Thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính hiện nay - Pdf 30

1
ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀

̣
I
TRƢƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ KIM ANH
THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI PHƢƠNG PHÁP TỔ CHỨC

̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ KIM ANH THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI PHƢƠNG PHÁP TỔ CHỨC
GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC GIỚI TÍNH HIỆN NAY Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
Mã số : 61 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Đặng T
hwowhjhjhhhhhhẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Thanh Nga
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đặng Thanh Nga
Hà Ni - 2015

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI PHƢƠNG PHÁP TỔ CHỨC GIẢNG
DẠY MÔN GIÁO DỤC GIỚI TÍNH 7
1.1 Tình hình nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với
phương pháp tổ chức giảng dạy môn học giáo dục giới tính 7
1.1.1. Những nghiên cứu về thái độ 7
1.1.2. Khái quát những nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ
thông đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính. 11
1.2. Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1. Khái niệm thái độ 13
1.2.2. Khái niệm học sinh trung học phổ thông 19
1.2.3. Khái niệm giới tính và phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục
giới tính 22
1.2.4. Thái độ của học sinh đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo
dục giới tính. 25
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của học sinh trung học phổ thông
đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính 29
1.3.1. Các yếu tố chủ quan 29
1.3.2. Các yếu tố khách quan 30
Tiểu kết chƣơng 1 33
Chƣơng 2. TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. Nghiên cứu lý luận 34
2.1.1. Mục đích nghiên cứu lý luận 34
2.1.2. Nội dung nghiên cứu lý luận 34
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu 35 2.2. Nghiên cứu thực tiễn 35

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 76 DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Giáo dục giới tính
GDGT
Trung học phổ thông
THPT
Học sinh
HS
Giáo viên
GV
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Đặc điểm của khách thể nghiên cứu 39
Bảng 2.2. Quy ước tính điểm cho thang đo 39
Bảng 2.3. Cách tính mức độ của thang đo 40
Bảng 3.1. Mức độ nhận thức về nội dung của môn học giáo dục giới tính 47
Bảng 3.2. Vai trò của giáo dục giới tính 49
Bảng 3.3. Mong muốn về hình thức học tập 54
Bảng 3.4. Mức độ biểu hiện tình cảm của học sinh đối với hình thức học tập
những kiến thức về giáo dục giới tính 56
Bảng 3.5. Mức độ hài lòng khi tham gia vào các buổi học giáo dục giới tính 58
Bảng 3.6. Mức độ chủ động của bản thân khi tham gia vào những buổi học về
giáo dục giới tính 60

nước trên thế giới. Chương trình giáo dục giới tính chuyên biệt đã được thực
hiện từ rất sớm ở nhiều quốc gia. Tại các nước như Australia, Mỹ, Anh cha
mẹ có buổi nói chuyện với con về chủ đề này, cởi mở trong quan hệ giao tiếp.
Ngay từ khi còn học tiểu học trẻ đã có những chương trình đề cập đến vấn đề
cơ bản, như quan hệ tình dục, tránh thai, sức khỏe sinh sản, nhu cầu và bản
năng tình dục theo lứa tuổi. Ở Hà Lan, Anh, Mỹ, trẻ em được trang bị khá đầy
đủ về kiến thức có liên quan đến giới tính, tình dục. Gần hơn là Philippines
việc trẻ em biết về cấu tạo cơ thể mình từ lúc mẫu giáo, biết cách ứng xử với
bạn khác giới, biết cả vùng cấm trên cơ thể mà người lạ không được xâm
phạm. Và đương nhiên, chuyện về quan hệ nam nữ cũng được biết từ tiểu học.
[42]
Trong khi đó ở châu Á mọi người vẫn cho rằng giáo dục giới tính là
vấn đề tế nhị và riêng tư. Với văn hóa truyền thống Á Đông, nhiều bậc phụ
huynh khá e ngại khi con hỏi đến giới tính. Nhưng cuộc sống hiện đại, 2
Internet phủ sóng khắp nơi, những đứa trẻ luôn kè kè smartphone thì độ rủi ro
càng cao.
Ở Việt Nam với nhiều dự án VIE, từ những năm 1990 trở lại đây, một
số chương trình giáo dục giới tính dành cho học sinh đã được thử nghiệm.
Thay vì học tiết sinh học như bình thường thì giáo viên có thể lồng ghép để
học sinh hiểu về vấn đề giới tính một cách khoa học, hướng dẫn những biện
pháp bảo vệ sức khỏe cho bản thân để tránh những bệnh lây qua đường tình
dục. Do chưa phải là một môn học chính thức nên phương pháp giảng dạy
môn này vẫn đang còn nhiều bất cập. Chính phương pháp tổ chức giảng dạy
chưa phù hợp, chưa khoa học nên các em học sinh khi tiếp thu kiến thức của
môn học vẫn đang còn mang nhiều thiếu sót. Đó chính là nguyên nhân dẫn
đến nhiều hậu quả đau lòng, đáng tiếc xẩy ra. [42]
Chúng ta đã biết tuổi vị thành niên nói chung, học sinh phổ thông trung

bình đầu tiên của thanh niên Việt Nam là 19,6 tuổi và có tới 66,7% con trai
chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân. Năm 2009, báo cáo tình hình
nhiễm HIV/AIDS có tới 144.483 người nhiễm HIV. Số người nhiễm HIV chủ
yếu ở 2 thành phố: Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Số tuổi nhiễm
HIV/AIDS ở Hà Nội ngày càng trẻ hóa: 75% tổng số người có tuổi đời dưới
30 tuổi mà con đường lây nhiễm chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn.
Gõ từ khóa “có cần thiết phải giáo dục giới tính cho trẻ” trên trang Google có
đến gần 5,1 triệu kết quả cho thấy sự quan trọng, cấp thiết của giáo dục giới
tính hiện nay. Cũng trên trang này có hơn 8,2 triệu kết quả thể hiện các ý
kiến, góp ý về độ tuổi bắt đầu thực hiện việc giáo dục giới tính.
Rõ ràng giáo dục giới tính là vấn đề đang được quan tâm, và có tầm
quan trọng đối với lứa tuổi học sinh hiện nay. Vì vậy, chúng tôi quyết định
nghiên cứu đề tài: "Thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với
phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính hiện nay”. 4
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ các mặt biểu hiện thái độ của học sinh trung học phổ thông đối
với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính. Trên cơ sở đó đề
xuất một số kiến nghị nhằm góp phần giúp cho học sinh hình thành thái độ
tích cực hơn đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính
hiện nay.
3. Đối tƣợng và khách nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với phương pháp tổ chức
giảng dạy môn giáo dục giới tính.
3.2. Khách thể nghiên cứu
3.2.1. Khách thể chính
50 em điều tra thử.

tất cả để điều tra mà chủ yếu điều tra, khảo sát học sinh ở một trường trên địa
bàn huyện Nam Đàn có số lượng học sinh đông nhất. Trường được lựa chọn
để tiến hành nghiên cứu là Trường trung học phổ thông Nam Đàn 1.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cá nhân;
- Phương pháp phỏng vấn sâu;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp thống kê toán học.
8. Cấu trúc của luận văn.
- Phần mở đầu: Nêu khái quát các vấn đề chung của đề tài 6
- Chương 1: Cơ sở lý luận về thái độ của học sinh đối với phương pháp tổ
chức giảng dạy môn giáo dục giới tính
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về thái độ của học sinh THPT đối
với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính hiện nay
- Kết luận và kiến nghị 7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG ĐỐI VỚI PHƢƠNG PHÁP TỔ CHỨC GIẢNG DẠY MÔN
GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
1.1 Tình hình nghiên cứu về thái đ của học sinh trung học phổ thông đối
với phƣơng pháp tổ chức giảng dạy môn học giáo dục giới tính
1.1.1. Những nghiên cứu về thái độ

thiên hướng hành động, tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân tới một đối
tượng hay sự việc có liên quan” [4.tr,318]
Thuật ngữ Thái độ cũng được các nhà khoa học Liên xô cũ quan tâm
nghiên cứu. Những nghiên cứu về thái độ của Liên xô được bắt đầu từ rất
sớm. Nhà tâm lý học Xô Viết V.N.Miaxiseu (1892 - 1973) nghiên cứu vấn đề
thái độ trên lập trường quan điểm của một nhà tâm lý học hoạt động. Ông đã
xây dựng nên "học thuyết thái độ nhân cách". Đây là học thuyết tổng hợp các
khái niệm về mặt lý luận. Ông cho rằng thái độ mang tính giá trị chủ quan đối
với hiện thực khách quan. Hệ thống thái độ được hình thành theo cơ chế
chuyển dịch "từ ngoài vào trong" thông qua kinh nghiệm tác động qua lại với
người khác trong điều kiện xã hội mà chủ thể đang sống và sinh hoạt. Cũng
theo ông, thái độ nhân cách quyết định đặc điểm cảm xúc, việc tri giác hiện
thực khách quan và cũng như sự phản ứng trong hành vi với những tác động
từ bên ngoài. Miaxisev còn đề cập đến việc phân loại thái độ, theo ông thái độ
bao gồm hai loại: thái độ tích cực và thái độ tiêu cực. Các thái độ này biểu
hiện trong quan hệ với người xung quanh là cơ sở hình thành nên thái độ
tương ứng trong nhân cách con người. V.N.Miaxisev cho rằng tất cả các hoạt
động tâm lý hiểu theo nghĩa rộng có thể xem như một dạng nào đó của thái
độ, việc mở rộng quan niệm như vậy là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng có thể 9
khẳng định học thuyết thái độ nhân cách có những đóng góp lớn làm cơ sở
cho việc nghiên cứu thái độ theo quan điểm hoạt động [Dẫn theo 21,tr10]
Trong những năm cuối thế kỷ XX nhà tâm lý học người Nga
B.Ph.Lomov cũng đã để cập đến khái niệm thái độ chủ quan của nhân cách.
Tác giả cho rằng, khái niệm "tâm thế " "ý thức cá nhân" là những khái niệm
có liên quan và cùng loại với nhau, nó phản ánh những khía cạnh khác nhau
của thái độ. Ông còn khẳng đính tính nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động của
thái độ chủ quan trong một hệ thống phức tạp được gọi là "không gian chủ

tác giả nổi lên trong thời kỳ này đáng để lưu tâm là Likerk, Sank, G.Allport,
J.Bruner…[Dẫn theo 22,tr.9].
Thời kỳ tiếp theo là từ cuối những năm 1950 đến nay. Có thể nói rằng
đây là thời kỳ bùng nổ về nghiên cứu thái độ ở các nước Phương Tây. Vấn đề
thái độ có vị trí xứng đáng trong tâm lý học xã hội. Cũng như ở những thời kỳ
trước, khi nghiên cứu vấn đề thái độ trong thời kỳ này chủ yếu tập trung vào
nghiêu cứu định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó. Tuy nhiên các
nhà khoa học đã có những bước tiến mới hơn và tiến bộ hơn khi nghiên cứu
chúng. Nhiều học thuyết mới được hình thành trong thời kỳ này nhằm phục
vụ cho việc lý giải các mối quan hệ như học thuyết "tự thể hiện mình (Parye
Beny)", học thuyết bất đồng nhận thức giữa thái độ và hành vi (Leon
Festinger)…. Một điểm chung trong việc nghiên cứu thái độ ở phương Tây là
nhằm giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống như tiếp thị, tuyên
truyền, vận động tranh cử, bảo vệ môi trường…Tuy là có bước tiến mới song
các nhà khoa học phương tây vẫn vấp phải những khó khăn nhất định.
Như vậy, có thể thấy rằng khi định nghĩa về thái độ cần phải chọn tiêu
chí chức năng làm điểm tựa. Trong tâm lý học Macxit thì có thể thấy chức
năng của thái độ thể hiện trong hoạt động hợp tác. Trong tâm lý học xã hội
Mỹ thì một số tác giả đề cập đến khía cạnh nhận thức. Những quan điểm về 11
thái độ của các nước có sự ảnh hưởng nhất định đến các trường phái quan
niệm về thái độ ở Việt Nam.
1.1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề thái độ cũng được quan tâm nghiên cứu nhiều. Hầu
hết các quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam đều xuất phát trên quan
điểm tâm lý học hoạt động. Vấn đề thái độ cũng không là ngoại lệ. Vấn đề
này nghiên cứu về thái độ chủ yếu là khái quát, tổng hợp lại những vấn đề lý
luận, về thái độ như định nghĩa, cấu trúc, đặc điểm của thái độ.

động công khai tiếp cận kiến thức môn học”. Cũng trong công trình nghiên
cứu này, tác giả Nguyễn Phương Lan đã cho rằng: “ các yếu tố như gia đình,
bạn bè người thân đã làm tăng đi sự khác biệt trong việc các em thể hiện thái
độ của mình trong việc tiếp cận kiến thức về GDGT” và theo tác giả thì “đổi
mới quan trọng nhất trong việc giáo dục cho trẻ là cha mẹ, và người thân. Thế
nhưng thực tế phần lớn các bậc cha mẹ không hẳn ai cũng hiểu biết đầy đủ về
khoa học giới tính…. Không phải bậc phụ huynh nào cũng đủ bản lĩnh để có
được cách truyền đạt những kiến thức này đến con cái của mình”. Với công
trình nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra được những mặt mạnh, mặt
yếu của việc các em học sinh tiếp cận khoa học về giáo dục giới tính, những
hạn chế tâm lý và cũng đưa ra được những khuyến nghị mang tính chất khoa
học đề góp phần làm tăng hiệu quả nhận thức cho các em. Song trong công
trình nghiên cứu này mới chỉ ra được những rào cản tâm lý về phía gia đình
chứ chưa nêu ra được những rào cản tâm lý đến từ nhà trường, đặc biệt là các
thầy cô giáo. Chẳng hạn như thái độ của các giáo viên khi giảng dạy môn này
như thế nào, cách thức truyền đạt ra sao…đó cũng là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến chất lượng tiếp thu kiến thức của các em. 13
Ngoài ra còn có các nghiên cứu của một số nhóm tác giả như; Hành vi
tình dục và kiến thức tình dục của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn
Hà Nội hiện nay của tác giả Nguyễn Thanh Vân [28]. Hay công trình: Nhu
cầu được giáo dục Sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông của
tác giả Nguyễn Hà Thành [14].
Ngoài ra còn có hàng loạt luận văn, luận án tâm lý học, các đề tài
nghiên cứu khoa học khác đi nghiên cứu khai thác về mảng thái độ của học
sinh đối với vấn đề giáo dục giới tính, tình dục như ; Tình ái trong các cộng
đồng, các tôn giáo và các nền văn hóa của tác giả Phù Khải Hùng [8]; Nhận
thức về tình dục an toàn của sinh viên Đại học Đồng tháp của tác giả Trần

Còn trong cuốn Từ điển Tiếng Việt thái độ được định nghĩa như sau:
"Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó về một vấn đề,
một tính huống cần giải quyết. Đó là tổng thể biểu hiện bên ngoài của ý nghĩa,
tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó". [10,tr.894]
"Thái độ là trạng thái của hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phản ứng, là một
trạng thái tổ chức, được hình thành trên quan niệm quá khứ và nó điều khiển
cũng như ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân". [Dẫn theo 16,tr.16]
Trong Từ điển Tâm lý học do tác giả Nguyễn Khắc Viện định nghĩa:
“Thái độ là những phản ứng tức thì tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình
hay chống đối như đã tri giác về đối tượng cũng như tri thức bị chi phối về
vấn đề thì thái độ gắn liền với tâm thế” [Dẫn theo 18,tr.278]
Năm 1971 nhà tâm lý học người Mỹ H.C Triandis đã đưa ra một định
nghĩa khác về thái độ. Ông cho rằng "thái độ là tư tưởng được tạo ra từ xúc
cảm, tình cảm. Nó tạo ra hành vi nhất định. Thái độ của con người bao gồm
những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách sử dụng
của họ đối với đối tượng đó." [Dẫn theo 21]. 15
Trong khi đó Marten lại đưa ra một định nghĩa khác về thái độ như sau:
"Thái độ là xu hướng thường xuyên đối với các tính huống xã hội, nó biểu
hiện sự thống nhất của ý nghĩ, xúc cảm và hành vi. Thái độ của con người có
mối quan hệ trực tiếp với hành vi bởi thái độ được xác định bởi tính thống
nhất bên trong hành vi đó.
Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm thái độ được rất nhiều nhà khoa
học quan tâm. Song mỗi quan điểm, mỗi khái niệm có những sắc thái khác
nhau mang màu sắc của xu hướng mà nhà khoa học đó theo đuổi. Tuy nhiên,
nhìn chung vẫn có những nét chung giữa những khái niệm này về thái độ đó
là tất cả ít nhiều đều nhận ra rằng thái độ là một thuộc tính trọn vẹn của ý
thức, quy định tính sẵn sàng hành động của con người, đối với đối tượng theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status