SKKN Giáo dục đạo đức cho học sinh qua giảng dạy môn Giáo dục công dân - Pdf 28

MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm 2
2. Mục đích của sáng kiến 3
3. Phạm vi, đối tượng áp dụng của sáng kiến 3
4. Thời gian thực hiện và triển khai sáng kiến 3
Phần 2. NỘI DUNG 4
I. Cơ sở lý luận 4
1. Đạo đức 4
2. Vai trò của giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành và phát triển nhân
cách 5
3. Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân trong nhà trường trung học phổ
thông 5
II. Thực trạng của vấn đề 8
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 9
1. Nội dung giáo dục đạo đức qua giảng dạy môn Giáo dục công dân ở các tr-
ường trung học phổ thông 9
2. Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn Giáo
dục công dân và phần đạo đức 10
3.Một số ví dụ cụ thể 13
Sau khi áp dụng sáng kiến tại trường từ đầu năm học 2014-2015, so với năm học
trước tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt và khá tăng, học sinh bị xếp loại hạnh
kiểm trung bình và yếu giảm đáng kể, vấn đề HS của trường THPT Hồng Quang
bị đưa ra hội đồng kỷ luật đã giảm một cách rõ rệt, không còn tình trạng tổ chức
thành nhóm đánh nhau ngoài cổng trường như những năm trước đây, mặc dù
tình trạng xích mích dẫn tới mâu thuẫn là không thể tránh khỏi nhưng tính chất
và mức độ đã có nhiều chuyển biến giảm rõ rệt. Đó được xem là kết quả mà tập
thể sư phạm nhà trường nói chung và công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
trong bộ môn GDCD nói riêng trong quá trình định hướng, hình thành, phát
triển nhân cách của học sinh 23
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24

nhân dân cuối tuần - Đỗ Tấn Ngọc) là vấn đề báo động đối với những người
quản lý giáo dục và làm công tác giảng dạy.
Do đó, việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua giảng dạy Giáo dục công
dân đang là nhiệm vụ mang tính cấp bách
Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn sáng kiến: “Giáo dục đạo đức cho học sinh
qua giảng dạy môn Giáo dục công dân
”.
2
2. Mục đích của sáng kiến
Sáng kiến làm rõ vai trò, nhiệm vụ của việc giáo dục đạo đức cũng như
những nội dung và những phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh. Trên cơ
sở đó, làm rõ công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua
môn học Giáo dục công dân, đặc biệt là thông qua phần đạo đức trong chương
trình.
3. Phạm vi, đối tượng áp dụng của sáng kiến
 Phạm vi
Nghiên cứu việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua giảng dạy môn Giáo dục
công dân ở trường trung học phổ thông Hồng Quang
 Đối tượng áp dụng của sáng kiến
Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn Giáo dục công
dân ở trường trung học phổ thông Hồng Quang theo chương trình lớp 10, 11, 12
4. Thời gian thực hiện và triển khai sáng kiến
Nghiên cứu và thực nghiệm từ năm học 2014-2015
3
Phần 2. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Đạo đức
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiến Latinh là mos (moris) - lề thói
(moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lý” được xem
như đồng nghĩa với “đạo đức” có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos – lề thói, tập

phú, hoàn thiện hơn.
2. Vai trò của giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành và phát triển
nhân cách
Nhân cách của con người bao gồm tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có
ý nghĩa xã hội trong một con người. Những thuộc tính này được hình thành
trong quá trình tác động qua lại giữa người đó với những người khác trong xã
hội. Vì thế, nhân cách đựơc xem là “sản phẩm muộn” trong sự phát triển của
con người.
Khi nói đến nhân cách người ta thường quan niệm đó là sự thống nhất biện
chứng giữa các mặt: phẩm chất và năng lực (còn gọi là đức và tài) của con
người. Trong đó đạo đức là nền tảng, là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan
trọng của nhân cách con người nói chung, học sinh nói riêng. Bộ phận quan
trọng ấy không tự nhiên mà hình thành một cách trọn vẹn, đòi hỏi phải có một
quá trình hướng vào mục đích ấy.
Do đó, ta hiểu: “Giáo dục đạo đức là một quá trình sư phạm bộ phận trong
đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục nhằm hình thành và phát triển ở học
sinh ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi và thói quen đạo đức, nhờ đó mà
tạo ra các phẩm chất đạo đức ở học sinh, theo những nguyên tắc đạo đức cộng
sản chủ nghĩa”
Như chúng ta biết, con người muốn làm được điều thiện, tránh được điều
ác, muốn cho những hành vi của mình được mọi người chấp nhận, không bị dư
luận xã hội lên án thì họ phải nắm được những quan điểm, những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản. Từ đó, con người có thể tự do lựa chọn
những hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội, đồng thời mới có
khả năng đánh giá đúng đắn các hiện tượng, hành vi trong quan hệ xã hội theo
quan điểm đạo đức tiến bộ, cách mạng. Vì vậy, công tác giáo dục đạo đức góp
phần quan trọng vào quá trình hình thành, phát triển nhân cách của con người.
3. Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân trong nhà trường trung
học phổ thông
Mỗi môn học trong trường trung học phổ thông đều có một vị trí nhất định

Cùng với việc hình thành thế giới quan một cách trực tiếp, môn Giáo dục
công dân giúp học sinh trả lời một cách khoa học đúng đắn câu hỏi: Sống để
làm gì? Sống như thế nào cho xứng đáng với vai trò, vị trí của người công dân
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tính định hướng chính trị còn thể hiện ở chỗ, môn Giáo dục công dân trực
tiếp đề cập đến những vấn đề có tính đường lối chính sách của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Đó là những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội nóng bỏng của đất
nước và thế giới. Với những phương pháp luận đã được trang bị, học sinh bước
đầu tiên hiểu, phân tích, đánh giá và tự rút ra kết luận cần thiết đúng đắn.
6
Mỗi môn học trong nhà trường đều có nhiệm vụ xây dựng thế giới quan,
nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo
đức cho học sinh. Lợi thế hơn các môn học khác, môn Giáo dục công dân thực
hiện nhiệm vụ này một cách trực tiếp. Đặc điểm này mở ra khả năng to lớn và
trách nhiệm nặng nề đối với môn Giáo dục công dân.
Ba là, hệ thống tri thức của môn Giáo dục công dân mang tính tích hợp.
Phân tích chương trình của môn Giáo dục công dân ta thấy nó tập trung khá
nhiều phân môn, chứa đựng nhiều loại kiến thức của các môn khoa học khác
nhau: triết học, kinh tế, chủ nghĩa xã hội khoa học, đạo đức, pháp luật, và ở
một mức độ nhất định còn chứa đựng cả kiến thức một số môn khoa học tự
nhiên.
Tính tích hợp đòi hỏi môn Giáo dục công dân không chỉ xác lập phương
pháp chung đặc thù cho cả bộ môn mà còn phải có phương pháp riêng cho từng
phân môn. Mỗi phân môn là một bộ môn khoa học độc lập nên cần có phương
pháp dạy học phù hợp: Dạy triết học phải khác với dạy kinh tế, đạo đức, pháp
luật
Bốn là, môn Giáo dục công dân đòi hỏi chặt chẽ việc dạy và học phải gắn
liền một cách trực tiếp, cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện, tu dưỡng của
mỗi học sinh. Dạy và học Giáo dục công dân là dạy và học để trở thành công
dân của nước Việt Nam. Bởi vậy, nếu tách khỏi thực tiễn xây dựng và bảo vệ

tưởng cho các thế hệ học sinh.
Môn Giáo dục công dân được xác định có vị trí quan trọng trong việc hình
thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, phương pháp tư duy
khoa học cho thế hệ trẻ. Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng nhấn mạnh:
“Phải tăng cường giáo dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng
yêu nước, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước”
Trong đó, phần đạo đức góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành mục tiêu
của chương trình Giáo dục công dân nói riêng và của trường trung học phổ
thông nói chung.
Theo chương trình của lớp 10 thì phần đạo đức thuộc phần II: “Công dân
với đạo đức”.
Theo chương trình lớp 11 gồm 2 phần: Công dân với kinh tế và Công dân
với các vấn đề chính trị - xã hội. Thông qua đó giáo dục đạo đức XHCN cho
học sinh khi tham gia các hoạt động kinh tế và chính trị xã hội
Theo chương trình của lớp 12 thì phần đạo đức nằm trong nội dung giáo dục
pháp luật
Cùng nằm ở ba khối lớp khác nhau nhưng nội dung chương trình đạo đức đã
có sự thay đổi nhất định. Tuy nhiên, cả ba đều giới thiệu cho chúng ta những
phạm trù đạo đức cơ bản, những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa và một
số vấn đề về đạo đức liên quan đến đời sống thường nhật của học sinh cùng một
số truyền thống đạo đức của dân tộc.
8
Qua tìm hiểu phần đạo đức, ta thấy nội dung chương trình được xây dựng
trên cơ sở kế thừa, phát triển kết quả giáo dục, dạy học của môn Đạo đức ở tiểu
học và môn Giáo dục công dân ở trung học cơ sở. Mục tiêu, nội dung chương
trình góp phần củng cố, phát triển hệ thống giá trị đạo đức, lối sống mà học sinh
hình thành ở tiểu học và trung học cơ sở. Đồng thời, giúp học sinh nhận thức về
trách nhiệm của mình đối với mọi người xung quanh và đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng cho học sinh phương pháp luận đúng đắn để
họ nhận thức, có đủ bản lĩnh, đủ năng lực chủ động và tự giác xác định phương

- Hệ thống tri thức kinh tế chính trị hình thành tư duy, khoa học về các quan
điểm kinh tế của chủ nghĩa Mác- Lênin và sự vận dụng của Đảng ta trong công
cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
- Hệ thống tri thức đạo đức trực tiếp hình thành những suy nghĩ, tình cảm,
phẩm chất, hành động đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực xã hội.
- Hệ thống tri thức pháp luật nhằm xây dựng ý thức chấp hành pháp luật.
- Hệ thống tri thức về đường lối của Đảng góp phần giúp học sinh nắm
vững đường lối của Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn và vị trí không
thể thay thế của Đảng trong đời sống xã hội.
Như vậy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua môn Giáo dục công dân
được tiến hành trên cơ sở nội dung khoa học của nó.
Môn Giáo dục công dân có nhiều khả năng giáo dục đạo đức cho học sinh,
bằng nhiều phương diện khác nhau.
- Đưa vào chương trình các bài học đạo đức và các vấn đề đạo đức vào các
bài có nội dung phù hợp.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên liên hệ với các vấn đề đạo đức cần
thiết phải giáo dục liên quan đến nội dung bài giảng.
- Học sinh tự vận dụng các nội dung của bài học vào quá trình tu dưỡng, rèn
luyện của bản thân và giải quyết các vấn đề đạo đức trong cuộc sống hằng ngày.
Khi học sinh biết vận dụng những tri thức trong sách vở để giải quyết những
vấn đề đặt ra trong cuộc sống trên cơ sở khoa học, tức là các em đã hình thành
những hành vi đạo đức tiến bộ một cách tự giác. Các em đã có niềm tin và niềm
tin đó phải được hình thành trên cơ sở hệ thống tri thức khoa học mới là niềm
tin vững chắc. Trách nhiệm này thuộc về các môn khoa học, trong đó có môn
Giáo dục công dân trong nhà trường phổ thông.
Thông qua các bài học của mình, môn Giáo dục công dân có tác dụng giáo
dục đạo đức cho học sinh một cách sâu sắc.
2. Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy
môn Giáo dục công dân và phần đạo đức
Phương pháp giáo dục là một vấn đề quan trọng của lý luận dạy học trong

sinh, nhằm lên án, né tránh những cái xấu.
Trong giáo dục đạo đức, việc nêu gương sẽ làm cho các chuẩn mực đạo
đức, xã hội trở nên trực quan hơn, sinh động và cụ thể hơn, có sức thuyết phục
thực sự. Mặt khác, những hành vi đạo đức của giáo viên hội đồng giáo dục và
bạn bè có tác dụng giáo dục đạo đức rất sâu sắc.
Phương pháp động não.
11
Đây là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được
nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề. Phương pháp này có ích để “lôi ra”
một danh sách các thông tin. Hơn nữa, những tri thức Giáo dục công dân mang nội
dung đạo đức sâu sắc, lại khá quen thuộc với học sinh và cuộc sống xung quanh. Vì
vậy, phương pháp tác động não sẽ kích thích hứng thú học tập.
Phương pháp thảo luận nhóm.
Về thực chất, phương pháp thảo luận nhóm là tổ chức cho học sinh bàn bạc,
trao đổi trong nhóm nhỏ. Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho
mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho
học sinh có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề
có liên quan đến nội dung bài học.
Nhờ phương pháp thảo luận nhóm mà:
- Kiến thức của học sinh sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện, làm tăng
tính khách quan khoa học. Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ
nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm. Từ đó,
các em tin tưởng vào sự đúng đắn của tri thức và mong muốn được vận dụng
chúng vào cuộc sống.
- Nhờ không khí thảo luận cởi mở giúp học sinh thoải mái, tự tin hơn
trong việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe có phê phán của những
thành viên khác.
- Phương pháp này hình thành ở các em tinh thần tập thể, cộng đồng, ý
thức tự giác cao,…
Phương pháp đóng vai:

Về kĩ năng:
- Biết vận dụng khái niệm mâu thuẫn khi phân tích một số sự vật, hiện
tượng. Tránh sự nhầm lẫn giữa khái niệm trong triết học với khái niệm mâu
thuẫn trong sinh hoạt hằng ngày.
- Vận dụng được ý nghĩa của nguyên lý đấu tranh giữa các mặt đối lập của
mâu thuẫn khi nhận xét các hiện tượng biến đổi trong giới tự nhiên và đời sống
xã hội.
Về thái độ:
- Dám đấu tranh giải quyết mâu thuẫn trong đời sống phù hợp với lứa tuổi.
- Phê phán lối sống ngại va chạm, che dấu mâu thuẫn, “dĩ hoà vi quý” trong
đời sống cá nhân và tập thể.
- Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, phải chú ý cả mặt
hợp tác và đấu tranh, đối thoại và đối đầu, tránh cả hai xu hướng cực đoan: tả
khuynh và hữu khuynh.
Phương pháp dạy học:
- Phương pháp đàm thoại
13
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp nêu vấn đề
- Phương pháp vận dụng tri thức liên môn
Với hệ thống phương pháp trên, giáo viên cần giúp học sinh hiểu hai nội
dung của bài:
Một là: Thế nào là mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất với
nhau, vừa đấu tranh với nhau.
Để học sinh hiểu rõ hơn về khái niệm mâu thuẫn, giáo viên cần giúp học
sinh hiểu:
Mặt đối lập của mâu thuẫn là những khuynh hướng, tính chất, đặc điểm …
mà trong quá trình vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng, chúng phát
triển theo những chiều hướng trái ngược nhau.

những cái lạc hậu, tiêu cực. Đó chính là bài học đạo đức sâu sắc đối với lứa tuổi
học sinh.
Ví dụ 2
Bài 8 - Lớp 11: Chủ nghĩa xã hội
Mục tiêu bài học:
Học xong bài, học sinh cần đạt được các yêu cầu:
Về kiến thức:
- Hiểu được Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu của xã hội Cộng sản chủ
nghĩa
- Nêu được tính tất yếu khách quan đi lên Chủ nghĩa xã hội và đặc điểm thời
kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Về kĩ năng:
- Phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa Chủ nghĩa xã hội với các chế độ xã
hội trước ở Việt Nam.
Về thái độ:
- Tin tưởng vào thắng lợi của Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, có ý thức sắn
sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Đất nước, bảo vệ Chủ nghĩa xã hội.
Phương pháp dạy học:
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp nêu vấn đề
- Phương pháp liên hệ thực tế
- Phương pháp thảo luận nhóm.
- Phương pháp thuyết trình
15
Với hệ thống phương pháp trên giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ hai
nội dung:
Một là: Chủ nghĩa xã hội và những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
Hai là: Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Ở bài này, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh nói chuyện chuyên đề: “Sự

Về kiến thức:
- Nêu được vai trò của quốc phòng và an ninh ở nước ta.
- Nêu được những phương hướng cơ bản nhằm tăng cường Quốc phòng và
an ninh ở nước ta hiện nay.
- Hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện chính sách
Quốc phòng và An ninh của Nhà nước.
Về kĩ năng:
- Biết tham gia tuyên truyền và thực hiện tốt chính sách Quốc phòng và An
ninh của Nhà nước.
Về thái độ:
- Tin tưởng, ủng hộ chính sách Quốc phòng và An ninh của Nhà nước, sẵn
sàng tham gia giữ gìn trật tự, an ninh và bảo vệ Tổ quốc.
Phương pháp dạy học:
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp liên hệ thực tế
- Phương pháp nêu vấn đề
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Ngoài ra, phương pháp nêu gương cũng là một phương pháp rất quan
trọng. Nó không chỉ làm rõ nội dung của bài mà với các gương mặt chiến sĩ
công an, cảnh sát dũng cảm bảo vệ trật tự xã hội, biên cương quốc gia sẽ là tấm
gương cho học sinh noi theo.
Với hệ thống phương pháp trên, giáo viên cần làm rõ ba nội dung sau:
Một là: Vai trò của quốc phòng và an ninh.
Quốc phòng là các công việc, các hoạt động nhằm phục vụ cho việc giữ gìn
và bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
An ninh là các công việc, các hoạt động đảm bảo ổn định chính trị, trật tự và
an toàn xã hội trên tất cả các mặt, làm thất bại mọi hành động phá hoại của
địch.
Quốc phòng và an ninh có vai trò trực tiếp giữ gìn và bảo vệ Tổ quốc.
Quốc phòng và an ninh có vai trò đảm bảo sự ổn định chính trị và trật tự an

sinh ghi khái niệm chính xác vào vở. Đồng thời, giáo viên cho học sinh lấy ví
dụ làm rõ hơn khái niệm.
Thông qua việc giúp học sinh hiểu rõ những vấn đề trên, người giáo viên
hình thành ở học sinh tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Đặc
biệt trong điều kiện hiện nay, chúng ta phải cảnh giác với mọi âm mưu thâm
độc của kẻ thù (chúng tìm cách đầu độc thanh niên); chấp hành nghiêm chỉnh
18
luật pháp, giữ vững kỷ cương của trường, lớp; sẵn sàng tham gia nghĩa vụ quân
sự và thực hiện các nhiệm vụ trên mặt trận an ninh ở nơi cư trú.
3.2. Một số ví dụ trong giảng dạy đạo đức
Ví dụ 1.
Bài 11 – lớp 10: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học
Mục tiêu bài học:
Học xong bài, học sinh cần đạt được các yêu cầu:
Về kiến thức:
- Hiểu được thế nào là nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự và hạnh
phúc.
- Hiểu rõ những yêu cầu và nhiệm vụ mà đạo đức xã hội dặt ra cho con
người. Từ đó có nhận thức đúng về đạo đức cá nhân và có ý thức bội dưỡng đạo
đức mới.
Về kĩ năng:
- Đánh giá một cách khoa học các hiện tượng đạo đức trong xã hội.
- Đánh giá được các hành vi đạo đức diên ra trong cuộc sống hàng ngày.
Về thái độ:
- Biết tôn trọng và giữ gìn các giá trị và chuẩn mực đạo đức mới, tiến bộ.
- Có ý thức tự giác thực hiện hành vi của bản thân theo các giá trị, chuẩn
mực ấy trong cuộc sống
Phương pháp dạy học:
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp liên hệ thực tế

nghĩa vụ đạo đức của mình đối với xã hội, phấn đấu trở thành con ngoan, trò
giỏi, công dân tốt.
Ba là: Nhân phẩm và danh dự
Với nội dung kiến thức này giáo viên có thể sử dụng phương pháp nêu gương
về những người tốt biết giữ gìn nhân phẩm và danh dự của mình. Giúp học sinh
hiểu được nhân phẩm và danh dự làm nên giá trị của mỗi con người, người có
nhân phẩm biết trọng danh dự là một cá nhân có đạo đức. Từ đó có phương
hướng rèn luyện đạo đức cho bản thân
Bốn là: Hạnh phúc
Trên cơ sở nội dung kiến thức phần này giáo viên giúp học sinh hiểu đúng hạnh
phúc của con người là sự thỏa mãn cá nhân về nhu cầu vật chất và tinh thần,
nhưng phải là nhu cầu chân chính lành mạnh. Đồng thời biết tự điều chỉnh nhu
cầu cho phù hợp thực tế
Như vậy, qua bài học này hình thành ở học sinh bài học đạo đức sâu sắc,
thiết thực, phù hợp với lứa tuổi trung học phổ thông. Hiểu được thế nào là nghĩa
20
vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự, hạnh phúc. Từ đó các em sẽ thấy cần phải
có trách nhiệm thực hiện tốt, biết phấn đấu hoàn thiện mình, để góp phần xây
dựng gia đình và xã hội hạnh phúc. Đồng thời có thái độ nghiêm túc trong cuộc
sống, có cuộc sống lành mạnh tránh xa các tệ nạn xã hội, tránh lối sống ích kỉ,
thực dụng, phấn đấu vì một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ,
văn minh
Ví dụ 2:
Bài 14 - lớp 10: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu bài học:
Học xong bài, học sinh cần đạt được các yêu cầu:
Về kiến thức:
- Nêu được thế nào là lòng yêu nước và các biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước.
- Trình bày được trách nhiệm của công dân đặc biệt là công dân học sinh
đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

chuẩn bị tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để khắc sâu kiến thức của bài, đồng thời giáo dục đạo đức cho học sinh;
giáo viên nên sử dụng các bài tập thực hành để rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
Cụ thể là:
Câu 1: Biểu hiện nào sau đây thể hiện lòng yêu nước:
a) Tình cảm yêu quý, gắn bó với quê hương.
b) Nhớ về cội nguồn, biết ơn các thế hệ đi trước.
c) Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
d) Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc.
e) Tham gia hoạt đong xã hội, từ thiện.
f) Tất cả các biểu hiện trên.
Câu 2: Sưu tầm một số câu ca dao, tục ngữ nói về lòng yêu nước.
Qua nội dung trên học sinh hiểu được những việc mình cần phải làm. Đó là
cố
gắng học tập, trau dồi kiến thức, rèn luyện đạo đức, tác phong, tích cực tham gia các
hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội, hoạt động lao động công ích, các hoạt động bảo vệ
trật tự an ninh, đền ơn đáp nghĩa các gia đình thương binh, liệt sỹ… ở nhà
trường và địa
phương, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đây chính là quan niệm sống liên quan đến bài học mà người giáo viên cần
hình thành ở học sinh.
4. Kết quả cụ thể
22
Sau khi giảng dạy
Giáo dục đạo đức cho học sinh qua giảng dạy môn Giáo
dục công dân
. Đánh giá hiệu quả qua xếp loại hạnh kiểm cuối kỳ và cuối năm
như sau thu được kết quả sau:
STT LỚP
SỈ

phát triển nhân cách của học sinh
.
23
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch
sử loài người. Nó được hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế - xã
hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là đạo đức mới - đạo đức
Cộng sản chủ nghĩa.
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Chức năng
này được thực hiện bằng dư luận xã hội và lương tâm nhằm đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của xã hội. Những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo
đức tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các quan hệ ứng xử giữa người và
người, cá nhân và xã hội, nhằm hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ;
chống cái ác, cái xấu, cái giả; đưa xã hội ta đạt mục tiêu cao cả: dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, dân chủ. Sự điều chỉnh của đạo đức mang
tính tự nguyện, đạo đức là sự tự do lựa chọn của con người.
Con người vốn sinh ra chưa có nhân cách. “Nhân cách cũng không có sẵn
bằng cách bộc lộ dần dần những xung đột bản năng, nguyên thuỷ mà một lúc
nào đó đã bị kìm chế, chèn ép”. Nhân cách con người có cơ sở vật chất là yếu
tố sinh học, nhưng cái quyết định chất lượng xã hội của nhân cách lại thuộc về
yếu tố lịch sử - xã hội.
Giáo dục chính là con đường quan trọng nhất để con người hình thành nhân
cách. Giáo dục đạo đức đóng vai trò hạt nhân trong toàn bộ quá trình giáo dục
con người.
Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông chính là giáo dục các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình học tập, lao động, sản xuất và sinh hoạt
giữa người với người. Bao gồm: quan hệ cá nhân đối với xã hội, những người
xung quanh; quan hệ cá nhân đối với lao động; quan hệ cá nhân đối với tài sản
xã hội chủ nghĩa và các di sản văn hoá - xã hội - thiên nhiên và với chính bản

nhau.
- Ngoài ra, cần nâng cao vai trò bổ trợ của các tổ chức chính trị xã hội ở
trường trung học phổ thông trong công tác giáo dục đạo đức.
Những giải pháp trên đây không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với việc giáo
dục đạo đức cho học sinh qua giảng dạy Giáo dục công dân ở các trường trung
học phổ thông mà còn có ý nghĩa tích cực đối với sự thành công của một bài
giảng Giáo dục công dân nói chung.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và
của toàn xã hội. Thành công của quá trình này chủ yếu tuỳ thuộc vào lương
tâm, trách nhiệm, tài năng của người giáo viên, mà điểm cốt lõi là tình yêu
thương, phẩm giá và nhân cách mẫu mực của người thầy.
, ngày 2 tháng 2 năm 2015
Người thực hiện:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status