SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI
TRƯỜNG THPT PHAN BỘI CHÂU
TỔ: SỬ - GDCD
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
ĐỂ TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG GIỜ HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
Họ và tên: VÕ THỊ HỒNG CHÂU
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
Năm học 2011-2012
A. MỞ ĐẦU
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1
Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ của xã hội loài người. Nó đã
tồn tại cách chúng ta hàng chục năm, hàng trăm năm, thậm chí hàng triệu năm.
Do đó, việc tiếp cận và tái hiện lại lịch sử gần giống như nó đã từng tồn tại là
một việc rất khó khăn. Vì vậy, nếu giáo viên sử dụng những tư liệu như: hình
ảnh, bản đồ, biểu đồ và đặc biệt là phim tư liệu vào giảng dạy thì sẽ góp phần
rất lớn giúp học sinh có thể tái hiện lại được sự kiện lịch sử gần giống như nó
đã từng tồn tại – đây là điều cực kì quan trọng với môn Lịch sử. Do đó, việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy Lịch sử là vừa mang tính lịch sử,
vừa mang tính thời đại. Nó mang tính lịch sử vì đáp ứng được yêu cầu của dạy
học: truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất, cần thiết nhất và đáp ứng được
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử hiện nay, đồng
thời mong muốn được chia sẻ những kinh nghiệm nhỏ của bản thân với các
đồng nghiệp nên tôi quyết định chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin
để tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Lịch sử ở trường THPT” để làm
sáng kiến kinh nghiệm.
II.GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
Đây là một đề tài khá rộng nhưng do thời gian có hạn nên ở phần nội dung
tôi chỉ trình bày về vai trò của công nghệ thông tin đối với việc giảng dạy môn
Lịch sử ở trường THPT . Trên cơ sở đó, tôi vận dụng để thiết kế và giảng dạy
một tiết cụ thể trong chương trình Lịch sử lớp 12.
Với đề tài này tôi chỉ mong muốn chia sẻ một vài kinh nghiệm nhỏ với
đồng nghiệp. Dù rất cố gắng nhưng những thiếu sót là điều không tránh khỏi, vì
vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo và các
em học sinh.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
B.NỘI DUNG
3
I. Vai trò của công nghệ thông tin đối với việc giảng dạy môn Lịch sử.
Lịch sử là quá trình phát triển không ngừng của xã hội loài người từ khi
con người và xã hội hình thành đến nay. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy
ra một lần duy nhất, gắn với một khoảng thời gian, không gian và nhân vật cụ
thể. Trong học tập lịch sử, học sinh không thể “trực tiếp quan sát” được các sự
kiện, hiện tượng, các em chỉ có thể “nhận thức được một cách gián tiếp thông
qua các tài liệu được lưu lại”. Giáo viên cũng không thể tiến hành thí nghiệm
lịch sử để dựng lại quá khứ đúng như nó từng tồn tại để cho học sinh quan sát,
nhất là những sự kiện, hiện tượng đã xảy ra cách ngày nay hàng triệu năm, thậm
chí những sự kiện, nhân vật chỉ cách đây vài chục năm. Ví như, khi dạy học về
làm xong, máy vi tính cũng cho phép lưu trữ văn bản tạm thời để “khi nào có
thời gian thì soạn thảo tiếp”. Đây là ưu điểm nổi bật của CNTT, nó hỗ trợ đắc
lực cho giáo viên trong khâu chuẩn bị bài soạn ở nhà mà phương pháp soạn bài
giảng thủ công trước đây không có.
Việc ứng dụng CNTT để thiết kế và trình chiếu các loại kênh hình lịch sử,
rồi tổ chức cho học sinh tìm hiểu sự kiện được ví như “chiếc cầu nối” giữa quá
khứ và hiện tại, có thể đưa các em vào con đường nhận thức biện chứng để đạt
tới chân lí khách quan. Do được quan sát những hình ảnh lịch sử thiết kế sinh
động, hấp dẫn và phóng to trên màn ảnh lớn với sự hỗ trợ của công nghệ
Multimelia, kết hợp với phương pháp dùng lời của giáo viên, học sinh sẽ tham
gia quá trình nhận thức chủ động, tích cực. Dưới sự hướng dẫn, tổ chức của
giáo viên, cùng một lúc, các em huy động nhiều giác quan để học tập, do đó
việc ghi nhớ sự kiện, địa danh, nhân vật,… tốt hơn, tái hiện lại quá khứ dễ dàng
hơn. Không có đồ dùng trực quan, dù giáo viên có dạy hay đến đâu, lời nói dù
có sống động, giàu hình ảnh đến mấy cũng khó có thể tạo cho HS biểu tượng cụ
thể, chính xác về quá khứ. Thậm chí, nếu giáo viên có sử dụng đồ dùng trực
quan theo phương pháp truyền thống (hình ảnh kém rõ ràng, chỉ ở dạng tĩnh,
5
kích thước kênh hình bé hơn,…) thì biểu tượng về quá khứ lịch sử được học
sinh thu nhận vẫn kém hơn. Khi ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử, chỉ với
một vài thao tác đơn giản, cùng một lúc giáo viên sẽ thực hiện được các nhiệm
vụ: cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng và đặt cơ sở cho hình thành khái niệm..
Mặt khác, vận dụng hiệu quả các biện pháp sư phạm ứng dụng CNTT trong dạy
học bộ môn cũng giúp học sinh học tập tích cực hơn ở giai đoạn nhận thức lí
tính và vận dụng những tri thức lịch sử mới tiếp thu vào đời sống. Để tư duy
được lịch sử, học sinh phải nắm vững sự kiện và có biểu tượng đúng đắn về quá
khứ.
Ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử một cách hiệu quả thông qua trình bày
mạnh và biểu hiện về sự hùng mạnh của nó, học sinh cũng hình thành được khái
niệm, thuật ngữ mới: Cứ điểm Điện Biên Phủ là gì? Như vậy, việc ứng dụng
CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học lịch sử như ví dụ nêu trên đã thể hiện
mối quan hệ biện chứng về con đường nhận thức của HS đi từ “trực quan sinh
động” (nhận thức cảm tính) đến “tư duy trừu tượng” (nhận thức lí tính). Ở đây,
nhờ được quan sát hình ảnh sinh động, được nghe giảng và tư duy lịch sử mà
những khoảng cách về thời gian, không gian của sự kiện dường như đang xích
lại gần với khả năng nhận thức của các em hơn.
Khi bài học lịch sử trên lớp có ứng dụng CNTT nó cũng tiết kiệm được thời
gian cho cả giáo viên và học sinh, nhất là với những nội dung có sử dụng nhiều
đoạn miêu tả, tường thuật, hoặc cụ thể hóa sự kiện lịch sử. Bình thường, khi sử
dụng các loại phương tiện trực quan truyền thống, giáo viên sẽ tốn thêm một số
thời gian nhất định, mà hiệu quả lại không cao bằng sử dụng CNTT. Ví như, khi
sử dụng những bức ảnh lịch sử có kích thước nhỏ, giáo viên phải đi xuống lớp
hướng dẫn học sinh quan sát, sử dụng lược đồ treo tường giáo viên phải mất
công treo, hoặc nếu lập niên biểu, vẽ sơ đồ, đồ thị lịch sử trên bảng đen thì giáo
viên cũng mất khá nhiều thì giờ, trong khi đó độ chuẩn xác và tính thẩm mĩ lại
không cao. Ngược lại, nếu giáo viên ứng dụng CNTT vào chuẩn bị bài giảng ở
nhà từ trước, những công việc này khi dạy học trên lớp sẽ giúp chúng ta đỡ vất
7
vả và đơn giản hơn rất nhiều, thời gian được tiết kiệm tối đa mà tính trực quan,
thẩm mĩ lại cao Thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông cho thấy, một tiết
học trên lớp cả thầy và trò chỉ có 45 phút, song không phải giáo viên có đủ 45
phút để tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài mới: giáo viên phải ổn định trật tự lớp
đầu giờ mất khoảng 1 – 2 phút, rồi kiểm tra bài cũ mất từ 5 đến 7 phút và lại tổ
chức kiểm tra sự nhận thức của HS cuối giờ – củng cố bài học mất khoảng 5
phút. Như vậy, thời gian giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu kiến thức
mới trong mỗi tiết học chỉ có khoảng 35 phút, nếu chúng ta ứng dụng CNTT
a. Thiết kế lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975
* Đưa Lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975
vào máy vi tính:
Lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 được in
trong sách giáo khoa. Vì vậy giáo viên chỉ cần Scan lược đồ đó vào máy vi
tính.
* Thiết kế lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975
trên máy vi tính:
Bước 1: Chỉnh sửa lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân 1975:
-Click chuột trái vào Zoom Out hoặc Zoom In để phóng to hoặc thu nhỏ
lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 cần thiết kế cho
phù hợp.
- Cắt lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975: Click
chuột trái vào Crop, kéo rê chuột trái vào khu vực cần cắt, di chuyển chuột vào
gữia khu vực cần cắt, Double Click chuột trái vào giữa khu vực cần cắt ta được
lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 muốn cắt.
9
- Xoá các ký hiệu “chết” trên lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy Xuân 1975: Vào Eyedropper, Click chuột trái vào Pencil để có công cụ
xoá, chọn màu sao cho phù hợp với nền của lược đồ để xoá các ký hiệu “chết “.
Muốn xoá bất cứ ký hiệu nào trên bản đồ, lược đồ ta chỉ cần di chuyển chuột
vào ký hiệu đó.
Bước 2: Thiết kế lược đồ trên Powerpoint.
- Mở PowerPoint, chọn Slide trắng, copy lược đồ lược đồ diễn biến cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975: đã chỉnh sửa vào.
- Vào AutoShapea/chọn Lines/ chọn các biểu tượng hoặc mũi tên đơn, đôi
để vẽ lại các ký hiệu “chết” đã xoá.
b. Xử lí và chèn các đoạn phim tư liệu vào bài giảng:
- Tìm kiếm các phim tư liệu về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975,
trong đó tiêu biểu nhất là bộ phim: “Việt Nam – cuộc chiến 10.000 ngày” của
đạo diễn Michael Maclear.
- Xử lí phim: từ bộ phim tư liệu trên chúng ta dùng WMM (windows
movie maker) để tạo ra những đoạn phim với hình ảnh và âm thanh phù hợp với
bài giảng. Với cách làm này tôi đã tạo ra 3 đoạn phim về Chiến dịch Tây
Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh để phục vụ cho
bài giảng.
2. Ứng dụng CNTT để giảng dạy bài: KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ-XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM
(1973 - 1975) (tiết 2) – Lịch sử 12 (chương trình chuẩn)
Ở tiết này, tôi sẽ kết hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau để bài giảng
đạt hiệu quả cao nhất. Trong đó việc ứng dụng CNTT chủ yếu là ở mục 2:
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975. Cụ thể như sau:
a. Chiến dịch Tây Nguyên (4/3 – 24/3/1975)
Trước hết, GV sẽ giới thiệu sơ lược vị trí của Tây Nguyên trên lược đồ (đã
được thiết kế trên Powerpoint). Trên cơ sở đó GV sẽ đặt câu hỏi : Vì sao Bộ
chính trị quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công đầu tiên trong
11
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 ? (Tây Nguyên có vị trí chiến lược
quan trọng . Địch chủ quan nhận định sai hướng tiến công của ta. Lực lượng
địch mỏng, bố phòng sơ hở. Ta tập trung chủ lực mạnh vũ khí, kĩ thuật hiện
đại)
Tiếp đó GV sẽ trình bày về diễn biến Chiến dịch Tây Nguyên qua các sự
kiện: ngày 4/3, 10/3, 12/3, 14/3, 24/3. Khi trình bày về các sự kiện này, GV sẽ
kết hợp với phần trình chiếu lược đồ với nhiều hiệu ứng sinh động, đồng thời
cho các em xem phim tư liệu sẽ giúp các em thấy được mối quan hệ của các sự
nắm.
III. Hiệu quả đạt được từ bài giảng:
1. Đối với giáo viên: Sử dụng các công cụ tiện ích trong các phần mềm
thông dụng cho phép thiết kế nhanh phần diễn biến các sự kiện, chiến dịch có
trong chương trình lịch sử hiện hành.
2. Đối với học sinh: Trình bày diễn biến bằng hiệu ứng trên PowerPoint
làm cho giờ học sinh động hơn, học sinh thích thú hơn, nhớ lâu hơn và tái hiện
diễn biến nhanh hơn, các em có thể nắm bài ngay tại lớp . Qua so sánh , đối
chiếu kết quả khảo sát sau khi thực hiện cho thấy số học sinh tái hiện lại được
diễn biến sau giờ giảng tăng lên rất nhiều so với lớp dạy bằng phương pháp
thuyết trình thông thường.
13
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA
XE TĂNG 843
BÙI QUANG THẬN – ngày ấy và
14
bây giờ
XE TĂNG 390 VÀ
CÁC ANH LÍNH TĂNG
Francoise Demulder vàTấm ảnh lịch sử của Francoise Demulder
C.KẾT LUẬN
nghề nghiệp của GV và vào cả tinh thần hăng say học tập của HS để mang lại
hiệu quả giáo dục cao.
Áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới là điều nên làm. Nhưng
cho dù phương tiện kĩ thuật có hiện đại dến đâu chăng nữa thì nó chỉ hỗ trợ cho
việc giảng dạy và tạo ra bài giảng hay hơn, sinh động hơn, song nó không là tất
cả và không thể thay thế vai trò chủ đạo của người GV trong giờ lên lớp. Để tiết
dạy thật sự đạt hiệu quả cao hơn, GV phải biết phối hợp giữa các phương pháp
truyền thống và hiện đại để làm mới hơn, hấp dẫn hơn, hiệu quả hơn mà không
làm mất đi hoặc sai lệch về mục đích, mục tiêu giảng dạy trong nhà trường.
16
Trên đây là những kinh nghiệm bản thân tôi được rút ra từ thực tiễn dạy
học lịch sử, tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp
dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.
Pleiku, tháng 03 năm 2012
Người thực hiện
Võ Thị Hồng Châu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Phan Ngọc Liên (chủ biên)- Lịch sử 12- NXB Giáo dục 2008
2.Phan Ngọc Liên (chủ biên)- Sách giáo viên Lịch sử 12- NXB Giáo dục
2008
3.Phan Ngọc Liên (chủ biên)- Phương pháp dạy học lịch sử- NXB ĐHSP
Hà Nội, tập1,2 - 2002
4.Phan Ngọc Liên – Lịch sử và giáo dục lịch sử- NXB Chính trị quốc gia
Hà Nội- 2003
5. Phim tư liệu: Việt Nam – Cuộc chiến 10.000 ngày của đạo diễn
Trang 16
18