ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT • • •
ĐỖ PHÚ TRẦN TÌNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kỉnh tế chính trị
Mã số: 60.31.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS Nguyễn Chí Hải
2. TS Nguyễn Văn Bảng
TP. Hồ Chí Mình-Năm 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Đỗ Phú Tràn Tình. Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ luận án nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
ĐỖ PHÚ TRẦN TÌN
Hiii
MỤC LỤC
Trang
1.4.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng
1.4.2
1.2.1.1. Tăng trưởng kinh tế với vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường —115
1.2.2.
1.2.29.
1.2.30. DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Danh mục các bảng
1.2.31
V
1.2.1. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
càng tăng
Xuất phát từ những trăn trở trên đã đặt ra các câu hỏi: Chất lượng tăng trưởng kinh
tế là gì? Chất lượng tăng trưởng kinh tế được đo lường thông qua những tiêu chí nào?
Chất lượng tăng trưởng kinh tế của TP.HCM hiện nay như thế nào? Làm thế nào để nâng
cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của thành phố?
Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc nâng cao chất lượng tăng
trưởng kinh tế là hết sức cần thiết để thành phố xứng đáng là trung tâm kinh tế của cả
nước và góp phần nâng cao đời sống của người dân thành phố. Đó là lý do tôi chọn đề tài:
“ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH TRONG HỘI NHẬP KINH TÉ QUỐC TẾ ” làm luận án tiến sĩ kinh tế,
chuyên ngành kinh tế chính trị, để nghiên cứu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của
thành phố thời gian qua. Trên cơ sở đó, đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở TP.HCM trong thời gian tới.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
5
Thời gian qua, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng là
vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, phần lớn các công trình
nghiên cứu chỉ tập trung đề cập đến mặt tốc độ tăng trưởng, về chất lượng của tăng trưởng
kinh tế mới được các tác giả tập trung nghiên cứu trong những năm gần đây, song các
nghiên cứu đề cập nhiều khía canh khác nhau. Tiêu biểu là các công trình:
Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam của GS.TS Nguyễn Văn Nam
và PGS.TS Trần Thọ Đạt. Công trình này bày khái quát thực trạng tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam về tốc độ và chất lượng giai đoạn 1991 - 2005, trên cơ sở đó, các tác giả đã
phân tích các nhân tố có tác động tích cực cũng như các nhân tố cản trở đối với việc nâng
cao tốc độ và chất lượng kinh tế ở Việt Nam.
Quan niệm và thực tiễn phát ừiển kỉnh tể, xã hội tốc độ nhanh, bền vững chất lượng
cao ở Việt Nam của TS Đinh Văn Ân. Công trình này trình bày quan niệm về phát triển
nhanh, bền vững và chất lượng cao trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tác giả cũng đưa
ra các giải pháp trong những năm tới để phát triển nhanh, bền vững và chất lượng cao ở
Việt Nam.
giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ở TP.HCM giai đoan
7
1993-2002. Qua đó, đề xuất một số chính sách và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước TP.HCM thời gian tới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố trong điều kiện hội
nhập: Nhận diện thách thức và cơ hội, đề tài của Viện kinh tế TP.HCM do Ths Nguyễn
Thiềng Đức làm chủ nhiệm đã nghiên cứu khảo sát năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong nước tại TP.HCM. Qua đó, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực
cạnh tranh và đề xuất những công việc phải làm đối với nhả nước và doanh nghiệp nhằm
nâng cao khả năng canh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập.
Kỉnh tể TP.HCM 30 năm xây dựng và phát triển (1975-2005), công trình do viện
kinh tế phối họp với sở văn hóa thông tin TP.HCM chủ trì. Công trình này đã giới thiệu
bức tranh tổng thể những thành tựu kinh tế của thành phố trong 30 năm và một số vấn đề
kinh tế đang đặt ra trong thời gian tới.
Những công trình trên đã trình bày các khía cạnh khác nhau của tăng trưởng kinh tế ở
thành phố. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đánh giá một cách toàn diện chất lượng
tăng trưởng kinh tế ở TP.HCM. Do đó, bản thân tác giả đặt ra mục tiêu nghiên cứu của
mình là phân tích và đánh giá một cách tổng quát chất lượng tăng trưởng kinh tế ở
TP.HCM thông qua các mặt hiệu quả sử dụng các nguồn lực, phúc lợi xã hội, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, khả năng đảm bảo cơ sở hạ tầng, môi trường sinh thái và năng lực cạnh
tranh tăng trưởng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng tăng trưởng
kinh tế của TP.HCM trong những năm qua. Từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp
8
nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của thành phố trong thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế. Hướng tới mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ sau:
- Luận án phân tích một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng
tăng trưởng kinh tế.
- Luận án phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở
Phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp, khảo sát, mô hình hóa có vai trò hết
sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Trong quá trình phân tích, luận án chú trọng
phân tích, đánh giá với dẫn chứng để chứng minh bằng số liệu cụ thể; kết họp giữa lý luận
và thực tiễn.
b. Nguồn sổ liệu nghiên cứu của đề tài
1
Thứ nhất, đề tài sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ các cuộc điều tra khảo sát mức
sống dân cư trên địa bàn thành phố năm 1994, 2002, 2004, 2006, 2008 của Cục thống kê
TP.HCM. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các số liệu trong niên giám thống kê TP.HCM qua
các năm 1993, 1996, 1999, 2000, 2004, 2006, 2007, 2008 và các báo cáo tổng hợp của Sở
Lao động Thương binh Xã hội TP.HCM, Ban chỉ đạo Xoá đói giảm nghèo thành phố, Sở
kế hoạch đầu tư TP.HCM.
Thứ hai, đề tài sử dụng nguồn số liệu sơ cấp thông qua việc tiến hành điều tra, khảo
sát 539 mẫu đánh giá các nhóm dân cư trên địa bàn thành phố về các vấn đề liên quan đến
phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống, cơ sở hạ tầng trên địa bàn thành phố. Qua đó, có
được đánh giá thực tế hom về một số vấn đề mà đề tài nghiên cứu.
6. Những điểm mói của luận án
Một là, luận án phân tích một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về chất lượng tăng
trưởng kinh tế. Làm rõ khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế theo quan điểm của luận
án và xây dựng các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Hai là, luận án phân tích, rút ra các bài học kinh nghiệm của các nước trong việc
nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế giúp TP.HCM tham khảo những kinh nghiệm
thảnh công cũng như tránh được những sai lầm mà các nước khác đã trải qua.
Ba là, luận án phân tích, đánh giá bức tranh tổng quát chất lượng tăng trưởng kinh tế
TP.HCM thông qua các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng các nguồn lực, về phúc lợi xã hội, về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, về khả năng đảm bảo cơ sở hạ tầng, môi trường sinh thái và về
1
năng lực cạnh tranh tăng trưởng. Qua đó, chỉ ra những thành tựu đạt được và mâu thuẫn
đang đặt ra về chất lượng tăng trưởng kinh tế của thành phố.
Bốn ỉà, trên cơ sở khái quát lý luận và thực tiễn chất lượng tăng trưởng kinh tế ở
1
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) là tổng giá trị của những
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia
trong một thời kỳ nhất định.
- Tổng thu nhập quốc dân (GNI - Gross National Income) là tổng giá trị của những
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi yếu tố sản xuất của một
nước trong một khoảng thời gian nhất định.
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. “Phát
triển kinh tế được xem là quá trình biến đổi cả về lượng lẫn về chất của nền kinh tế, nó là
sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở
mỗi quốc gia”[55, tr.22].
Nội dung phát triển kinh tế được khái quát ở ba tiêu thức:
- Sự gia tăng tổng thu nhập của nền kinh tế và thu nhập bình quân trên đầu người.
Đây là chỉ tiêu thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để
nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện các mục tiêu khác của phát
triển;
- Sự biến đổi của cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Đây là chỉ tiêu phản ánh sự
1
biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia. Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế
hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào
dấu hiện cơ cấu ngành mà quốc gia đó đạt được;
- Sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục tiêu cuối cùng của sự
phát triển kinh tế của các quốc gia không phải là tăng trưởng kinh tế hay chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, mà là xoá bỏ đói nghèo, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân,
trình độ dân trí, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạnh Hoàn thiện các chỉ tiêu
trên chính là sự thay đổi về chất của xã hội trong quá trình phát triển kinh tế.
Ngày nay, người ta không chỉ đề cập đến tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế mà
ngày càng nhấn mạnh và quan tâm đến phát triển bền vững.
Thuật ngữ phát triển bền vững xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm
Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
trưởng.
1
Thứ hai, họ chia xã hội ra thành ba nhỏm người: địa chủ, tư bản và công nhân. Sự
phân phối thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền sở hữu của họ đối với các yếu
tố sản xuất. Địa chủ có đất thi nhận địa tô, tư bản có vốn thì nhận lợi nhuận, công nhân có
lao động thì nhận tiền công và họ cho rằng cách phân phối này là hợp lý. Trong ba nhóm
người này, thì nhà tư bản giữ vai trò quan trọng cả trong sản xuất, tích luỹ và phân phối.
Họ đứng ra tổ chức sản xuất, giành lại một phần lợi nhuận để tích luỹ và họ chủ động
trong quá trình phân phối.
Thứ ba, hoạt động của các chủ thể kinh tế bị chi phối bởi một “Bàn tay vô hình”
dẫn dắt để gắn lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội. Việc bãi bỏ sự điều tiết của chính phủ đối
với các hoạt động sản xuất và thị trường không chỉ góp phần làm tăng thu nhập của tầng
lớp chủ tư bản, qua đó, làm tăng tỷ lệ tích luỹ của xã hội mà còn góp phần mở rộng thị
trường. Mặc dù ủng hộ mạnh mẽ cho tự do cạnh tranh, nhưng Adam Smith vẫn nhận thức
được tầm quan trọng của việc cung ứng hàng hoá công cộng nhằm phục vụ cho cơ chế thị
trường, bao gồm quốc phòng, cảnh sát, hệ thống luật pháp, toà án, xây dựng cơ sở hạ tầng
và giáo dục. Tuy nhiên, ông cho rằng việc cung ứng hàng hoá công cộng cần được tư nhân
hoá càng nhiều càng tốt.
1.1.2.2. Quan điểm của Karl Marx về tăng trưởng kinh tế
Karl Marx (Các Mác) (1818 - 1883) không những là nhà chính trị học, nhà triết học
mà còn được xem là nhà kinh tế xuất sắc. Sự xuất hiện lý thuyết phê phán tăng trưởng
kinh tế tư bản chủ nghĩa của Mác vào giữa thế kỷ XIX thực sự là một sự kiện lớn. Quan
điểm cơ bản nhất của Mác về tăng trưởng kinh tế bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, về con đường phát Men. Mác đã chỉ ra quy luật chung của mọi thời đại,
1
mọi phương thức sản xuất, đó là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ
của lực lượng sản xuất. Mác viết: “ Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con
người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ - tức
những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù họp với một trình độ phát triển nhất định
của lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ
lao động) bằng lao động trừu tượng của mình người công nhân tạo ra một giá trị mới lớn
hơn giá trị của sức lao động, phần dư ra đó chính là giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
Thứ ba, về tái sản xuất mở rộng. Mác cho rằng muốn tái sản xuất mở rộng thì phải
tích lũy tư bản (tư bản hóa giá trị thặng dư), tức phải biến một phần giá trị thặng dư thành
tư bản bất biến phụ thêm (Cl) và tư bản khả biến phụ thêm (vi). Nhưng, các bộ phận giá trị
phụ thêm đó phải tim được những tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt phụ thêm dưới
những hình thái vật chất tưng ứng với nhu cầu của nó. Điều này đòi hỏi cơ cấu sản xuất xã
hội phải có những thay đổi so với tái sản xuất giản đơn.
Nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội khi chưa xét tới ảnh hưởng của tiến bộ kỹ
thuật, chưa tính đến thay đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản, Mác đã thấy vai trò ưu tiên của
việc sản xuất tư liệu sản xuất. Tổng cung về tư liệu sản xuất phải đủ không những để bù
đắp tư liệu sản xuất đã tiêu dùng mà còn để mở rộng sản xuất; quy mô tái sản xuất mở
rộng của khu vực I quyết định quy mô tái sản xuất mở rộng của khu vực II. Khi tính tới
ảnh hưởng của tiến bộ kỹ thuật làm cho cấu tạo hữu cơ của tư bản không ngừng tăng lên
trong quá trình tái sản xuất mở rộng, V.I. Lênin đã phát hiện ra quy luật: sản xuất ra tư
1
liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất, sau đến là sản xuất ra tư liệu sản
xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng và chậm nhất là sự phát triển của tư liệu tiêu dùng. Đó là
quy luật ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất, một quy luật kinh tế quan trọng của
nền kinh tế hiện đại.
Cho đến nay, lý thuyết của Mác về tăng trưởng kinh tế vẫn có ý nghĩa thực tiễn rất
lớn, nhất là trong việc giải thích vấn đề mà các nước đang phát triển gặp phải ngày nay.
1.1.23. Mô hình tân cỗ điển về tăng trưởng kinh tế
Cuối thế kỷ XIX là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật. Hàng loạt các phát minh khoa học và các nguồn tài nguyên được khai thác phục vụ
cho quá trình sản xuất. Sự phát triển này hĩnh thành một trường phái kinh tế mới - trường
phái tân cổ điển.
Trong mô hình tân cổ điển, các nhà kinh tế học bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng
sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn,
họ cho rằng vốn có thể thay thế được nhân công, và trong quá trình sản xuất có thể có
Theo Keynes, một nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ bản: tổng cung - tức
toàn bộ số hàng hóa bán trên thị trường và tổng cầu - tức toàn thể số hàng hóa mà người ta
muốn mua. Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm trong nền kinh tế
không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu. Tổng cung giữ vai trò thụ động, nó chịu sự
tác động của tổng cầu. Đến lượt mình, tổng cầu phụ thuộc vào các yếu tố: mức chi tiêu cá
nhân của mỗi gia đĩnh, mức chi tiêu đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu của
nước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước (xuất khẩu ròng). Trong quá trình vận
động của nền kinh tế, tổng cầu thường không theo kịp tổng cung. Điều đó ảnh hưởng đến
tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tư và gây ra nạn thất nghiệp. Để giải quyết tình trạng này
phải tăng tổng cầu, tổng cầu lớn han tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư do đó sẽ gia tăng
việc làm và gia tăng thu nhập. Cuối cùng sản lượng quốc gia sẽ tăng.
Trong logic phân tích của minh, Keynes cho rằng để thoát khỏi khủng hoàng và thất
nghiệp cần có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng tổng cầu, gia tăng việc
làm và thu nhập. Trước hết, Ông đề nghị sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư
thông qua các đơn đặt hàng của Nhà nước và trợ cấp vốn cho doanh nghiệp. Để kích thích
đầu tư phải có các biện pháp tăng lợi nhuận và giảm lãi suất, muốn vậy phải tăng khối
lượng tiền tệ trong lưu thông. Keynes đề nghị thực hiện lạm phát có mức độ. Ông đánh giá
cao vai trò của hệ thống thuế khóa, công trái nhà nước, qua đó để bổ sung ngân sách nhà
nước. Ông đề nghị giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư và đánh thuế thu nhập
2
cá nhân lũy tiến làm cho phân phối thu nhập trở nên công bằng hơn, do đó sẽ tăng tổng thu
nhập mà nhân dân dùng cho tiêu dùng. Ông tán thành đầu tư của Chính phủ vào các công
trình công cộng.
I.I.2.S. Mô hình của Harrod - Domar về tăng trưởng kinh tế
Mô hình này do hai nhà kinh tế học Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đưa
ra vào thập niên 40 của thế kỷ XX và được các nước đang phát triển ban đầu ứng dụng.
Mô hình này cho rằng, đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một
ngành, hay toàn bộ nền kinh tế đều phụ thuộc vaò tổng vốn đầu tư cho đơn vị đó:
Nếu gọi Y là đầu ra ( GDP, GNI) g là tốc độ tăng trưởng
của đầu ra, thì: g -
trong dài hạn. Từ những lập luận này, năm 1956, dựa trên tư tưởng của lý thuyết trường
phái tân cổ điển, Robert Solow xây dựng mô hình tăng trưởng mới, còn gọi là mô hình
tăng trưởng Solow.
Nếu như mô hình của Harrod - Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất thông
qua tiết kiệm và đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, thì mô hình Solow đã đưa nhân tố
lao động và tiến bộ kỹ thuật vào phương trình tăng trưởng và theo Solow tiến bộ kỹ
thuật là yếu tố quyết đinh đến tăng trưởng kinh tế kể cả trong ngắn hạn và trong dài
hạn.
1.1.2.6. Quan điểm của kinh tế học hiện đại về tăng trưởng kinh tế
Kinh tế học hiện đại ngày này quan niệm về sự cân bằng kinh tế dựa theo mô
hình của J.M. Keynes, nghĩa là sự cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết tại mức
sản lượng tiềm năng, mà thường là dưới mức sản lượng tiềm năng, trong
điều kiện hoạt động bình thường, nền kinh tế vẫn có thất nghiệp và lạm phát. Nhà nước
cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có thể chấp nhận được. Sự cân
bằng này của nền kinh tế được xác định tại giao điểm của tổng cung và tổng cầu.
Hiện nay, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tố tài
nguyên, đất đai với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế, họ cho rằng đất đai là
yếu tố cố định còn vai trò của tài nguyên có xu hướng giảm sút. Những yếu tố tài nguyên,
đất đai đang sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất: K.
2