Con người cô đơn và tha hóa trong truyện ngắn nguyễn huy thiệp nhìn từ tâm thức hiện sinh (LV01392) - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
==========
TẠ THỊ THANH BÌNH
CON NGƢỜI CÔ ĐƠN VÀ THA HÓA
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
NHÌN TỪ TÂM THỨC HIỆN SINH Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trƣơng Đăng Dung

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, do
PGS.TS Trƣơng Đăng Dung trực tiếp hƣớng dẫn. Kết quả thu đƣợc là hoàn
toàn trung thực và chƣa đƣợc công bố trong công trình nào khác.

Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Tạ Thị Thanh Bình
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp của luận văn 10
7. Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chƣơng 1. CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ CON NGƢỜI CÔ ĐƠN THA
HÓA 11
1.1. Con ngƣời cô đơn và tha hóa từ triết học đến văn học 13

3.2.1. Khái niệm về đối thoại 99
3.2.2. Ngôn ngữ đối thoại trong nghệ thuật xây dựng con người cô đơn 100
3.2.3. Ngôn ngữ đối thoại trong nghệ thuật xây dựng con người tha hóa 106
3.3. Cách kết thúc truyện 108
3.3.1. Kiểu kết thúc bỏ lửng 109
3.3.2. Kiểu kết thúc nhân vật chính tiếp tục ra đi 111
3.3.3. Kiểu kết thúc bằng cái chết hoặc bất hạnh 114
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Chủ nghĩa hiện sinh ra đời vào những năm đầu của thế kỉ XX. Nó
là một trƣờng phái triết học chủ yếu trong trào lƣu triết học nhân bản phi duy
lí phƣơng Tây hiện đại và đƣợc coi là “khám phá lớn về triết học thế kỉ XX”
[22; tr.38]. Do lấy con ngƣời làm đối tƣợng nghiên cứu, triết học này đã ảnh
hƣởng đến nhiều khuynh hƣớng triết học và văn học nghệ thuật ở phƣơng Tây
trong đó có các tên tuổi lừng danh nhƣ: F. Kafka, J. Sartre, A. Camus…
1.2. Việt Nam là một nƣớc có nền văn học phát triển từ rất sớm. Trong
quá trình phát triển, văn học của nƣớc ta cũng giao lƣu với các nƣớc trong
khu vực và trên thế giới. Chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh đƣợc giới
thiệu ở Việt Nam vào khoảng những năm 60 - 70 của thế kỉ XX. Ở Sài Gòn
và các vùng chiếm đóng của Mỹ, văn học hiện sinh đã thu hút một số lƣợng
khá lớn các nhà phê bình, nhà văn, nhà thơ nhƣ Nguyễn Thị Hoàng, Thanh
Tâm Tuyền, Nhã Ca, Duyên Anh… Nhiều tác phẩm của họ đƣợc viết theo
những luận đề của triết học hiện sinh. Trần Hoài Anh trong Luận án Tiến sĩ
“Lí luận phê bình văn học miền Nam 1954 - 1975” đã nhận xét “Dường như
các phạm trù trong triết học hiện sinh như: hư vô, lo âu, buồn nôn, phi lí, tự

cô đơn vào tác phẩm của mình với cái nhìn mới mẻ và đƣợc thể hiện bằng
những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc. Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp nhƣ
một ngôi nhà bí ẩn, kẻ dừng chân đôi ba phút chỉ thấy đƣợc sự cồng kềnh,
những góc nổi trội và tồi tàn của nó; kẻ nán lại lâu sẽ nhìn thấy bên trong đó
lẩn khuất trong các ngõ ngách là những con ngƣời nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn.
Mỗi thân phận cô đơn trong truyện ngắn của ông giống nhƣ một lát cắt ngẫu
nhiên mang tính quy luật trong đó thấp thoáng bóng dáng của cuộc sống.
3
Cũng nhƣ con ngƣời cô đơn thì con ngƣời tha hóa là một hình tƣợng
nổi cộm trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Con ngƣời hiện tại luôn
phải gồng mình lên trƣớc cơn bão của cái mới, của sự cám dỗ. Trong xã hội
đó có không ít kẻ bản lĩnh kém cỏi đã tụt sâu xuống hố đen đạo đức, bán rẻ
linh hồn, nhân cách cho quỷ. Đọc Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi thấy ông đã
lột trần không thƣơng tiếc những bi kịch nhức nhối trong cuộc sống đƣơng
đại đầy xô bồ và ở đó ta thấy một thế giới con ngƣời bị dồn vào tha hóa trở
thành những con ngƣời vụ lợi, toan tính, đầy dục vọng. Và chính điều đó đã
khiến con ngƣời đánh mất lƣơng tri.
1.5. Về vấn đề con ngƣời trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã
có không ít bài viết, công trình nghiên cứu đề cập tới song những bài viết,
những công trình nghiên cứu cụ thể về một kiểu ngƣời nào đó trong truyện
ngắn của ông thì chƣa nhiều. Vì vậy, để góp phần khẳng định tài năng, cá tính
sáng tạo, tâm đức của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi xin đề cập đến một khía
cạnh nhỏ trong sự nghiệp sáng tác của ông qua đề tài “Con người cô đơn và
tha hóa trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ tâm thức hiện sinh”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về tâm thức hiện sinh trong văn học Việt Nam sau
1975 đến nay
Qua hệ thống tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận thấy vấn đề tâm thức
hiện sinh trong văn học Việt Nam sau 1975 đã trở thành đề tài khá hấp dẫn,
đƣợc giới nghiên cứu, phê bình chú ý.

nghĩa giả thiết triết lí. Đây là một lối viết độc đáo, mới mẻ, ít người sử dụng”
[9]. Tác giả khẳng định, sự ảnh hƣởng nhất định của văn học nƣớc ngoài nói
chung và văn học hiện sinh nói riêng đối với Phạm Thị Hoài.
5
Hòa chung với xu thế, tác giả Thái Phan Vàng Anh tiếp tục nghiên cứu
sự xuất hiện của tƣ tƣởng hiện sinh trong đề tài tiểu thuyết Việt Nam những
năm đầu thế kỉ XXI. Trong bài viết “Con người hiện sinh trong tiểu thuyết
Việt Nam mười năm đầu thế kỉ XXI”, tác giả đã hƣớng tới việc định danh cho
những ảnh hƣởng của triết học hiện sinh tới văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI
bằng cụm từ “Cảm thức hiện sinh”. Bên cạnh đó, Thái Phan Vàng Anh đã
khái quát những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong thế giới nhân vật tiểu
thuyết mƣời năm đầu thế kỉ XXI thành các đặc điểm nhƣ: „nổi loạn và hành
trình tìm kiếm tự do, nỗi cô đơn bản thể, chấn thương - cái chết tượng trưng
và hiện sinh tính dục”. [2]
Bên cạnh những đánh giá mang tầm khái quát, còn phải kể đến hàng
loạt các bài viết và luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ đi sâu nghiên cứu và chỉ
ra sự ảnh hƣởng của chủ nghĩa hiện sinh đến sáng tác của một số nhà văn nhƣ
Phạm Thị Hoài, Đoàn Minh Phƣợng, Nguyễn Việt Hà…và đặc biệt là Nguyễn
Huy Thiệp.
Tiến sĩ Nguyễn Thành Thi trong bài viết “Ám ảnh hiện sinh trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” đã cho rằng: “Nguyễn Huy Thiệp dường như
đã tiệm cận các nhà lí thuyết hiện sinh chủ nghĩa ở cái lõi nhân bản - trung
tâm hứng thú trong triết học của họ: Con người là một thực thể hiện sinh, nó
tự biết mình là ai, đang ở đâu, cầm và sẽ làm gì” [58]. Tác giả đã có những
phân tích thấu đáo sự ảnh hƣởng của triết học hiện sinh đến thế giới nhân vật
trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp với những câu hỏi về sự tồn tại của
con ngƣời, nỗi cô đơn bản thể và hàng loạt các phạm trù của chủ nghĩa hiện
sinh. Trên cơ sở đối chiếu những quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh, Tiến sĩ
Nguyễn Thành Thi đƣa đến những điểm tƣơng đồng thể hiện qua tƣ tƣởng và
cách viết của Nguyễn Huy Thiệp và các nhà chủ nghĩa hiện sinh. Đồng thời

một suy nghĩ và một cảm nhận riêng. Trong giới hạn nhất định, chúng tôi tập
trung vào các ý kiến nổi bật trong các bài viết có liên quan đến mục đích và
phạm vi nghiên cứu của đề tài đã chọn.
Về vấn đề con ngƣời cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp lâu
nay cũng có một số bài viết. Khi tìm hiểu, nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp, tác giả Hồ Tấn Nguyên Minh đã nhận xét: “Truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp khai thác nhiều về kiểu người này để phản ánh một sự thật rằng
khi kinh tế thị trường, văn minh công nghiệp mở ra, lối sống thực dụng như
một cơn lốc tràn vào từng ngóc ngách của cuộc sống. Con người trở nên bơ
vơ, lạc loài vì không thể thích ứng được với nó” [34]. Và “truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp có cái cô đơn của những con người mải mê đi tìm điều
thiện, đi tìm cái cao đẹp của cuộc đời” [33].
Tác giả Nguyễn Duy Phú trong bài “Tướng về hưu của Nguyễn Huy
Thiệp và vấn đề con người trong văn xuôi thời kì đổi mới (sau 1985)” đã viết:
“một trong những yếu tố được tác giả quan tâm đề cập đến trong tác phẩm
của mình đó là “hiện tượng con người cô đơn” [47]. Khi tìm hiểu về Tướng
về hưu, GS. Phùng Văn Tửu nhận xét rằng “Tướng về hưu” đã đem đến cho
văn học Việt Nam một “hơi gió lạ” đó là cái cô đơn” [63].
Đi tìm hiểu con ngƣời tha hóa trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp,
một số tác giả cũng có những bài viết. Tác giả Phạm Xuân Nguyên trong “Đi
tìm Nguyễn Huy Thiệp” đã nhận xét: “nhân cách nhân phẩm, đạo đức nhân
sinh quan nói chung bị suy thoái. Đảng viên tha hóa, quần chúng tha hóa,
trung niên, thanh thiếu niên bị tha hóa, cán bộ cũng vậy, nhân dân cũng thế”
[44; tr.420]. Và “Những trang viết của Nguyễn Huy Thiệp đã phản ánh một
thực trạng của xã hội hiện nay, một xã hội mất ổn định, mất cân đối, một xã
hội đang bị tha hóa về tinh thần và đạo đức, bị nhào lộn mọi quan niệm về
nhân sinh, về nhân phẩm con người” [44; tr.427].
8
Nhà nghiên cứu Văn Tâm cũng khẳng định: “Hiện trạng con người bị
tha hóa lần lượt hiện ra trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp nhiều khi

này của tác giả.
- Từ đó khẳng định những khám phá mới mẻ và sự đóng góp trong cách
nhìn nhận về con ngƣời của Nguyễn Huy Thiệp cho nền văn học nƣớc nhà.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu sơ lƣợc về chủ nghĩa hiện sinh và bằng tri thức của triết học
hiện sinh về con ngƣời cô đơn và tha hóa vận dụng vào phân tích, cắt nghĩa
văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
- Nghiên cứu các kiểu ngƣời cô đơn và tha hóa nhìn từ tâm thức hiện
sinh trong một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
- Tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng con ngƣời cô đơn và tha hóa của
Nguyễn Huy Thiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu, phân tích
một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hƣởng rõ rệt
của chủ nghĩa hiện sinh trong cuốn “Nguyễn Huy Thiệp truyện ngắn” (2005),
NXB Hội Nhà văn. Đặc biệt luận văn khảo sát các truyện ngắn: Huyền thoại
phố phường (1983), Tướng về hưu (1986), Không có vua (1987), Những bài
học nông thôn (1988), Những người thợ xẻ (1988), Tội ác và trừng phạt
(1990), Con gái thủy thần (1998).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để có thể tìm hiểu “Con người cô đơn và tha hóa trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ tâm thức hiện sinh”, chúng tôi vận dụng kết hợp
các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
10
- Phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử
- Phƣơng pháp hệ thống
- Phƣơng pháp so sánh
- Các phƣơng pháp và thao tác khác nhƣ: thống kê, phân tích, bình giảng.
6. Đóng góp của luận văn

đến? Xuất hiện trên thế giới này nhƣ thế nào? Mang những trọng trách gì?
Những câu hỏi lớn này đã khiến con ngƣời phải miệt mài và nỗ lực trong quá
trình đi tìm lời giải đáp. Và vấn đề bản thân con ngƣời đã đƣợc đề cập thật sự
sâu sắc trong triết học hiện sinh - một trào lƣu triết học nhân bản phi duy lí rất
nổi tiếng nửa đầu thế kỉ XX.
Trƣớc khi chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện, triết học thiên về tìm hiểu tự
nhiên. Trong khoảng thời gian rất dài, mấy ngàn năm, từ khoảng thế kỉ VIII -
VI (TCN) tới đầu thế kỉ XIX, triết học chỉ tập trung nghiên cứu về các quy
luật tự nhiên, về vũ trụ chứ không quan tâm nhiều đến con ngƣời. Con ngƣời
không phải là đối tƣợng nghiên cứu của triết học, cho nên triết học đó đƣợc
gọi là triết học tự nhiên.
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bắt
nguồn từ học thuyết của S. Kierkegaard, chủ nghĩa hiện sinh trở thành một
trào lƣu tƣ tƣởng phổ biến ở Đức vào những năm 20 của thế kỉ XX. Chủ
nghĩa hiện sinh ra đời là do phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa chạy theo
lợi nhuận tối đa đã đẩy con ngƣời vào tình trạng tha hóa cùng cực, lấy đi của
họ cái vị thế làm ngƣời đích thực. Bên cạnh đó là hệ quả của khủng hoảng
kinh tế 1929 - 1933 khiến hàng triệu ngƣời thất nghiệp cùng với sự tàn phá
khủng khiếp của hai cuộc thế chiến do chủ nghĩa đế quốc gây ra đẩy con
ngƣời vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần. Họ cảm
12
nhận đến tận cùng tính phi lý của sự tồn tại, sự cô đơn, lo âu và mong manh
của kiếp ngƣời. Những tƣ tƣởng hiện sinh có nguồn gốc sâu xa trong sự
khủng hoảng của xã hội phƣơng Tây. Cùng với nó là sự phản ứng trƣớc việc
phƣơng Tây tuyệt đối hóa vai trò của khoa học, sùng bái kĩ thuật, hạ thấp, bỏ
rơi con ngƣời hoặc chỉ quan tâm tới mặt vật chất mà xem nhẹ mặt tâm hồn,
đời sống tình cảm của họ. Vào đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tƣ bản phƣơng Tây
đã bƣớc sang một giai đoạn mới với nhiều thành tựu của cuộc cách mạng
công nghiệp và cách mạng khoa học công nghệ. Ngƣời ta quá đề cao khoa
học kĩ thuật, coi đó là chiếc đũa thần, là biện pháp duy nhất và vạn năng để

chủ thể và tính tự do của nhân vị. Đó là các khái niệm: hữu thể (ý thức, hiện
hữu, hiện sinh, cái tự nó, cái cho nó), hƣ vô (không hữu thể), buồn nôn, cô
đơn, lo âu (xao xuyến, liều, tuyệt vọng, thất bại), tha hóa, cái chết, trách
nhiệm, siêu việt (thăng hoa), dự phóng, Thƣợng đế, tha nhân, nhập cuộc (hành
vi) (xem Sơ đồ hệ thống phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh [15; tr.127]. Trong
khuôn khổ của luận văn, chúng tôi xin đƣợc tìm hiểu về hai khái niệm: cô đơn
và tha hóa.
1.1. Con ngƣời cô đơn và tha hóa từ triết học đến văn học
1.1.1. Con người cô đơn và tha hóa trong triết học
1.1.1.1. Con người cô đơn
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa, cô đơn là “chỉ có một mình, không có
người thân, không nơi nương tựa (cảnh cô đơn, con người cô đơn). [45; tr.202].
Thực ra, cô đơn là trạng thái tâm lí phổ biến của con ngƣời, nó là trạng
thái hoang mang của con ngƣời, lạc lõng và khó chịu khi không có ai ở bên.
Cô đơn là một trong những nỗi sợ hãi lớn nhất của đời ngƣời. Hầu hết chúng
ta đều trải nghiệm điều đó trong đời và hầu hết đều e sợ nó. Cốt lõi của sự cô
14
đơn là nỗi sợ bị bỏ rơi, nỗi sợ rằng bản thân cuộc sống dƣờng nhƣ cũng đã
lãng quên mình, cùng với đó là nỗi sợ hãi, cảm giác không ai muốn có mình,
không đƣợc công nhận, không đƣợc thấu hiểu và đồng cảm. Trong cuốn Từ
điển tâm lí học, cô đơn đƣợc định nghĩa là “một trong những yếu tố căn
nguyên tâm lí ảnh hưởng đến trạng thái cảm xúc của con người khi ở vào một
tình huống không quen thuộc (bị thay đổi) hoặc hoàn cảnh bị cách ly thực
nghiệm, địa lý, xã hội hay do bị tù, các mối quan hệ trực tiếp với những người
khác bị cắt đứt gây ra những phản ứng cảm xúc cấp tính trong một loạt các
trường hợp xuất hiện sự sốc tâm lí với các biểu hiện chính: lo âu, trầm cảm
và rối loạn thần kinh thực vật”. Có ngƣời lại cho rằng: “Cái cô đơn là đặc
trưng cuối cùng của thân phận con người”.
Con ngƣời là sinh vật duy nhất cảm thấy mình cô đơn và cũng là sinh
vật duy nhất biết tìm đến ngƣời khác. Bản thể của nó - nếu có thể nói về bản

đƣờng phải đi. Con ngƣời cô đơn nên càng đau khổ, luôn sống trong tấn bi
kịch của cuộc đời.
Định mệnh của con ngƣời là sống đơn độc, chết cô độc. Mỗi ngƣời đều
mang trên vai mình “sự cô độc bẩm sinh”. Kierkegaard nhấn mạnh đến tuyệt
đối hiện sinh cá nhân. Chúng ta không thể trông chờ, không thể nƣơng nhờ
vào đƣợc vào bất cứ ai mà chỉ có thể trông cậy vào chính bản thân mình.
Nietzsche đã tự tay tổ chức cái “kinh nghiệm đáng sợ” về sự cô độc tuyệt đối,
đã từ chối không làm “kẻ sống chung với những người chung sống với ông”
và đã tạo cho sự cô đơn không những thành ra một điều kiện bi thiết mà còn
trở thành một nhân đức thật sự. Jaspers thấy sự đau khổ của con ngƣời là
không thể có đƣợc sự cảm thông trực tiếp của tha nhân. Heidegger và Sartre
coi sự cô đơn là cái gì tuyệt đối. Con ngƣời luôn sống trong mối tƣơng quan
16
với những ngƣời khác. Giao tiếp với tha nhân là một quy luật không thể
cƣỡng lại của cuộc sống con ngƣời. Tuy nhiên, cô đơn lại nhƣ một thứ quà
tặng vĩnh cửu cho con ngƣời.
1.1.1.2. Con người tha hóa
“Tha hóa” là một từ đƣợc dùng theo nhiều ý nghĩa khác nhau. Nói
cách khác, nó là một từ có nhiều khái niệm. Trong đời sống cộng đồng, tha
hóa là một khái niệm có ý nghĩa đạo đức, nói về những trƣờng hợp ngƣời bị
biến chất, bị mất đi những phẩm chất tốt đẹp vốn có của mình trƣớc đây.
Trong nghiên cứu khoa học - xã hội, tha hóa là một khái niệm có ý nghĩa triết
học nói về một hiện tƣợng, một quy luật diễn ra trong đời sống xã hội.
Từ điển Tiếng Việt - (Viện ngôn ngữ học), NXB Khoa học xã hội,
1988, định nghĩa tha hóa (động từ) có hai nghĩa: Con ngƣời bị biến thành xấu
đi (bị tha hóa trong môi trƣờng tiêu cực) và biến thành cái khác đối nghịch lại
(trong xã hội tƣ bản, lao động bị tha hóa). Theo Từ điển Triết học - NXB Đại
học và Trung học chuyên nghiệp, 1987: tha hóa (tiếng Anh: Alienation, tiếng
Pháp: Alie‟nation): tình trạng xã hội trong đó những sản phẩm, quan hệ và thể
chế là kết quả hoạt động của con ngƣời biến thành những lực lƣợng đối lập và

gọi là đám đông, Nietzsche gọi là bầy đàn, còn Heidegger gọi là cái ngƣời ta.
Các triết gia hiện sinh cho tha hóa là một hiện tƣợng vĩnh viễn của loài
ngƣời mà nguyên nhân của nó nằm ngay trong bản chất các mối quan hệ xã
hội. Họ còn cho rằng, tha hóa là cảm tính đau khổ thất vọng về đời ngƣời, bắt
nguồn sâu xa từ cảm tính vong thân. Cảm tính vong thân là cảm tính đánh mất
mình. Mình trở thành xa lạ với bản thân mình và sống phụ thuộc vào cái khác
không phải mình. Cảm tính vong thân đƣợc các triết hiện sinh coi là một tình
trạng thuộc bản chất của mọi hiện sinh thể. Họ cho rằng trong đời sống của
18
mỗi hiện sinh, trong sự tiếp xúc của nó với ngƣời khác, với vũ trụ và thế giới
đồ vật thƣờng xuyên xảy ra việc những thực thể này chà đạp, che lấp cái tôi
chủ thể, khiến cho chủ thể này bị vong thân. Các thực thể ấy đã cuỗm mất cái
tôi đích thực của tôi, làm cho tôi trở thành xa lạ đối với tôi, đối lập với tôi.
Con ngƣời luôn đứng trƣớc nguy cơ bị phóng thể, biến thành kẻ khác. Sự tha
hóa của con ngƣời có một nguyên nhân là tha nhân. Dù thế nào thì ngƣời hiện
sinh vẫn phải sống, quan hệ với những ngƣời xung quanh. Những ngƣời xung
quanh đó đƣợc chủ nghĩa hiện sinh gọi là tha nhân. Sự tiếp xúc với tha nhân,
với thế giới bên ngoài làm rơi mất những gì có trong bản tính tôi, đồng thời
những yếu tố từ tha nhân, từ ngoại giới lại ăn nhập vào tôi. Điều này liên tiếp
diễn ra. Do vậy, con ngƣời không thể điều khiển đƣợc cuộc đời đầy ngẫu
nhiên của mình. Bởi vì tha nhân hiện hữu cho nên tôi phải sống với hiện hữu
của họ, nghĩa là chia sẻ những dự phóng, những cảm tính của họ. Nói đến tha
nhân là nói đến sự liên thông của các ý thức. Đi theo hiện tƣợng học của
Husserl, nhà hiện sinh cho rằng có thể nắm trực tiếp ý thức của tha nhân bằng
sự liên thông của những ý thức. Husserl cho rằng, nhận thức tha nhân không
phải nhƣ nhận thức một đồ vật, bởi vì nó là “ngƣời khác”. Husserl gọi sự liên
hệ giữa cá nhân là tinh liên chủ thể, nghĩa là mỗi ý thức đều có hƣớng không
còn hiện hữu nhƣ một con ngƣời mà là hiện hữu với, sống với kẻ khác trong
một cộng đồng những nhân vị chứ không phải chỉ riêng cá nhân.
Xét trên phƣơng diện nhân sinh nói chung thì tha hóa là một trong

de.Beauvoir…Văn học hiện sinh cũng rộng lớn và phức tạp nhƣ triết học hiện
sinh với nhiều tƣ tƣởng, nhiều nhánh rẽ lắm khi rất khác nhau. Tuy nhiên,
điểm chung nhất của văn học hiện sinh là “Không ca ngợi Chân - Thiện - Mĩ
xa xôi, không lí tưởng hóa cuộc đời, cũng không tả chân những cái vụn vặt,
nhưng muốn vạch trần ý nghĩa của cuộc nhân sinh cùng với những thảm cảnh
20
của con người đã phản tỉnh mà đồng thời lại chưa hiểu được cái sống và cái
chết của mình có ý nghĩa gì không”. [18; tr.114]
Cũng nhƣ triết học hiện sinh, văn học hiện sinh dành sự quan tâm đặc
biệt đến thân phận con ngƣời. Tâm thức hiện sinh là những ám ảnh về mặt
tâm lí của nhân vật đƣợc nhà văn thể hiện thông qua những lo âu về thân phận
con ngƣời trƣớc sự đổ vỡ những giá trị tinh thần của thời đại và những trăn
trở, suy tƣ của con ngƣời để vƣợt thoát khỏi trạng thái hoang mang đó. Con
ngƣời ngẫu nhiên xuất hiện, ngẫu nhiên bị ném vào một thế giới hoàn toàn xa
lạ, để nếm trải cái phi lý của đời sống và buộc phải tự mình lựa chọn, tự phải
quyết định lấy đời sống của bản thân.
Chủ nghĩa hiện sinh làm phong phú thêm tinh thần triết lí của văn học
phƣơng Tây “Văn học hiện sinh gồm những tác phẩm văn học thể hiện những
phạm trù hiện sinh: cái phi lý, buồn nôn, tự do, dấn thân, …Một lớp nhà văn
đông đảo đã phát biểu tư tưởng triết học của mình thông qua truyện, kí, tiểu
thuyết, kịch. Vì vậy, văn học hiện sinh được phổ biến rộng rãi, không những
trong giới trí thức, sinh viên mà cả trong những người chưa hề tiếp xúc với
triết học” [42; tr.265]. Nhƣ vậy, có thể tìm thấy trong văn học hiện sinh hầu
hết những phạm trù cơ bản của triết học hiện sinh nhƣ: đời ngƣời vô nghĩa và
phi lí; con ngƣời cô đơn trong thế giới đầy xa lạ và thù địch; sự buồn nôn
trong cuộc sống tầm thƣờng, tẻ nhạt; cổ vũ con ngƣời dấn thân và hành động,
giành lấy tự do cá nhân…Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin
chỉ tập trung vào hai nội dung của văn học hiện sinh là con ngƣời cô đơn và
tha hóa.
1.1.2.1. Con người cô đơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status