MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay là từng
bước hình thành và phát triển toàn diện nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ. Đó là
những công dân tương lai, những người lao động mới phát triển toàn diện trên
tất cả các mặt sao cho phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của đất
nước cũng như phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Luật giáo dục 2005 đã chỉ rõ:“ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [Điều 27].
Trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang có những biến đổi mạnh mẽ
và sâu sắc, mọi mặt của đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa,
toàn cầu hóa, đã mang lại cho nước ta nhiều cơ hội lớn để phát triển cũng như
những thành tựu to về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào
tạo, y tế…Tạo tiền đề quan trọng đưa nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội và hòa nhập vào dòng chảy của thời đại.
Bên cạnh đó, trong sâu thẳm của đời sống xã hội, chúng ta đang phải
đối mặt trước những vấn đề mang tính báo động, đó là sự tha hóa về nhân
cách, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là học
sinh THPT; những tệ nạn xã hội đang ngày đêm hoành hoành, len lỏi phá hoại
nếp sống văn minh, đạo lý truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc. Đây là
những vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự sống còn của quốc gia, dân tộc
trong quá trình hội nhập.
Nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, chính trị, kinh tế, đạo đức và pháp luật…
góp phần xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT được thực
1
hiện ở tất cả các môn học, thông qua các hình thức giáo dục trong nhà trường.
Trong đó, môn GDCD là môn học cơ bản, trực tiếp giáo dục cho học sinh
“Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam
định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay”, làm đề tài luận văn
thạc sỹ triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thông qua giảng dạy môn GDCD để hình thành và phát triển nhân cách
cho học sinh THPT là một nội dung rất quan trọng trong chiến lược giáo dục -
đào tạo con người của Đảng. Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về giáo dục nhân cách dưới những góc độ khác nhau, có giá trị rất
lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Cụ thể là:
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đề tài mang mã số NN7: “ Cải tiến
công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên
trong hệ thống giáo dục quốc dân ” do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm. Đề tài
nghiên cứu về nhân cách nói chung, về giáo dục đạo đức, chính trị và tư tưởng
trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu của thập kỷ 90.
Các đề tài do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm mang mã số: KX - 07.01.
“Phương pháp luận nghiên cứu con người” (1991 -1995); KHXH- 04. “Phát
triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” (1996 - 2000); KH – 05.07. “Xây dựng con người Việt Nam theo định
hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường” (2001 - 2005). Tác
giả đã nghiên cứu về con người với tư cách là mục tiêu và động lực của sự
phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực
hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục
tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục.
Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Trọng Phúc ( 2003), “ Mấy vấn đề đạo
đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đã phân tích những biến động trong lĩnh vực đạo
3
đức, lý giải vai trò của đạo đức, khẳng định yêu cầu đẩy mạnh công tác giáo
dục, xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay…
Huỳnh Khái Vinh ( 2001), “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn
Quyết Tâm (2008) nghiên cứu về: “Giáo dục tinh thần yêu nước Xã hội chủ
nghĩa cho học sinh THPT ở miền Đông Nam Bộ hiện nay”. Luận án thạc sỹ
triết học chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Sỹ Quyết Tâm (2003) nghiên
cứu về: “Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa qua môn giáo dục công dân cho
học sinh trung học phổ thông ở Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay”…
Tôi đã kế thừa trực tiếp những thành quả nghiên cứu khoa học nêu trên,
dựa vào những gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phương pháp để
triển khai công trình của mình.
Tuy đã có nhiều công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về con
người, giáo dục đạo đức, phát triển nhân cách. Nhưng đến nay vẫn chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu trực tiếp về: “Xây dựng và phát triển nhân
cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam định qua giảng dạy môn Giáo dục
công dân hiện nay”. Vì vậy, đề tài của tôi không trùng lặp với các công trình
đã được công bố. Những tài liệu nêu trên giúp ích cho tôi trong việc tham
khảo để nghiên cứu đề tài, viết luận văn thạc sỹ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ tầm quan trọng của vấn đề nhân cách, vai trò của
môn GDCD và thực trạng xây dựng và phát triển nhân cách học sinh THPT ở
tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn GDCD, từ đó đề xuất những định hướng,
giải pháp xây dựng và phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh THPT tỉnh
Nam Định, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích vấn đề nhân cách và vai trò của môn GDCD trong xây dựng
và phát triển nhân cách cho học sinh THPT.
5
- Phân tích tình hình xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh
THPT tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn học GDCD, nêu những nguyên
nhân ảnh hưởng, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đang đặt ra.
- Đề xuất những định hướng và giải pháp xây dựng, phát triển nhân
Đánh giá tình hình xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh
THPT tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn GDCD hiện nay.
Từ đó đã đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm xây dựng và
phát triển nhân cách cho học sinh THPT ở tỉnh Nam định qua môn GDCD.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Góp phần vào việc nhận thức đầy đủ hơn vai trò của môn GDCD đối
với quá trình xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT.
Kết quả nghiên cứu của tác giả có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn GDCD trong trường THPT, công tác
chỉ đạo của các cán bộ quản lý giáo dục ở nước ta nói chung và ở tỉnh Nam
định nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
7
Chương 1
NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN ĐỐI
VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Vấn đề nhân cách và xây dựng, phát triển nhân cách cho học sinh
THPT là vấn đề trung tâm của hệ thống khoa học giáo dục về con người, nó
vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn lớn lao đối với sự tồn tại và
hưng thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc trong quá trình hoà mình vào dòng chảy
của thời đại hôm nay và mai sau.
Xuyên suốt chiều dài của lịch sử tư tưởng nhân loại đã có rất nhiều
khoa học tiếp cận nghiên cứu về nhân cách và những vấn đề có liên quan đến
nó ở nhiều góc độ khác nhau như: triết học, giáo dục học, xã hội học, đạo đức
học, tâm lý học….Tuy nhiên, triết học là một bộ môn khoa học giải đáp rõ
làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình.
Điều đó nghĩa là con người tiếp nhận bản chất xã hội của mình thông qua hoạt
động thực tiễn.
Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội
Đứng về mặt sinh học thì “Con người là một bộ phận của giới tự nhiên” (…,
tr135), phát sinh trực tiếp từ động vật. Theo Ph.Ăngghen: “Bản thân cái sự
kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người
không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật.
Thành thử bao giờ cũng chỉ nói đến việc những đặc tính ấy có ảnh hưởng
nhiều đến sự chênh lệch về mức độ thú tính và tính người mà thôi”. ( …,
tr146)
9
Như hết thảy mọi sinh vật khác, con người sống dựa vào tự nhiên
nhưng khác ở chỗ con người không chỉ dựa vào, mà còn cải tạo giới tự nhiên,
tạo ra tự nhiên thứ hai xung quanh mình. Ph.Ăngghen chỉ ra bước chuyển từ
vượn thành người là nhờ có lao động. Quá trình con người lao động cải tạo
giới tự nhiên cũng là quá trình con người tạo ra con người. Theo Ph.Ăngghen:
“Lao động sáng tạo ra con người là theo nghĩa đấy”.
Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành
bản chất con người. Song Chủ nghĩa Mác không coi nhẹ mặt tự nhiên, phủ
nhận yếu tố sinh vật trong các yếu tố cấu thành bản chất con người. Theo
Mác: “giới tự nhiên là thân thể của con người”. Con người gắn liền với giới tự
nhiên vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên. Mỗi người sinh ra trước
hết là một thực thể tự nhiên, một sản phẩm của thiên nhiên, một bộ phận của
vũ trụ và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên phức tạp.
C.Mác vạch ra sự khác nhau giữa con người và con vật: Con vật hoạt
động theo bản năng còn con người hoạt động theo ý thức. Chính mặt xã hội
của con người đã làm cho mặt sinh vật trong con người phát triển ở trình độ
cao hơn những động vật khác.
Con người sống, hoạt động không phải chỉ theo những bản năng di
giữ vai trò chi phối và chính kiểu quan hệ sản xuất đó lại là cái xét đến cùng,
tạo nên bản chất của con người trong giai đoạn lịch sử đó.
Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ trong từng hình thái
xã hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua
từng chế độ, thời đại riêng biệt. Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang
đương đại, vừa theo chiều dọc lịch sử. Các quan hệ xã hội quy định bản chất
con người bao gồm cả quan hệ xã hội hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống,
bởi vì trong lịch sử của mình con người bắt buộc phải kế thừa di sản của
những thế hệ trước đó.
Khi xem xét bản chất con người ta không được tách rời hiện tại và quá
khứ vì trên lĩnh vực văn hóa tinh thần có những truyền thống thúc đẩy con
11
người biết cố gắng vươn lên, nhưng cũng có những truyền thống “đè nặng lên
những con người đang sống”.
Bản chất một con người cụ thể là tổng hoà các quan hệ xã hội “vốn có”
và quy định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của người đó. Còn
tất cả những hành vi của người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng
biểu hiện bản chất của họ.
Sự thể hiện bản chất của con người không phải theo con đường thẳng
trực tiếp, mà thường là gián tiếp, quanh co qua hàng loạt mâu thuẫn giữa cá
nhân và xã hội, giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trước
mắt và lâu dài; giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền
tự nhiên và văn hoá xã hội.
Như vậy, con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có
sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. Sự tác
động qua lại giữa hai mặt này trong con người tạo thành bản chất người.
Bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không
phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá thể riêng
lẻ mà là tổng hoà của toàn bộ quan hệ xã hội. Đây là phát hiện có giá trị to lớn
của Chủ nghĩa Mác về bản chất con người.
viết: “Mỗi một con người được phát triển và biến đổi bởi văn hoá riêng của
anh ta – thì được gọi là người có cá tính”[…,132]. Ông rất tán thưởng quan
điểm phát triển người – coi trọng cá tính của con người. Ông viết: “Cá tính
đồng nghĩa với phát triển”, và “Sự phát triển tự do của cá nhân là điều tối
quan trọng cho an sinh”[…,132 -146].
Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhấn
mạnh đến cá tính con người và mong muốn mỗi cá nhân phải có tính độc lập,
có cá tính.
Theo Anhxtanh: Nhà trường phải phát triển ở cá thể các phẩm chất và
năng lực có giá trị cho cuộc sống xã hội. Nhưng không có nghĩa là phá huỷ
hay biến các cá nhân trở thành công cụ đơn thuần của cộng đồng, như những
13
bầy ong, đàn bướm. Nếu một cộng đồng toàn những cá thể đồng loạt giống
nhau, không có tính độc đáo cá nhân và mục đích cá nhân thì sẽ là một cộng
đồng nghèo, không có khả năng phát triển.
Nếu như cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với
giống loài, sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân
khác thì nhân cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt giữa những yếu tố bên
trong riêng biệt với toàn bộ hoạt động sống của nó, của cá nhân này với cá
nhân khác.
1.1.1.3. Nhân cách
Đứng trên quan điểm mác xít, xuất phát từ nguyên tắc thừa nhận bản chất
con người để nghiên cứu đã có rất nhiều lý thuyết khoa học về nhân cách.
X.L.Rubinstein đã viết: Con người là nhân cách do nó xác định được
quan hệ của mình với những nhân cách xung quanh một cách có ý thức.
Theo A.V. Petrovxki nhân cách là chủ thể của nhận thức và cải tạo tích
cực hiện thực.
A.G. Covaliov xem nhân cách là một cá thể có ý thức, chiếm một vị trí
nhất định trong xã hội và thực hiện một vai trò nào đó trong xã hội.
E.V. Sorokhova nhấn mạnh: nhân cách là một con người với tư cách là
nhân và cá nhân hóa xã hội.
Với nhân cách riêng, mỗi cá nhân có khả năng tự ý thức về mình, làm
chủ cuộc sống của mình, tự lựa chọn chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm
hoạt động cụ thể trong xã hội.
Mô hình nhân cách con người phát triển toàn diện bao gồm nhiều mặt,
nhiều khía cạnh, song có thể khái quát thành ba mặt cơ bản: phẩm chất đạo
đức, tri thức khoa học và năng lực nghề nghiệp, chuyên môn. Kết hợp ba nội
dung giáo dục trên chính là hướng tới việc hình thành ba mặt cơ bản trong
nhân cách con người phát triển toàn diện.
Như vậy, nhân cách của con người là hệ thống các thái độ của mỗi
người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của
15
người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng và xã hội; độ
phù hợp càng cao thì nhân cách càng lớn. [, 138]
Tóm lại, khi con người là đại diện của loài ta gọi là cá thể. Với tư cách là
thành viên của xã hội ta gọi là cá nhân như là một thực thể độc lập và khi nó
có đủ khả năng để trở thành chủ thể của hoạt động học tập, lao động, vui
chơi…thì con người trở thành nhân cách. Giáo sư –Viện sĩ Phạm Minh Hạc
đã khái quát vấn đề này qua hình vẽ: Các khái niệm chỉ con người.(…,80)
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng và phát triển nhân
cách học sinh trung học phổ thông
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý - chủ biên):
Xây dựng: Làm nên, gây dựng và vun đắp nên. Có thiện ý, nhằm vun
đắp cho tốt đẹp hơn.
Phát triển: Vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên.
Nhân cách: Tư cách và phẩm chất, đạo đức của con người.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (http:// www bachkhoa) Nhân
cách: bộ mặt tâm lí, tổ hợp thái độ riêng, thuộc tính riêng biểu hiện bản sắc và
giá trị xã hội của cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động, giao tiếp.
Người ta sinh ra là người, nhưng nhân cách chỉ hình thành trong hoạt
người hấp thụ tâm lí, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên.
A.N.Lêonchiev – nhà tâm lí học Xô viết chỉ rõ: nhân cách cụ thể là
nhân cách của con người sinh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài
chuyển vào nội tâm, từ các quan hệ với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền
văn hoá xã hội do các thế hệ trước tạo ra, các quan hệ xã hội mà nó gắn bó.
Việc xây dựng và phát triển nhân cách học sinh THPT là một diễn biến
phức tạp, nó bị chi phối bởi những yếu tố chủ yếu sau :
1.1.2.1. Yếu tố sinh học
Mỗi em học sinh ngay từ khi mới sinh ra đã kế thừa những phẩm chất
sinh vật của các thế hệ cha ông mình, mang dấu ấn đặc trưng của nòi giống,
đó gọi là hiện tượng di truyền.
Di truyền học đã chứng minh rằng, các thế hệ con người có thể truyền lại
cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể, về các loại thần kinh, về chức
năng hoạt động của chúng…tạo thành sức sống tự nhiên của con người. Sức
sống tự nhiên là những tiền đề vật chất có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá
trình xây dựng và phát triển nhân cách.
Tư chất thông minh, gen di truyền có vai trò là “nhân tố gốc” tạo nên
năng lực nhận thức, tư duy của mỗi học sinh. Nhờ yếu tố bẩm sinh di truyền
17
mà sự tác động của các môi trường giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội sẽ
hình thành nên nhân cách, phẩm chất, lối sống tốt trong mỗi cá thể người.
Mỗi một học sinh ít nhiều có một khả năng bẩm sinh nào đó, với những
em đặc biệt có năng khiếu bẩm sinh biểu hiện dưới dạng tư chất, nếu giáo
viên biết phát hiện và bồi dưỡng thì các em có thể trở thành nhân tài, trở
thành chủ thể có ích cho đất nước.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển của con người, mặt xã hội với các
thuộc tính phức tạp như: ý thức, thế giới quan, niềm tin đạo đức…không có
một chương trình di truyền nào cả. Hoàn cảnh sống, hoạt động, giao tiếp của
cá nhân và giáo dục xã hội…giữ vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đối
với quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đó.
1.1.2.3. Yếu tố hoạt động
Trong đời sống con ng ư thế nào thì nhân cách con người phát triển như
thế ấy. Hoạt động tích cực là con đường để tiến thân, để thành đạt và là
phương thức để mỗi người vươn tới lý tưởng và hạnh phúc cá nhân. Mỗi con
người có thể nói là sản phẩm của chính bản thân mình.
Hoạt động là phương thức tồn tại và cũng là con đường cơ bản để xây
dựng và phát triển nhân cách. Nội dung, phương thức cũng như mục đích và ý
thức của mỗi cá nhân trong hoạt động sẽ tạo nên và phát triển những nét tính
cách riêng của từng học sinh như: tính tích cực, sáng tạo, ý chí và tình cảm…
Hoạt động của học sinh bao gồm: học tập, vui chơi, văn nghệ, thể dục
thể thao, lao động và hoạt động tập thể…
Học sinh sẽ hình thành được các phẩm chất, tính cách, năng lực khi
tham gia tích cực vào các loại hình hoạt động đa dạng trong xã hội, hiểu biết
và tiếp thu các giá trị văn hóa của loài người.
Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống
con người. Tính đa dạng của hoạt động tạo nên tính đa dạng của giao lưu.
Phương thức, mục đích giao lưu giúp cá nhân chiếm lĩnh được những giá trị
19
đích thực của cuộc sống. Thông qua giao lưu các em tìm ra lẽ phải, chân lý,
rút ra được kinh nghiệm sống, hình thành nên những nét tính cách điển hình.
Như vậy, để xây dựng, phát triển nhân cách người công dân cho thanh
niên học sinh và thực hiện được mục tiêu GDCD, giáo viên không thể chỉ
dùng thuyết lý của mình mà phải thông qua các hoạt động và giao lưu của
chính các em như (Thảo luận, đóng vai, điều tra thực tiễn, liên hệ và tự liên
hệ, sưu tầm tài liệu, chơi trò chơi…). Quá trình dạy học môn GDCD cho học
sinh THPT phải là quá trình tổ chức cho các em các hoạt động giao lưu với
thầy, với bạn và những người khác để thông qua đó các em chủ động phát
hiện và lĩnh hội nội dung bài giảng, hình thành kỹ năng sống, khắc phục được
mâu thuẫn giữa nhận thức và hành vi của mình.
1.1.2.4. Yếu tố giáo dục
Trong các loại giáo dục: giáo dục gia đình, xã hội và nhà trường thì
giáo dục nhà trường có vai trò quan trọng nhất.
Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, có đội ngũ các nhà sư
phạm được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc, phương pháp giáo
dục phù hợp với mọi lứa tuổi, có các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo
dục. Mục đích giáo dục nhà trường phù hợp với xu thế phát triển xã hội và
thời đại. Giáo dục nhà trường, bằng kiến thức và phương pháp khoa học, bằng
tổ chức các hoạt động, giao lưu trong thực tiễn đã xây dựng và phát triển nhân
cách cho học sinh. Qua đó tạo nên bộ mặt tâm lí cá nhân phù hợp với những
tiêu chuẩn, giá trị xã hội và thời đại.
Giáo dục xã hội là giáo dục của toàn xã hội, với thể chế chính trị, pháp
luật, với truyền thống văn hóa, đạo đức…được thực hiện qua hệ thống tổ chức
nhà nước, qua bộ máy tuyên truyền thông tin đại chúng, qua dư luận xã hội,
qua hoạt động giáo dục của các đoàn thể quần chúng…góp phần quan trọng
cho sự phát triển nhân cách. Ngoài ra sự tác động tích cực của nhà trường và
các tổ chức đoàn thể là không thể thiếu trong đào tạo những công dân tương
lai có nhân cách tốt, có ích cho gia đình và góp phần phát triển xã hội.
21
Giáo dục còn bao gồm cả tự giáo dục, tự giáo dục là bước tiếp theo,
nhưng quyết định kết quả của toàn bộ quá trình giáo dục. Tự giáo dục, tự tu
dưỡng là hoạt động có ý thức, là giai đoạn phát triển cao của nhân cách. Như
vậy giáo dục là yếu tố chủ đạo trong quá trình xây dựng và phát triển nhân
cách. Một nền giáo dục mạnh, được tổ chức tốt, bằng các hình thức hoạt động
và giao lưu phong phú, đa dạng, với những phương pháp tốt có thể làm cho
học sinh đạt tới sự phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Nhân cách người thầy giáo
Trong nhà trường, thầy giáo là người trực tiếp thực hiện quan điểm
giáo dục của Đảng, người quyết định “phương hướng của việc giảng dạy, “lực
lượng cốt cán trong sự nghiệp giáo dục, văn hoá”.
Sản phẩm lao động của người thầy giáo là nhân cách học sinh. Vì vậy
Tóm lại, sự phát triển của con người là toàn bộ sự phát triển, hoàn thiện
về thể chất và tinh thần, nó bị chi phối bởi hàng loạt những yếu tố chủ quan
và khách quan. Nhân cách con người là tổ hợp những phẩm chất tâm lí cá
nhân. Việc xây dựng và phát triển nhân cách học sinh THPT được thực hiện
dưới ảnh hưởng của hệ thống các quan hệ xã hội mà các em sống, hoạt động
và giao lưu.
1.2. VAI TRÒ CỦA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN ĐỐI VỚI VIỆC XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.2.1. Đặc điểm kiến thức môn Giáo dục công dân ở trường trung
học phổ thông
1.2.1.1. Nội dung và cấu trúc chương trình môn Giáo dục công dân từ
năm học 1990 -1991 đến năm học 2005 – 2006
Trong những năm đầu đổi mới, môn GDCD trong các trường THPT ở
nước ta được gọi là môn chính trị, là “dạy học chính trị”, phục vụ cho việc
định hướng chính trị tư tưởng trong nhà trường.
Từ năm học 1990 – 1991 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định môn
GDCD là một bộ môn khoa học xã hội trong nhà trường THPT. Môn GDCD
23
đã được giảng dạy ở cả ba khối lớp 10, 11,12. Nhưng chỉ có lớp 10 là có sách
giáo khoa, còn lớp 11 và 12 chỉ là “Tài liệu Giáo dục công dân”.
* Lớp 10: 1 tiết/tuần. Bao gồm 14 bài, trong đó học sinh được học
những vấn đề cơ bản của Triết học Mác – Lênin.
Bảng 1.1:
STT Tên bài Số tiết
Bài 1 Bài mở đầu 1 tiết
Bài 2 Tính vật chất của thế giới 3 tiết
Bài 3 Sự phát triển của thế giới 3 tiết
Bài 4 Sự tồn tại và phát triển của giới tự nhiên 2 tiết
Bài 5 Sự tồn tại và phát triển của xã hội 3 tiết
Bài 6 Vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triển của xã hội 1 tiết
24
Bài 10 Những khó khăn và triển vọng của công cuộc đổi mới Xã hội
chủ nghĩa
1 tiết
Bài 11 Những vấn dề chung của nhân loại ngày nay 3 tiết
Bài 12 Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội
2 tiết
Bài 13 Nghĩa vụ 1 tiết
Bài 14 Lương tâm 1 tiết
Bài 15 Nhân phẩm và danh dự 1 tiết
Bài 16 Hạnh phúc 1 tiết
Bài 17 Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế 2 tiết
Bài 18 Quan điểm và thái độ đúng đắn đối với lao động 2 tiết
Bài 19 Chủ nghĩa tập thể Xã hội chủ nghĩa 1 tiết
Bài 20 Chủ nghĩa nhân đạo Xã hội chủ nghĩa 2 tiết
Bài 21 Tình bạn, tình đồng chí 1 tiết
Bài 22 Tình yêu 1 tiết
Bài 23 Tình cảm gia đình 1 tiết
Bài 24 Một số nét về truyền thống đạo đức dân tộc 3 tiết
Bài 25 Phấn đấu vì lý tưởng dân giàu nước mạnh theo con đường Xã
hội chủ nghĩa
1 tiết
* Lớp 12: 1,5 tiết/tuần. Học sinh được trang bị những tri thức về đường
lối phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục của ĐCSVN và những vấn đề
về Nhà nước, pháp luật ở Việt Nam.
Bảng 1.3:
STT Tên bài Số tiết
Bài 1 Xây dựng đất nước theo con đường Xã hội chủ nghĩa 1 tiết
Bài 2 Thực trạng kinh tế xã hội nước ta hiện nay và những mục tiêu