Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRONG
GIẢNG DẠY MÔN HOÁ HỌC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ô nhiễm môi trường làm biến đổi khí hậu toàn cầu, gây thiên tai, hạn
hán, bão lụt, lốc xoáy, làm tổn hại đến đời sống cũng như sức khoẻ của con
người và làm diệt vong một số loài sinh vật…. Có 3 dạng ô nhiễm môi trường
chính là ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí.
Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường là do con người. Do
vậy muốn bảo vệ môi trường trước hết cần phải thay đổi sự tác động của con
người đối với môi trường, mà việc đầu tiên cần làm là thay đổi những nhận
thức, suy nghĩ để con người có những hành động cụ thể có ích đối với môi
trường.
Là nền tảng của giáo dục quốc dân với số lượng học sinh, sinh viên
chiếm 20% dân số sẽ góp phần tích cực làm giảm ô nhiễm môi trường nếu độ
ngũ này có ý thức, hành vi và thói quen thường ngày về vấn đề bảo vệ môi
trường.
Hoá học là môn khoa học nghiên cứu thành phần, tính chất, ứng dụng,
sự biến đổi giữa các chất, sản xuất các chất. Do đó hoá học có vai trò rất lớn
trong việc giáo dục bảo vệ môi trường đặc biệt đối với học sinh trung học phổ
thông . Đưa các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến môi trường vào bài học
không những giúp các em học sinh say mê hứng thú học tập, tạo niềm tin
khoa học và yêu thích môn hoá mà còn giúp các em hiểu biết thêm về môi
trường từ đó ý thức bảo vệ môi trường được nâng cao và biến thành những
hành vi, những thói quen hàng ngày, những hành động cụ thể thường xuyên
liên tục ở bất cứ nơi nào như gia đình, nhà trường và xã hội để môi trường
sống luôn xanh - sạch - đẹp.
Để đạt được mục đích này thì giáo viên dạy hoá học ở trường trung học
phổ thông là nhân tố tham gia có vai trò quyết định đến việc hình thành ý thức
và hành động bảo vệ môi trường cho các em học sinh. Do vậy ngoài những
con người và sinh vật” ( Điều 3 luật bảo vệ môi trường năm 2005)
Môi trường là không gian sinh sống cho con người cũng như thế giới
sinh vật, là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống sản
xuất của con người. Trong vài thập niên trở lại đây sự phát triển nhanh chóng
như vũ bão về khoa học kỹ thuật, về kinh tế xã hội đã mang lại cho đời sống
vật chất và tinh thần của con người được nâng lên, các dịch vụ được phục vụ
tốt hơn… thế nhưng kèm theo những mặt tích cực đó là không ít những hệ
quả nghiêm trọng mà đầu tiên phải kể đến vấn đề ô nhiễm môi trường.
Bảo vệ môi trường là việc làm của toàn thể nhân loại trong tất cả mọi
lĩnh vực khác nhau. Trong đó ngành giáo dục cũng một góp phần không nhỏ.
Việc truyền đạt kiến thức khoa học của mỗi môn học cho học sinh là điều
quan trọng, song việc vận dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống để
giải quyết những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường cũng rất cần thiết.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Ngày nay ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) đang là vấn đề
báo động của toàn thể nhân loại, dẫn đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu làm
ảnh hưởng đến sự sống sự sinh tồn của con người và nhiều loại động thực vật
trên trái đất.
Trong tình hình hiện nay đổi mới phương pháp dạy học hoá học đã và
đang thực sự mang lại kết quả cao trong mỗi giờ học. Việc đổi mới phương
pháp đồng thời giáo dục môi trường cho học sinh cũng là điều rất cần thiết.
Thực tế giảng dạy cho thấy: Môn hoá học trong trường phổ
thông là một môn có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Nếu mỗi giáo
viên có cách thức, phương pháp phù hợp, biết liên hệ thực tiễn đưa các vấn đề
Trường THPT Bắc Sơn
Giáo viên: Lê Thị Hương
3
Trường THPT Bắc Sơn
Giáo viên: Lê Thị Hương
4
Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học
4. Lấy ví dụ cụ thể về các hiện tượng thực tiễn trong các buổi hoạt động
ngoại khoá để giúp học sinh cũng cố lại bài đồng thời thực hành bảo vệ môi
trường ngay trong buổi ngoại khoá.
2. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Để thực hiện được mục đích này giáo viên có thể dùng nhiều phương
tiện và cách thức khác nhau như: bằng lời để giải thích,bằng tranh ảnh, hình
ảnh minh hoạ, đoạn video, bằng thực tế về môi trường sống xung quanh …
thông qua giảng dạy trực tiếp hoặc dùng phương tiện máy chiếu, máy chiếu
đa năng…Tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nhà trường, khả năng
truyền đạt của mỗi giáo viên, khả năng tiếp thu của từng đối tượng học sinh
mà mỗi giáo viên có thể vận dụng một cách linh hoạt vấn đề này nhằm đạt
được hiệu quả cao nhất về giáo dục môi trường.
Có vô vàn những hiện tượng thực tiễn liên quan đến môi trường,
nhưng với sáng kiên này tôi chỉ áp dụng một số vấn đề điển hình. Dưới đây là
bảng tích hợp một số hiện tượng trong các bài học có liên quan đến môi
trường:
Nội dung giáo dục
được tích hợp
Giải thích hiện tượng
giao thông
kèm theo axit, chủ yếu SO2, NO, NO2, … các khí Mục I.4:
bằng các
là H2SO4 và bên cạnh này tác dụng với ôxi và Sản xuất
phương
đó là axit HNO3. Mưa hơi nước trong không khí axit
tiện cá
axit là nguồn ô nhiễm nhờ xúc tác là ôxit kim sunfuric
nhân nên đi
chính của một số nơi loại ( có trong khói bụi
xe buýt
trên thế giới, nó làm nhà máy) hoặc ôzon tạo Hoặc
công cộng.
Trường THPT Bắc Sơn
Giáo viên: Lê Thị Hương
Điều chế
không
đá vôi, đá phiến ( có 2NO + O2
2NO2
thành phần chính là 4NO2 + O2 + 2H2O
trong công được vứt
CaCO3), đặc biệt là
nghiệp
4HNO3
bừa bãi.
các công trình làm
bằng kim loại.
Sự phú dưỡng là
Do sự thâm nhập một Bài 45:
gì?
hiện
Lớp 12
P cao, tỷ lệ P/N cao trở thành hiện tượng phổ Mục I.2
nguồn
do sự tích luỹ tương biến ở hầu hết các nước Ô nhiễm
nước ở mọi
đối P so với N, sự trên thế giới.
môi
nơi.
yếm
trường
khí
và
môi
trường khử của lớp
nước
nước đáy thuỷ vực, sự
phát triển mạnh mẽ
Tại sao vào những Dưới tác dụng của men Lớp 11
- Sử dụng
ngày nắng đi gần các ureaza của các vi sinh vật, Bài 12:
phân đạm
sông hồ bẩn người ta ure bị phân huỷ thành Phân bón
hợp lí,
thường
ngửi
thấy CO2 và NH3.
mùi khai?
(NH2)2CO + 2H2O
Khi nước sông, hồ bị
CO2 + 2NH3
ô nhiễm nặng bởi các Lượng NH3 sinh ra hoà
hoá học
Bài 38:
Cân bằng
hoá học
Mục III.3:
ảnh hưởng
của nhiệt
độ
- Không
thải nước
tiểu, phân
hữu cơ, rác
thải hữu cơ
… xướng
ao, hồ.
sinh ra do phản ứng phân
huỷ, ure không bị hoà tan
trong nước mà bị tách ra,
bay vào không khí xung
quanh
sông,
hồ
làm
không khí có mùi khai.
từ
mặt
trời lượng lớn làm suy thoái
- Hạn chế
chiếu xuống trái đất. tầng ôzon. Hoá chất chủ
dùng các
Khi tầng ôzon bị tổn yếu là chất CF CFC
bao bì bằng
thương khí ôzon sẽ (cloroflorocacbon),
nhựa xốp,
được giải phóng ra bề halogen,
nilon nếu
mặt trái đất nhiều hơn cacbontetraclorua,
dùng nên
gây ảnh hưởng lớn metylbromua….Ngày nay
vật trên trái đất, làm
tăng nhiệt độ trái đất,
băng tan, lũ lụt, hạn
hán, mất mùa và nhiều
hiểm hoạ khác cho
Trường THPT Bắc Sơn
Giáo viên: Lê Thị Hương
8
Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học
con người và sinh vật
trên trái đất.
Hiện tượng sương Nguyên nhân cơ bản cũng Lớp 12
- Không
là do các lọai khí thải Bài 45:
mù quang hoá:
đốt các loại
là một dạng ô nhiễm trong công nghiệp và Hoá học
chất thải
Mục I.1
đưa về nơi
quang hóa làm giảm
Ô nhiễm
tái chế.
tầm nhìn, gây hại đối
môi
- Luôn giữ
với
trường
cho không
không khí
khí trong
chất
sức
lá.
cây trồng …
Vì sao phải trông Khi đi qua những cánh Lớp 12
cây xanh? Vì sao rừng ta thấy không khí Bài
phải bảo vệ rừng?
- Tích cực
6: trồng cây
nơi đây thật dễ chịu là đó Saccarozơ, xanh ở gia
Rừng là nơi sinh sống là do cây xanh trong quá tinh bột và đình, nhà
của nhiều loài động trình quang hợp đã hấp xenlulozơ. trường và
vật, là lá phổi xanh thụ khí CO2 và nhả ra khí
của trái đất có tác oxi
Trường THPT Bắc Sơn
nơi công
Mục II.2:
cộng.
Giáo viên: Lê Thị Hương
9
Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học
bảo vệ thực vật:
phần được thực vật hấp Phân bón
thụ, một phần được đất hóa học
- Sử dụng
Để tăng năng suất cây giữ lại, nhưng một phần ( GV mở
phân bón
trồng, ở trên thế giới tương đối lớn bị rửa trôi.
hoá học và
cũng như ở nước ta có
bài hoặc
Thuốc bảo vệ thực kết bài)
thuốc bảo
xu hướng tăng cường vật cũng gây ảnh hưởng Lớp 12
vệ thực vật
sử dụng các chất hoá xấu cho môi trường và Bài 45:
hợp lí.
bệnh Ô nhiễm
kháng thuốc và là nguyên môi
nhân bùng nổ nạn rầy trường
nâu, bệnh đạo ôn ở một đất.
số vùng.
Ô nhiễm đất do
chất
Các chất thải rắn Lớp 12
công công nghiệp gây ô nhiễm Bài 45:
thải
nghiệp và sinh hoạt:
lớn cho đất. Đặc biệt Hoá học
- Không đổ
nước thải
ra đường,
Khoa học kỹ thuật nghiêm trọng là các chất và vấn đề
phố, các
càng phát triển thì các thải công nghiệp làm ô môi
nơi công
chung, môi trường đất CO2,
thống bể tự
SO2…cuối
cùng trường
nói riêng cũng bị ô chúng cũng sa lắng xuống đất.
nhiễm trầm trọng.
môi trường đất.
hoại, hầm
chứa hoặc
Hằng ngày con người và
cho nước
động vật thải ra một khối
thải vào hệ
lượng rất lớn các chất phế
thống thoát
thải vào môi trường. Đó
tượng suy thoái đất dụng đất đai trong các môi
mòn.
đai ở những vùng khô ngành chăn nuôi gia súc, trường
- Không
cằn, gây ra bởi sinh canh tác ruộng đất, phá môi
sinh sống
hoạt con người và rừng, đốt đồng, trữ nước, trường
theo hình
biến đổi khí hậu.
khai giếng, tăng lượng thổ Mục I.3
thức du
diêm (soil salinity) và Ô nhiễm
canh, du
biến đổi khí hậu toàn cầu môi
cư.
các khu công nghiệp, các thành phố lớn và các khu khai thác khoáng sản.
Nước bị ô nhiễm kim loại nặng làm cho cá và các loại sinh vật khác không
sống được.
Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là do quá trình đổ vào
môi trường nước là nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không qua sử
lí hoặc sử lí không đạt yêu cầu.
Vấn đề 3: Sự phú dưỡng là gì?
Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô thị, các sông và
kênh dẫn nước thải. Biểu hiện phú dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất
dinh dưỡng N, P cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P so với N, sự
yếm khí và môi trường khử của lớp nước đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ
của tảo và nở hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc biệt là cá,
nước có màu xanh đen hoặc đen, có mùi khai thối do thoát khí H2S v.v...
Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ
nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi
trường hồ. Sự phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn nước thải gần
các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên
thế giới.
Vấn đề 4: Vì sao ngày nay không dùng xăng pha chì?
Xăng dùng cho các loại động cơ đốt trong như ôtô, xe máy là hỗn hợp
của các hiđrocacbon no ở thể lỏng ( từ C5H12 đến C12H26). Để tăng khả năng
chịu nén của nhiên liệu người ta thường pha thêm tetraetyl chì Pb(C2H5)4 và
nó sẽ tiết kiệm khoảng 30% lượng xăng sử dụng. Tuy nhiên việc pha thêm chì
vào xăng sẽ gây ô nhiễm đến môi trường không khí và sức khoẻ của con
người.
Đó là do khi cháy trong động cơ thì chì (II) oxit - PbO sinh ra sẽ bám
vào các ống xả, thành xilanh, nên thực tế còn trộn vào xăng chất 1,2 –
đibrômmetan CH2Br-CH2Br để chì (II) oxit - PbO chuyển thành muối PbBr2
Trường THPT Bắc Sơn
( gọi là vũ khí hoá học ) để rải xuống Việt Nam. Trong đó điển hình là các
chất hoá học sau:
- Chất đioxin (chất độc da cam): chất này tồn tại dạng sánh như dầu,
không tan trong nước…làm ức chế quá trình quang hợp của cây, làm ngưng
trệ quá trình hình thành chất diệp lục ở lá,quả làm cây ngừng lớn và chết.
Trường THPT Bắc Sơn
Giáo viên: Lê Thị Hương
14
Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học
Đioxin là nguyên nhân gây bệnh ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng
ở người.
- Chất trắng: Một chất diệt cỏ có tác dụng làm khô kiệt đất đai, diệt cỏ
và có khả năng tồn tại lâu dài trong đất.
- Chất xanh: Chất này tác dụng lên thực vật làm rút nước của lá cây,
gây héo úa cây cho đến chết trong vòng từ 2 đến 4 ngày.
- Chất hồng: Diệt cây loại lá rộng.
Vấn đề 7: Ô nhiễm đất do thảm hoạ địa hình
Miền núi, cao nguyên nước ta chiếm khoảng 67% diện tích cả nước, có
địa hình cao và dốc, có các yếu tố chia cắt ngang, chia cắt sâu, với chiều dài
sườn dốc lớn gây ra các trung tâm mưa lớn nhất nước, gây xói mòn đất là
nguyên nhân suy thoái môi trường đất.
Hiện tượng sạt lở đất không những làm mất đất dang sản xuất mà còn
làm cho một số khu sản xuất ở miền núi không ổn định. Ngoài ra do hiện
tượng phá rừng, đốt rừng, đời sống du canh, du cư cũng làm cho đất đồi núi
tăng thêm hiện tượng sạt lở, xói mòn đất.
như sau:
- Giúp học sinh có cách nhìn nhận đúng thế nào là môi trường xanh,
sạch, đẹp.
- Nâng cao ý thức và có hành động tích cực để bảo vệ môi trường ở gia
đình, nhà trường và nơi công cộng.
- Biết vận động mọi người xung quanh cùng tham gia bảo vệ môi
trường.
II.KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề không thể giải quyết trong
một khoảng thời gian nhất định nó cần phải có thời gian. Để giáo dục học sinh
trung học phổ thông có ý thức bảo vệ môi trường tốt hơn tôi đề nghị một số
vấn đề sau:
- Đối với Sở GD và ĐT: Cần trang bị thêm cho giáo viên nhiều tài liệu
tham khảo có liên quan đến môi trường, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và bảo
vệ môi trường…
-Đối với nhà trường: Tăng cường các hoạt động ngoài giờ lên lớp có
nội dung về vấn đề môi trường, tổ chức định kì các hoạt động dọn dẹp vệ sinh
trường lớp nhiều hơn …
- Đối với giáo viên: Phải có tâm huyết, nhiệt tình, kiên trì và luôn tìm
kiếm các thông tin, tư liêụ có liên quan đến môi trường để làm bài giảng thêm
Trường THPT Bắc Sơn
Giáo viên: Lê Thị Hương
16
Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học
phong phú đông thời luôn đổi mới phương pháp dạy học luôn lấy học sinh là
Trường THPT Bắc Sơn
Giáo viên: Lê Thị Hương
18