Sử dụng bài tập định tính gây sự hứng thú cho học sinh trong giảng dạy môn vật lí nuong - Pdf 33

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________________________________

Phú Quốc, ngày 05 tháng 01 năm 2015
BÁO CÁO
KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC
____________

- Họ và tên: Ngô Mỹ Nương
- Chức danh: Giáo viên môn Vật lí
- Đơn vị công tác: Trường THPT Dương Đông
1. Tên kinh nghiệm: Sử dụng bài tập định tính gây sự hứng thú cho học sinh
trong giảng dạy môn vật lí.
2. Căn cứ
- Căn cứ vào Nghị Quyết của Chi bộ trường THPT Dương Đông;
- Căn cứ vào kế hoạch năm học 2014-2015 của trường THPT Dương Đông;
- Căn cứ vào tình hình thực tế của học sinh trường THPT Dương Đông;
- Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy mặc dù vật lí là một môn khoa học
thực nghiệm, mô tả thế giới khách quan, gần gủi với đời sống hằng ngày nhưng thực tế
không dễ dàng trong quá trình tiếp thu và nghiên cứu đối với học sinh.
3. Thực trạng tình hình
3.1. Ưu điểm
- Chi bộ và Ban giám hiệu nhà trường luôn có tâm huyết và đã chỉ đạo sâu
sát đối với tập thể thầy và trò.
- Giáo viên phụ trách giảng dạy vững vàng về chuyên môn, luôn tâm huyết
với nghề, có lối sống giản dị và tác phong gương mẫu cho học sinh noi theo.
- Số lượng học sinh lựa chọn môn vật lí trong các kì thi tốt nghiệp THPT
khá cao cho thấy học sinh vẫn có quan tâm đến môn vật lí.
3.2. Hạn chế
- Mặt bằng kiến thức và năng lực học tập của học sinh còn thấp nên ảnh

thế nào. Tức là, ta đã biết điều kiện cụ thể và sau đó tìm quy luật chung chi phối hiện
tượng và rút ra kết luận.
4.2. Các bước giải bài tập định tính
Bước 1: Tìm hiểu đầu bài, nắm vững giả thiết của bài tập
Bước này bao gồm xác định dạng bài tập, đọc kĩ đề bài tập để tìm hiểu ý nghĩa
vật lí của các thuật ngữ có trong đề bài. Tóm tắt đầy đủ giả thuyết, xác định nội dung
chính của câu hỏi, làm rõ những mặt định tính của đề bài, các yếu tố được bỏ qua. Chuyển
ngôn ngữ bài tập về ngôn ngữ vật lý, hình dung rõ ràng về hiện tượng vật lý.
Bước 2: Phân tích hiện tượng
Nghiên cứu các dữ kiện ban đầu của bài tập: những hiện tượng gì, những tính
chất, trạng thái nào của hệ... để nhận biết chúng có liên quan đến những khái niệm, quy
tắc, định luật nào đã học trong vật lí.
Xác định các giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đề bài, mỗi giai đoạn
bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào ... Hình dung toàn bộ diễn biến của hiện
tượng và các định luật, quy tắc chi phối nó.
Bước 3: Xây dựng lập luận và suy luận kết quả
Đối với loại bài tập giải thích hiện tượng:
Những hiện tượng thực tế thường rất phức tạp, thoạt nhìn thì khó có thể phát
hiện ngay được mối quan hệ giữa hiện tượng đã cho với những định luật vật lí đã biết.
Nên cần phân tích hiện tượng phức tạp ra các hiện tượng đơn giản, sao cho mỗi hiện
tượng đơn giản chỉ tuân theo một định luật hay một quy tắc nhất định.
+ Tìm những dấu hiệu có liên quan đến một tính chất, định luật vật lí đã biết.
+ Phát biểu đầy đủ tính chất của định luật đó.
+ Thiết lập mối quan hệ giữa định luật với hiện tượng, giải thích nguyên nhân.


Đối với loại bài tập dự đoán hiện tượng:
Trước hết cần phải “khoanh vùng” kiến thức căn cứ vào những dấu hiệu ban đầu để
liên tưởng, phán đoán chúng có thể liên quan đến những quy tắc, định luật vật lí nào đã học.
Những quy tắc, định luật.. đó chi phối như thế nào đối với những hiện tượng cùng loại.

những bài tập tập dợt. Sau đó học sinh sẽ giải những bài tập tính toán, bài tập đồ thị, bài
tập thí nghiệm có nội dung phức tạp hơn. Việc giải những bài tập tính toán tổng hợp,
những bài tập có nội dung kĩ thuật với dữ kiện không đầy đủ, những bài tập sáng tạo có
thể coi là sự kết thúc việc giải hệ thống bài tập đã được lựa chọn cho đề tài.
4.4. Một vài ví dụ cụ thể


4.4.1. Ví dụ 1: Một người đứng giữa hai chiếc thuyền. Mỗi chân đặt trên
một thuyền dùng lực giữ hai thuyền lại. Khi hai thuyền cạnh nhau (hai chân dang hẹp) thì
người đó thấy dễ dàng hơn khi hai thuyền ở vị trí xa hơn (hai chân dang rộng hơn)? Giải
thích hiện tượng trên?
Bước 1: Tìm hiểu đầu bài, nắm vững giả thiết của bài tập
Qua đề bài ta thấy có khái niệm lực. Lực giữ hai thuyền lại làm hai thuyền
không chuyển động, trọng lực của người đó bị tách thành hai lực theo phương của hai chân.
Bước 2: Phân tích hiện tượng
Trọng lực chia thành hai lực thành phần theo hai chân của người đó. Khi hai
thuyền ở gần, hai chân dang hẹp, khi đó hai lực thành phần theo hai chân sẽ rất nhỏ hơn
so với trọng lực hướng xuống, lực đẩy ra của hai thuyền do trọng lực của người là nhỏ.
uu
r
F1

uu
r
F2
uur
Fhl

uu
r

Thùng nước tạo ra một lực hướng xuống, hai vai của hai học sinh tác dụng
lực có vai trò là phản lực ngược hướng với lực do thùng nước gây ra. Nếu thùng nước đặt


ngay ở trọng tâm của thanh thì lực sẽ chia đều cho hai em. Phải đặt như thế nào để cho
học sinh yếu có lợi hơn.
Bước 3: Xây dựng lập luận và suy luận kết quả
Hợp lực của hai lực song song cùng chiều là một lực song song, cùng chiều
và có độ lớn bằng tổng các độ lớn của hai lực ấy, tổng hợp lực do hai vai tác dụng lên
thanh phải bằng trọng lượng của thùng nước. Cần dịch chuyển phía treo thùng về phía
học sinh khỏe để phần đòn khiêng dài về phía học sinh yếu, khi đó lực tác dụng lên vai
học sinh này nhỏ hơn lực tác dụng lên vài học sinh khỏe.
Bước 4: Biện luận
Giá của hợp lực chia khoảng cách giữa hai giá của hai lực song song thành
những đoạn tỉ lệ nghịch với độ lớn của hai lực ấy.
F = F1 + F2 và

F1 d 2
=
vậy đáp án rất hợp lý.
F2 d1

5. Kết quả thực hiện và phạm vi áp dụng nhân rộng:
- Kết quả thực hiện: Qua một học kì, đã sử dụng hệ thống bài tập định tính có đầu tư
và chọn lọc đồng thời phối hợp nhiều yếu tố khác trong quá trình dạy học, tôi thấy kết quả
học tập môn vật lí của học sinh khá khả quan. Sau đây là kết quả thống kê HKI năm học
2014-2015, tuy nhiên nên hiểu rằng, việc sử dụng bài tập định tính hợp lí đã góp phần cho
kết quả này chứ không phải trong dạy học vật lí chỉ cần đưa các bài tập định tính vào là
đạt được kết quả cao.
Lớp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status