SKKN: Ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường - Pdf 13



TRONG NHÀ TRƯỜNG

Người thực hiện: TRẦN THỊ KIM TÂN
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác Năm học: 2012 - 2013
BM 01-Bia SKKN

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: TRẦN THỊ KIM TÂN


BM02-LLKHSKKN I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ của sự bùng nổ tri thức khoa
học và công nghệ. Để có thể vươn lên kịp thời đại, đất nước Việt Nam cần những
người lao động có tri thức, có tư duy sáng tạo. Tình hình đó đòi hỏi nền giáo dục
của nước nhà phải đổi mới một cách toàn diện nhằm đào tạo nguồn nhân lực phù
hợp với yêu cầu. Để góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục theo quan
điểm trên, Chỉ thị số 55/2008/CT- BGDĐT của Bộ GD-ĐT ngày 30 tháng 9 năm
2008 đã nhấn mạnh “Công nghệ thông tin (CNTT) là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi
mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục. Phát triển
nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan
trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước”, nhiệm vụ trọng tâm
các cấp quản lý, các cơ sở giáo dục trong toàn ngành là “Nâng cao nhận thức của
cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp quản lý giáo dục, nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục về vai trò, vị trí và sự cần thiết của CNTT trong giáo dục. Thủ trưởng
các cấp quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển khai
các biện pháp để đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào công tác chuyên môn và quản lý”.
Ngoài ra Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01 tháng 06 năm 2009 của thủ
tướng chính phủ cũng đề ra mục tiêu phát triển đến năm 2015 là “Tăng cường đào
tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ giáo viên dạy tin học cho các cơ sở giáo dục
phổ thông, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giảng dạy và trong quản lý giáo dục ở
tất cả các cấp học. 65% số giáo viên có đủ khả năng ứng dụng CNTT để hỗ trợ cho
công tác giảng dạy, bồi dưỡng” và “ đẩy mạnh việc phổ cập kiến thức và kỹ năng
ứng dụng CNTT. Đảm bảo đa số cán bộ, công chức, viên chức; được đào tạo về
ứng dụng CNTT trong công việc của mình”.
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, những năm gần đây các

- Lý do thực tiễn
Do tính chất quan trọng và cấp bách đòi hỏi phải ứng dụng sâu rộng CNTT
trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, dựa trên
các văn bản hướng dẫn của Bộ GD-ĐT và Sở GD-ĐT, ngay từ đầu năm hiệu
trưởng Trường THPT Xuân Lộc đã thực hiện việc xây dựng kế hoạch năm học,
trong đó có kế hoạch ứng dụng CNTT. Kế hoạch được xây dựng khoa học, rõ ràng,
có phân công cụ thể người thực hiện, thời gian thực hiện. Tuy nhiên do đặc điểm
đội ngũ, một phần các giáo viên lớn tuổi ngại tiếp cận với CNTT, phần khác nhiều
giáo viên chưa thật sự đầu tư đổi mới trong giảng dạy nên việc triển khai thực hiện
kế hoạch trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn. Việc hỗ trợ đổi mới phương
pháp giảng dạy bằng ứng dụng CNTT chưa được thực hiện một cách hợp lý, còn
hình thức, giáo viên chỉ ứng dụng CNTT ở một số giờ dạy trong các buổi hội
giảng, không áp dụng trong thực tế hàng ngày.
- Tính cấp thiết
Xuất phát từ cơ sở pháp lý, cơ sở lý luận, chúng tôi nhận thấy việc ứng dụng
CNTT trong nhà trường có vai trò rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng
dạy học trong nhà trường. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc ứng dụng CNTT trong
trường THPT Xuân Lộc còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu để đánh giá thực
trạng việc ứng dụng CNTT ở trường THPT Xuân Lộc là cần thiết và cấp bách để từ
đó đề ra phương hướng trong việc xây dựng kế hoạch Ứng dụng CNTT trong các
năm học tới hiệu quả hơn. Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Ứng dụng Công nghệ thông
tin trong nhà trường” cụ thể là việc ứng dụng CNTT trong dạy học năm học 2012-
2013 tại trường THPT Xuân Lộc.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
Từ sự luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của ứng dụng CNTT ở trường
THPT theo hướng tích cực hóa chúng tôi đề xuất đề xuất một số biện pháp để ứng
dụng CNTT trong trường THPT Xuân Lộc có hiệu quả hơn trong các năm học sắp
tới nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường THPT Xuân Lộc
trong thời gian tới.

Phương pháp này được sử dụng để tiến hành điều tra nắm bắt thực trạng ứng
dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học, quá trình quản lý.
4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này dùng trong quá trình thăm dò, tổ chức dạy thực nghiệm,
đánh giá hoạt động dạy học để xác định tính hợp lí, khoa học của các biện pháp
Ứng dụng CNTT đã đề xuất, từ đó khẳng định tính khả thi của sáng kiến.
4.4. Phương pháp thống kê
Chúng tôi dùng phương pháp này nhằm để xử lí các số liệu đã thu thập được
trong quá trình điều tra, khảo sát cũng như quá trình thực nghiệm.
4.5. Một số phương pháp khác
Ngoài 4 phương pháp chủ yếu trên, chúng tôi còn sử dụng một số phương
pháp nhằm giúp cho việc triển khai đề tài thuận lợi như phương pháp so sánh đối
chiếu, sơ đồ hóa hoặc mô hình hóa…
5. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 5 năm 2013.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.Cơ sở lý luận
1.1. Công nghệ thông tin
“Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông –
nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất
phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. (Theo Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ
Việt Nam).
Luật Công nghệ thông tin của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam số 67/2006/ Ngày 29 Tháng 6 Năm 2006 đã giải thích “ Công nghệ
thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật
hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”.

Tri thức Nhóm Thích nghi P. chiếu + mạng
Trong các mô hình đã nêu, mô hình “tri thức” là mô hình giáo dục hiện đại
nhất, hình thành khi xuất hiện thành tựu mới quan trọng nhất của CNTT và truyền
thông là mạng Internet. Mô hình mới này đã tạo nên nhiều sự thay đổi trong giáo
dục.
1.2.2. Thay đổi chất lượng giáo dục
CNTT được ứng dụng trong giáo dục đã làm thay đổi lớn về chất lượng giáo
dục. Việc ứng dụng CNTT trong quản lý giúp các nhà quản lý nắm thông tin một
cách nhanh chóng, chính xác, đáng tin cậy từ đó các nhà quản lý kịp thời ra được các quyết định quản lý chính xác, phù hợp. Mặt khác những ứng dụng CNTT trong
dạy học giúp GV nâng cao chất lượng giảng dạy, người họcdễ dàng tiếp nhận
những kiến thức mới. Ngoài ra, mạng internet cũng là phương tiện giúp học sinh
tra cứu, tìm hiểu, cập nhật tri thức và tự kiểm tra trình độ của bản thân, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục.
Do tầm quan trọng của CNTT trong việc nâng cao chất lượng giáo dục,
Chỉnh phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quan tâm chỉ đạo, định hướng việc ứng
dụng CNTT trong trường học từ rất sớm. Ngày 10/04/2007, Chính phủ đã có Nghị
định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà
nước. Sau đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo có văn bản gửi các cơ sở giáo dục và đào
tạo yêu cầu thực hiện tốt nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục,
giai đoạn 2008 – 2012, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.
Từ năm học 2007 – 2008, căn cứ nhiệm vụ năm học, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã có Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học về CNTT. Đặc biệt năm học
2008 – 2009 được Bộ GD&ĐT lấy làm năm học Công nghệ thông tin. Một trong
những nhiệm vụ về CNTT năm học 2011 – 2012 là “Đẩy mạnh việc ứng dụng
CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học. Giáo
viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở)

Năm học 2012- 2013, ngoài tổ Tin, GV toàn trường thực hiện 311 tiết dạy
ứng dụng CNTT( Tóan: 14 tiết, Lý- CN: 87 tiết, sử -địa- GDCD: 56 tiết, tổ văn: 48
tiết, Tổ Hóa – Sinh: 93 tiết, Tổ Anh văn:13 tiết).
2 .2. Điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn
2.2.1. Điểm mạnh
Lãnh đạo nhà trường luôn quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong nhà
trường, động viên và tạo điều kiện cho GV thực hiện việc ƯDCNTT nhằm thúc
đẩy việc đổi mới giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục góp phần xây dựng uy
tín thương hiệu của trường, củng cố niềm tin của học sinh và phụ huynh đối với
chất lượng của trường.
Đội ngũ GV của trường100% đạt chuẩn trong đó có hơn 4% trên chuẩn, hơn
50 % giáo viên ở vào độ tuổi nghề từ dưới 5 năm đến 10 năm dễ dàng tiếp cận xu
hướng giáo dục hiện đại, phần lớn trong số này biết sử dụng CNTT như một công
cụ đắc lực để hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý, góp phần
nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.
Tập thể sư phạm trong nhà trường đoàn kết đồng lòng, sẵn sàng hỗ trợ nhau để
hoàn thành nhiệm vụ cũng như mục tiêu hoạt động của nhà trường.
2.2.2. Điểm yếu
Một số GV tuy còn trẻ nhưng chưa nhiệt tình trong việc ƯD CNTT trong dạy
học, chỉ mới ứng dụng CNTT đơn thuần trong soạn giáo án ngoài ra chưa thật sự
đầu tư công sức thời gian trong thực hiện bài giảng điện tử hay tìm kiếm tài liệu
phục vụ cho công tác giảng dạy.
Một số GV do hoàn cảnh lịch sử nên dù có thâm niên công tác nhưng hiệu quả
làm việc chưa cao, ngại khó trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, cách ứng
dụng công nghệ thông tin.
2.2.3.Thuận lợi Từ năm học 2011 – 2012, Bộ đã hướng dẫn các cơ sở giáo dục một số nội
dung liên quan đến công tác quản lý:

2.3.2. Ứng dụng trong thực hiện bài giảng
Trong năm học 2012- 2013, nhiều giáo viên trong trường sử dụng bài giảng điện tử
cùng các trang thiết bị khác như máy tính, máy chiếu (projector) như một phương
tiện dạy học tích cực. Bài giảng điện tử và các trang thiết bị này có thể coi là
những công cụ dạy học đa năng có tác dụng thay thế cho các công cụ dạy học truyền thống như tranh vẽ, bản đồ, mô hình…hay các công cụ hiện đại như
cassette, ti vi, đầu video, giáo viên không thể không sử dụng các phương tiện dạy
học hiện đại. Công nghệ thông tin còn cung cấp cho chúng ta những phương tiện
dạy học hiện đại khác như smart board (bảng thông minh), mạng nội bộ, các phần
mềm dạy học, các trang web…
Ưu điểm của việc thiết kế bài giảng điện tử và giảng dạy trên máy tính là,
tiết học trở nên sinh động hơn, GV tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách
dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần một số thao tác trên máy tính, vài giây
sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm
thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh, giúp học sinh
tiếp thu bài giảng dễ dàng. Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời
gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong
giờ học.
Tuy nhiên, do trình độ về CNTT của GV trong trường không đồng đều việc
ứng dụng vẫn còn nhiều hạn chế như muốn ứng dụng CNTT trong dạy học, GV
phải có những hiểu biết nhất định về CNTT, phải sử dụng thành thục máy tính.
Nhiều GV ứng dụng CNTT một cách hình thức, không có sự chọn lọc cho đúng
tính chất, nội dung bài học. Vì thế có những tiết dạy có ứng dụng CNTT còn nặng
tính chất trình diễn với nhiều hình ảnh, hiệu ứng rối mắt thái quá làm giờ học trở
nên nặng nề và hiệu quả không như mong muốn. Cách sử dụng màu chữ và hình
nền chưa khoa học. Hiện nay có không ít GV lạm dụng công nghệ thông tin, trong
giờ dạy đưa quá nhiều hiệu ứng, tranh ảnh không đúng lúc khiến cho giờ dạy biến
thành giờ triển lãm ảnh nên không phát huy được tính tích cực của HS trong giờ

III.Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Để việc ứng dụng CNTT trong nhà trường thật sự có hiệu quả, với vai trò là
nhà quản lý chúng tôi đã căn cứ vào các văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo, văn
bản của Sở giáo dục và Đào tạo để xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT ngay từ
đầu năm học. Việc xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT vào nhà trường được thực
hiện theo các nguyên tắc và trình tự của một kế hoạch. Trước hết là phần thu thập
thông tin (chương trình năm học, đội ngũ giáo viên, thực trạng ứng dụng CNTT
trong nhà trường năm học vừa qua), sau khi thu thập đủ thông tin, tiếp tục phân
tích tình hình để chỉ ra những cái làm được, chưa làm được của năm học trước về
ứng dụng CNTT, nguyên nhân; những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn,
mục tiêu, giải pháp thực hiện CNTT trong năm học mới. Trên cơ sở kế hoạch
chung của nhà trường về việc ứng dụng CNTT, hiệu trưởng yêu cầu lập kế hoạch
của tổ và của từng cá nhân. Kế hoạch tổ chuyên môn được xây dựng cụ thể, có chỉ
tiêu phấn đấu, phân công trách nhiệm, trong kế hoạch cá nhân, mỗi người tự xây
dựng kế hoạch cá nhân về việc thực hiện ứng dụng CNTT vào công việc mình phụ
trách,kế hoạch đó thông qua tổ chuyên môn và được tổ trưởng giám sát, hiệu
trưởng và các phó hiệu trưởng thường xuyên theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra việc thực
hiện kế hoạch.
1. Ứng dụng trong soạn thảo giáo án
Hiện nay có nhiều phần mềm soạn thảo giúp cho giáo viên soạn thảo giáo
án, trong đó phần mềm thông dụng nhất hiện nay là MS Word trong bộ Officce của
Microsoft. Tuy nhiên, để sử dụng MS word một cách hiệu quả, ngoài thao tác cơ
bản, giáo viên được các đồng nghiệp có chuyên môn hỗ trợ thêm cách sử dụng một số tính năng nâng cao: Chèn tự động đoạn văn bản, lưu vết, trộn thư, tạo thẻ đoạn
mục lục, vẽ hình đơn giản để giáo án trở nên rõ ràng, khoa học hơn.
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo có chỉ đạo việc khai thác, sử dụng bộ
phần mềm Open Office Org trong soạn thảo giáo án, nhà trường phân công một
giáo viên dạy vi tính chịu trách nhiệm tổ chức hướng dẫn cho giáo viên sử dụng.

Ngoài ra GV còn có thể sử dụng phần mềm Minmap để trình bày các nội dung
giảng dạy một cách đơn giản, trực quan bằng cách xây dựng sơ đồ, hình ảnh. Khi sử dụng MM để học hay ghi chép, HS dùng các từ khoá. rút ra được các từ then
chốt, HS cần phải chú ý và tham gia vào bài học, qua đó nắm .được nội dung cơ
bản của bài học, tăng khả năng hiểu bài và ghi nhớ.
Như vậy, ưu điểm nổi bật của MM là đem đến cho HS những lợi ích cụ thểtrong
quá trình học tập: nắm được những nội dung cơ bản của bài học, hệ thống nội dung
kiến thức và biểu thị bằng sơ đồ, ghi nhớ nội dung học tập một cách sâusắc, rèn
luyện kỹ năng lập dàn bài khi đọc SGK. Từ việc sử dụng sơ đồ, HS dễdàng nắm
vững vấn đề, biểu thị bằng sơ đồ các biện pháp giải quyết. Ban đầu sẽ gặp khó
khăn khi tập cho HS xây dựng MM nhưng khi đã thành thói quen, HS sẽ rất thích
thú sử dụng trong học tập và hình thành thói quen tốt trong làm việc sau này.
Ví dụ sử dụng Mindmap trong giảng dạy tiếng Việt 11, bài Đặc điểm loại hình tiếng
Việt
Việc GV lập MM về nội dung các bài Tiếng Việt trong chương trình giúp
HS có cái nhìn tổng quan về toàn bộ bài học, xác định được những kiến thức cần
tái hiện và xây dựng trước khi bước vào bài học.
GV nêu vấn đề bài học đưa ra và tổ chức cho HS thảo luận tìm chủ điểm
chính, nghiên cứu SGK tìm các tiêu đề phụ để lập MM giúp HS chủ động, tích
cực, độc lập và sáng tạo hơn trong quá trình tham gia hoạt động nhận thức. Xét về
mặt kiến thức, các bài tiếng Việt là những kiến thức được tích hợp dọc từ chương
trình các lớp dưới hoặc tích hợp ngang ở các bài đọc văn trong chương trình ẵn
một cách hệ thống và cụ thể chứ không phải là sự yêu cầu học sinh phải sáng tạo ra
những gì mới mẻ, độc đáo. Do vậy, việc GV dùng những câu hỏi gợi dẫn giúp HS
thiết lập được các tiêu đề phụ trong MM là rất cần thiết, tránh tình trạng lan man
khiến MM trở nên rối rắm, khó theo dõi. Tuy nhiên, thay vào đó, có thể cho phép
HS thoải mái thể hiện tư duy sáng tạo qua hình thức trình bày MM bằng các hình
ảnh và màu sắc giúp cho việc học trở nên hứng thú hơn.


Khi thiết kế bài giảng điện tử GV phải biểu tượng hóa nội dung, nhất quán
trong thiết kế, không nên ra nhiều ý tưởng trong một slide, lựa chọn hiệu ứng, hình
ảnh minh họa tránh gây phân tán sự chú ý của HS, chọn màu nền, màu chữ thích
hợp, tránh chọn màu nền lấn áp màu chữ, trong bài giảng phải có chèn ảnh,chèn
hình, phải có siêu liên kết, nhất là liên kết với video clip mang nội dung bài giảng .
Giáo viên phải có kỹ năng khai thác và sử dụng internet, biết vào các trag
web có liên quan đến bộ môn để khai thác hình ảnh, tải các đoạn phim phục vụ cho
bài giảng, sử dụng các phần mềm liên quan đến bộ môn.
3. Xây dựng thư viện tư liệu.
Để phục vụ cho công tác giảng dạy, kho tư liệu là điều kiện cần thiết và đặc
biệt quan trọng. Nhưng hiện nay ở một số bộ môn như môn văn, các đồ dùng trực
quan hầu như không có, tranh ảnh minh họa trong sách giáo khoa không nhiều.
Chính vì vậy bản thân giáo viên phải chú trọng xây dựng thư viện tư liệu phục vụ
tốt cho công tác giảng dạy.
- Trước đây giáo viên xây dựng kho tư liệu bằng cách đọc, tham khảo tài
liệu, sách, báo và chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tích lũy chuyên môn.
- Hiện nay việc ứng dụng CNTT giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệu
thuận lợi, phong phú, khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước đây.
Việc khai thác tư liệu có thể lấy từ các nguồn:
+ Khai thác thông tin, tranh, ảnh, tư liệu bài giảng từ mạng Internet
Chẳng hạn như thư viện bài giảng điện tử Violet: http://baigiang.violet.vn/ (Hinh
1)
+ Khai thác tranh ảnh từ sách, tài liệu, báo chí, tạp chí
Trong quá trình tham khảo sách, báo, tài liệu gặp những tranh, ảnh đặc biệt
cần thiết, có thể dùng máy Scan quét ảnh và lưu vào USB, cuối cùng cập nhật vào
kho tư liệu của mình để phục vụ cho quá trình giảng dạy.
+ Khai thác từ băng hình, phim video, các phần mềm, tranh ảnh, bản đồ,
hình vẽ thông qua chức năng cung cấp thông tin của máy tính
Ví dụ: Khai thác các đoạn phim về các tác giả văn học, các tác phẩm văn

tiếp cận rất nhanh, sử dụng thành thạo nhiều phần mềm vi tính. Đặc điểm nổi bật ở
các em học sinh hiện nay là tính năng động, sáng tạo và yêu thích cái mới. Do vậy
việc hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT phục vụ cho phương pháp học tập là
điều nên làm và cũng là xu hướng chung trong giáo dục thời đại hiện nay.
- Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh địa chỉ một số trang web và yêu
cầu các em tìm kiếm thông tin ở mạng internet để phục vụ công việc học tập theo
từng chủ đề, từng yêu cầu của môn học Ví dụ trong môn văn có thể hướng dẫn các
em lên mạng sưu tầm tài liệu về tác gia Nguyễn Ai Quốc – Hồ Chí Minh hay sưu
tầm một số tác giả, tác phẩm văn học giai đoạn 1945 – 1975 hoặc sưu tầm các đề
kiểm tra, ôn tập …
- Từ các tài liệu mà các em sưu tầm được, giáo viên cũng có thể hướng dẫn
học sinh tập thuyết trình về bài học chẳng hạn bài 57 của môn Sinh: Mối quan hệ
dinh dưỡng, hoặc ngoại khóa môn địa, đề tài Biển- Đảo quê hươn, môn Hóa với
bài Hóa học và môi trường hoặc một tác phẩm văn học … kết hợp trình chiếu bằng
Powerpiont hay Violet. - Giáo viên có thể vận dụng phương pháp dạy học theo dự án của Intel
Teach to the Future (Chương trình dạy học cho Tương lai của Intel), phương pháp
này đòi hỏi học sinh vừa làm việc theo nhóm vừa ứng dụng CNTT trong quá trình
học tập để thiết kế ba bài tập: Bài trình diễn PowerPoint, trang web và ấn phẩm (tờ
rơi) để thực hiện ý tưởng dự án của mình. Tuy nhiên, để thực hiện phương pháp
này đòi hỏi giáo viên phải được tập huấn các nội dung của Chương trình dạy học
cho Tương lai của Intel và hướng dẫn cho học sinh ứng dụng CNTT để thực hiện
các yêu cầu của chương trình phục vụ cho quá trình học tập
- Một số trang web như hocmai.vn, nguoithay.org có những bài giảng trực
tuyến, bài thi thử, diễn đàn thảo luận, học sinh có thể vào các trang ấy để tự học, tự
bồi dưỡng kiến thức.
5. Quản lý GV ứng dụng CNTT
- Xây dựng tiêu chí đánh giá một bài giảng điện tử:

sử dụng công cụ đa phương tiện như: âm thanh, hình ảnh màu sắc, hiệu ứng phải
hợp lý, không qúa lạm dụng kỹ năng biểu diễn thông tin của máy tính. Bài giảng
phải dễ sử dụng, dễ bổ sung hoạt điều chỉnh, có khả năng thích ứng tốt với các thế
hệ máy tính, các hệ điều hành khác nhau.
- Đối với giáo viên, việc soạn bài v
ới những ứng dụng của CNTT cũng
mang lại những hiệu quả khác biệt. Bản thân giáo viên phải thường xuyên c
ập nhật
kiến thức về chuyên môn và Tin học để tự nâng cao tay ngh
ề. Đặc biệt khi bắt tay
vào soạn một bài dạy có vận dụng CNTT, giáo viên thật sự bị cuốn hút v
à càng
làm nhiều thì càng thích thú và nảy sinh thêm nhiều ý tưởng. Từ đó lòng yêu ngh

và sự sáng tạo cũng được bồi đắp.
-Lợi ích quan trọng nhất là học sinh hứng thú năng động hơn v
ới các tiết dạy
có ứng dụng CNTT
Tuy nhiên mức độ hứng thú và tiếp thu bài hi
ệu quả của học sinh trong
những giờ học có ứng dụng CNTT còn phụ thuộc vào chất lượng của giờ dạy.6. Những kinh nghiệm bước đầu từ việc ứng dụng CNTT trong dạy học
- Việc ứng dụng CNTT có ý nghĩa rất tích cực nhưng không phải b
ài nào
trong chương trình cũng đều có thể ứng dụng CNTT để giảng dạy được. V
à đương
nhiên không phải bất cứ tiết nào, bài nào cũng biến thành giáo án điện tử để tr
ình

đắc lực cho đổi mới phương pháp dạy học, bởi vì quá trình giáo dục con ngư
ời
không thể “công nghệ hóa” hoàn toàn được, có nhiều mặt giáo d
ục không thể quy
trình hóa được như giáo d
ục nhân văn, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ Xác
định điều này, trong quá trình giảng dạy giáo viên tránh l
ạm dụng CNTT, xem
CNTT là độc tôn, là duy nhất.
- Để ứng dụng CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả
cao, giáo viên phải thường xuyên không ngừng tự học để nâng cao trình độ chuy
ên
môn mà còn phải nâng cao khả năng sử dụng CNTT.
V. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Việc ứng dụng CNTT bước đầu đã đem lại nhiều kết quả đáng khích lệ
Giáo viên đã chịu khó đầu tư trong việc nghiên cứu soạn giảng, các bộ giáo án qua
từng đợt kiểm tra ngày càng có chất lượng từ nội dung bài soạn đế cách trình
bàycác mẫu văn bản, phòng CNTT lúc nào cũng có GV vào tìm kiếm tư liệu chuẩn
bị cho các bài giảng, việc soạn các bài giảng điện tử cũng không còn là vấn đề khó
khăn, số lượt phòng chiếu GV muợn trung bình trong tháng từ 15 đến 20 lần mỗi
phòng. Mỗi tổ đều có phân công người chịu trách nhiệm xây dựng các ngân hàng
tài liệu, các giáo viên trong tổ cùng trao đổi và chia sẻ thông tin có liên quan đến
bài giảng, bộ phận tin học luôn tận tình và sẵn sàng giúp đỡ hỗ trợ GV trong soạn
giảng cũng như trong hướng dẫn tìm kiếm tài liệu trên các trang web.Học sinh tỏ ra
thích thú với việc học theo phương pháp mới này (thông qua kết quả khảo sát và
qua trao đổi trò chuyện với GV, thông qua sự tham gia của học sinh tại các phòng
máy ở thư viện).
Kết quả bước đầu:
a) Những con số (Số liệu được tổng hợp qua phiếu thăm dò ý kiến, bài test
và kết quả các bài viết của học sinh lớp 12C8 và 12C1 trường THPT Xuân L:ộc

Có nhiều tư liệu phong phú 8 7
Được tự trình bày với máy vi 2 tính
Được chơi trò chơi 8 1
Nhiều hình ảnh, hiệu ứng
đẹp
8 2
Khó ghi chép nội dung bài 0 5
Không rõ lí do 0 1 5
TỔNG SỐ
51
(63,8%)

18
(22,5%)

6
(7,5%)
5
(6,2%)
Bảng 2: Số liệu về khả năng ghi chép bài của học sinh trong giờ học có ứng
dụng CNTT.
Đối tượng
điều tra
Ghi bài đầy đủ Ghi bài chưa đầy đủ Không ghi được bài
80 học sinh
lớp 12C1,
12 C8

từ 5,0 trở lên
Ghi chú
Số lượng

Tỷ lệ %
2011-2012
12C1 38 19
50
Sử dụng phương tiện dạy
học truyền thống

12C8 42 30 71,42
12C1 38 22
57,89
Có ứng dụng CNTT 2012 – 2013

(Học kỳ II)
12C8 42 40
95,23

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Đề tài này đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả tại trường THPT Xuân
Lộc. Trên cơ sở đó, đề xuất:
+ Xây dựng ngân hàng tài nguyên học tập :
Ngân hàng tài nguyên học tập bao gồm các loại học liệu điện tử liên quan đến quá
trình dạy và học như: đề cương bài giảng, bài giảng điện tử, gíáo trình điện tử, bài
trắc nghiệm, bài tập tình huống,tài liệu tham khảo, các liên kết truy cập vào các

kế thí nghiệm hoặc làm bài tập .
Chọn tổ bộ môn tiêu biểu làm điểm về ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học thông qua thiết kế bài giảng điện tử ở một số môn học; tổ chức xây dựng
chuyên đề một số tiết dạy minh hoạ cho các giáo viên học tập, trao đổi kinh
nghiệm .
- Nhà trường cần tăng cường trang bị đầy đủ máy tính, máy chiếu để phục
vụ hiệu quả cho việc dạy học ứng dụng CNTT.

NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên) Trần Thị Kim Tân
TT trong THCS”-Mã số 2005-53-27.TĐ (2007)
9. Đào tạo Thái lai (2004),”Các tiêu chí đánh giá việc ứng dụng CNTT-TT
trong giáo dục phổ thông”,Tạp chí giáo dục,(79).
10. Hoàng Lê Minh (2005), Công nghệ thông tin và con người, NXB Văn hóa
thông tin.
11. (2007), Nghị định số 64 của chính phủ về Chính phủ về ứng dụng công nghệ
thông tin trong hoạt độngcủa cơ quan Nhà nước.
12. Nghị định Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII
về định hướng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
13. (2004), Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX, Đảng CSVN, 2004.
14. Ngô Quang Sơn (2007),”Ứng dụng CNTT-TT trong quản lý trường THCS-
Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí giáo dục,(147).
15. Vũ Đình Chuẩn , Giáo dục và đào tạo Đà Nẵng hướng tới mô hình giáo dục
điện tử, Tham luận Hội thảo quốc gia “Một số vấn đề chọn lọc của công
nghệ thông tin và truyền thong-Chủ đề: Giáo dục điện tử”, Viện công nghệ
Thông tin và Đại học Đà Nẵng phối hợp tổ chức,8/2004.

Họ và tên tác giả: TRẦN THỊ KIM TÂN
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị: .Trường THPT Xuân Lộc.
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực
khác)
BM04-NXĐGSKKN - Quản lý giáo dục  - Phương pháp dạy học bộ môn:

- Phương pháp giáo dục  - Lĩnh vực khác:

Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong
Ngành 
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới 
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách: Tốt  Khá  Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt  Khá  Đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status