo nhỏ hơn không có con số chính
xác. Các cơ sở này ước tính chiếm khoảng 30-40% thị phần.
(Theo Haihaco.com.vn)
2. Định hướng phát triển của công ty
Những thành tích HAIHACO đã đạt được trong thời gian qua cho phép
khẳng định bánh kẹo do Công ty sản xuất sẽ tiếp tục chiếm ưu thế tại thị trường nội
I. Phân tích sự biến động kết quả hoạt động kinh doanh(đv. trđ)
Năm 2005 2006 2007 2008
Tổng doanh thu
332839.5 329839.9 344275.1 418811.3
Lợi nhuận gộp
45670.0 51371.6 59748.7 67390.3
Giá vốn hàng bán
284358.3 274458.4 281499.2 348614.5
Lợi nhuận sau thuế
14756.4 15036.3 19735.9 18992.6
Tổng nguồn vốn 157177.3 166853.2 194763.6 205289.2
Nhìn vào bảng trên ta thấy rằng doanh thu , lợi nhuận .giá vốn hàng bán liên
tục tăng và tăng truởng khá cao : doanh thu tăng hang năm 2005-2006; 2006-2007
tăng khoảng 5% còn năm 2007-2008 doanh thu tăng 20% . có thể nói do khủng
hoảng kinh tế đã làm cho đoạn thị trường có thu nhập cao bị thu hẹp. Lại thấy lợi
nhuận gộp năm 2008 cao hơn năm 2007 nhưng lợi nhuận thuần lại thấp hơn năm
2007 đồng thời tỷ lệ tổng DT / giá vốn hàng bán tăng từ 1.75 lên 1.92 ta có thể suy
đoán rằng việc mua thông tin và ngiên cứu môi trường nhằm ra các quyết định chắc
chắn hơn khiến chi phí quản lý tăng lên
II. Đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty.
Công ty Hải Hà Biên Hòa Bibica
2006 2007 2006 2007 2006 2007
ROE 20.63% 22.95% 20.4% 14.61% 13.94% 12.52%
ROA 0.09 0.11 0.09 0.09 0.09 0.08
Tổng nợ /Tổng vốn
CSH
1.29 0.96 0.67 0.76 0.33 0.83
Vòng quay vốn LĐ 7.54 8.83 5.87 2.49 6.08 5.81
Vòng quay hàng tk 4.33 4.69 10.45 7.95 4.07 4.46
Vòng quay Tổng TS 1.95 1.89 1.41 1.02 1.62 1.46