Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa đề xuất hướng sử dụng hợp lý đất trồng lúa huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG TRẦN TRUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG
LÚA VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP
LÝ ĐẤT TRỒNG LÚA HUYỆN SƠN
DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG TRẦN TRUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG
LÚA VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP
LÝ ĐẤT TRỒNG LÚA HUYỆN SƠN
DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học:
TS. HOÀNG VĂN HÙNG
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo
vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Một số cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông
nghiệp trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.1. Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 4
1.1.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 6
1.2. Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm bền vững 8
1.3. Lý luận về hiệu quả, hiệu quả sử dụng đất 10
1.3.1. Khái quát về hiệu quả, hiệu quả sử dụng đất 10
1.3.2. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất 11
1.3.3. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất 11
1.3.4. Phân loại hiệu quả 12
1.3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
1.4. Các nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển sản
xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 16
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới 16
1.4.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 18
Chương 2 20
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 20
iv

2. Đề nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BVTV Bảo vệ thực vật
BQ Bình quân
CPTG Chi phí trung gian
ĐVT Đơn vị tính
FAO (Food and Agriculture Organization)
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực
Liên Hợp Quốc
TCP Tổng chi phí
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GTGT Giá trị gia tăng
GTSP Giá trị sản phẩm
IRRI Viện nghiên cứu lúa Quốc tế
KH Khấu hao
LĐ Lao động
LUT Loại hình sử dụng đất
LUU Kiểu sử dụng đất
TNHH Thu nhập hỗn hợp
RRA Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn.
PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia.
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất trồng
cây hàng năm ở Việt Nam 8
Bảng 2.1: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 25

dụng đất lúa tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 65
Biểu đồ 3.4: Biểu diễn mỗi tương quan giữa nhóm yếu tố tự nhiên với hiệu quả sử
dụng đất lúa tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 65
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các
nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông
nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển
của các ngành khác (Nguyễn Đình Bồng, 2002)[4]. Vì vậy việc tổ chức khai
thác sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan
trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững (Thái Phiên, 2000)[18].
Trước những diễn biến của biến đổi khí hậu, loài Người đang đứng trước nguy
cơ đối mặt với cuộc khủng hoảng trầm trọng về lương thực. Do đó, vấn đề an
ninh lương thực hiện nay đang được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm,
chú trọng (Nguyễn Thế Đặng và cs, 2003)[8]. Theo dự báo, Việt Nam là một
trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu và nước
biển dâng, vì vậy bảo vệ an ninh lương thực cho thế hệ hôm nay và mai sau là
hết sức cần thiết (Trần Thị Mai Anh và cs, 2013)[1].
Sử dụng đất đai có ý nghĩa to lớn trong việc quản lý nhà nước về đất đai, là
cơ sở để tiến hành xây dựng phát triển các ngành sản xuất hợp lý nhằm khai thác
triệt để tiềm năng đất đai, nâng cao tổng sản phẩm (Đỗ Nguyên Hải, 2000)[12].
Thông qua công tác quy hoạch sử dụng đất đai giúp cho cải tạo nâng cao độ màu
mỡ của đất, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển bền vững (Trần Thị Minh
Châu, 2007)[6]. Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục khẳng định rõ nội dung lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo ngành, theo cấp lãnh thổ hành chính và được cụ
thể hoá. Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu kinh
tế - xã hội của vùng lãnh thổ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được tiến hành là
điều kiện cần thiết nhằm tạo ra những điều kiện thiết yếu để tổ chức sử dụng đất đai
hợp lý hơn, sắp xếp bố trí lại các ngành sản xuất, các công trình xây dựng cơ bản,

2. Mục tiêu tổng quát của đề tài
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa và đề xuất hướng sử dụng hợp lý đất
trồng lúa của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
3
3. Mục tiêu cụ thể của đề tài
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Quang;
- Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất trên đất trồng lúa
tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang;
- Nghiên cứu một số loại hình sử dụng đất có hiệu quả nhằm góp phần giúp các
hộ gia đình, cá nhân lựa chọn phương thức sử dụng đất phù hợp với điều kiện thực tế
của địa phương và định hướng sử dụng đất trồng lúa giai đoạn 2013-2020;
- Đề xuất các giải pháp sử dụng đất trồng lúa hợp lý tại huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang.
4. Yêu cầu của đề tài
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin số liệu, tài liệu điều tra phải
trung thực, chính xác đảm bảo độ tin cậy, phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất trên
địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa với những chỉ tiêu phù hợp với
điều kiện cụ thể của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Việc phân tích xử lý số liệu phải trên cơ sở khoa học, có định tính và định
lượng bằng phương pháp nghiên cứu phù hợp.
- Các giải pháp đề xuất phải phù hợp về mặt khoa học và phải có tính thực thi.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của huyện Sơn Dương trong việc quy hoạch sử
dụng đất nông nghiệp nói chung, đất trồng lúa nói riêng. Các khuyến cáo về loại hình
sử dụng đất sẽ cung cấp cho nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất
đạt hiệu quả cao.
4

các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng
vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói đất nông nghiệp người
ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có
trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành. Trong tr-
ường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới
được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng
vào mục đích nào là chính).
Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích
sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy
sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông
nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông
nghiệp khác”.
1.1.1.2. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này có nghĩa là
toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây
trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả của
việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua
tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số
sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng
đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội
trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu (Nguyễn Hoàng Đan và Đỗ
Đình Đài, 2003)[9].
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự bền
vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được
bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương
6
lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường. Vì vậy, các

chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến
nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây
bụi và cỏ dại.
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai
thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về
lương thực thực phẩm cho loài người. Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên
bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt. Từ số liệu của UNDP năm 1995 (Trần
An Phong và cs, 1996)[9] cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế
giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác
trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN.
1.1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2011, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên
là 33.095,7 nghìn ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 10.126,1 nghìn ha, dân
số là 87.840,1 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là
1.151,65 m
2
/ người.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã
hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà
quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ
công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên
phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động,
theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến
động về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây được thể
hiện ở Bảng 1.1.
8
Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất
trồng cây hàng năm ở Việt Nam
Năm

1.121
2007
9.420,3
6.309,6
85.155
1.106
2012
10.151,1
6.401,3
88.773
1.143
2013
10.210,8
6.422,8
89.709
1.138
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2013)
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002)[4] đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta
chỉ chiếm 28,38% diện tích tự nhiên và gần tương đương với diện tích này là diện
tích đất chưa sử dụng. So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất nông
nghiệp rất thấp. Do vậy, để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương
thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp
lý đất đai, tiết kiệm và sử dụng đất có hiệu quả .
1.2. Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm bền vững
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi nhu cầu của con người về các
sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị
thu hẹp do được chuyển sang sử dụng vào các mục đích khác mà chủ yếu cho phát
triển công nghiệp, dịch vụ. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cần hướng
tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương
thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu.

quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu
cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau (FAO, 1997)[35]. Để
10
phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta trước hết cần nắm vững mục tiêu về tác
dụng lâu bền của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học.
1.3. Lý luận về hiệu quả, hiệu quả sử dụng đất
1.3.1. Khái quát về hiệu quả, hiệu quả sử dụng đất
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, xuất phát từ các góc độ nghiên
cứu khác nhau. Có quan điểm cho rằng hiệu quả sử dụng đất được tính bằng tổng
giá trị sản xuất thu được. Nếu như vậy thì mới chỉ nhìn thấy kết quả của quá trình
sản xuất về mặt tổng thể, chưa phân biệt được giữa chi phí bỏ ra, giá trị tăng thêm
và lợi nhuận thu được. Có quan điểm lấy chỉ tiêu giá trị tăng thêm là hiệu quả. Nếu
như vậy thì chưa tách được giữa thu nhập hỗn hợp, khấu hao tài sản cố định và lợi
nhuận thu được. Có quan điểm cho rằng hiệu quả phải được tính bằng số lợi nhuận
thu được sau khi đã trừ đi toàn bộ các khoản chi phí (kể cả chi phí lao động). Chỉ
tiêu này có thể phản ánh được tương đối chính xác về hiệu quả kinh tế sử dụng đất
đai, nhưng nó chỉ áp dụng được đối với những trường hợp có điều kiện theo dõi và
hạch toán được chính xác ngày công lao động đã hao phí trong qúa trình sản xuất.
Theo Trung tâm Từ điển ngôn ngữ thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu
của việc làm mang lại. Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả
của quá trình sử dụng đất. Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại
lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ
tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu
hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng
đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa
lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông
nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng
các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản
xuất là nội dung đánh giá hiệu quả.
Sử dụng đất canh tác có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng,

hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các
nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả. Do đó, tiêu chuẩn đánh giá việc
nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông - lâm nghiệp là mức độ tăng thêm
12
các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực hiện có hoặc mức tiết kiệm về chi
phí các nguồn lực khi sản xuất ra một khối lượng nông - lâm sản nhất định.
Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức đạt được các mục tiêu
kinh tế, xã hội và môi trường.
Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp,
đến môi trường sinh thái, đến đời sống người nông dân. Vì vậy, đánh giá hiệu quả
sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào ba tiêu chuẩn
chung là bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường (Bùi Thanh Hải và cs,
2013)[15].
1.3.4. Phân loại hiệu quả
1.3.4.1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền
sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Vì thế
hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm
thời gian”.
- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý luận hệ thống.
- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt
động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích
của con người.
Hiệu quả kinh tế phải được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn, phải
trên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi xuất tiền cho vay
vốn ngân hàng. Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong và ngoài
nước, hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro) do thiên tai, sâu bệnh
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được

học biểu hiện qua thành phần loài.
Trong thực tế tác động của môi trường diễn ra rất phức tạp và theo chiều
hướng khác nhau. Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính,
tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt
14
động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh
hưởng rất khác nhau đến môi trường.
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả
hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường,
trong đó hiệu quả hóa học và hiệu quả sinh học môi trường có tác động mạnh nhất
đến bảo vệ môi trường đất đai.
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá
thông qua mức độ hoá học hoá trong nông nghiệp. Đó là việc sử dụng phân bón và
thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho
năng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường đất.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa
cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng
đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục
tiêu đặt ra.
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài
nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt
sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
1.3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất v.v một mặt bị
chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi
các điều kiện, quy luật kinh tế, xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy, có thể khái
quát những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất như sau:
1.3.5.1. Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết v.v ) là yếu tố cơ bản để xác
định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối

Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời
tiết, về điều kiện môi trường. Theo Frank Ellis và Douglass C. North, ở các nước
phát triển, khi có tác động tích cực của kĩ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới

Trích đoạn Thực trạng phát triển kinh tế xã hội Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa huyện Sơn Dương Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất lúa Định hướng sử dụng đất trồng lúa huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Một số đề xuất và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status