NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CỦA NHẬT BẠN CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG - Pdf 30

Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Khoa học x hội & Nhân Vănã
***** ***** ***** ***** *****
Khoa Đông Phơng học
Báo cáo khoa học
Đề tài
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Mông - Nguyên
và nghệ thuật quân sự của ngời Nhật Bản
1
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Về mục đích nghiên cứu
Nớc Nhật Bản thế kỷ XX đợc mọi ngời biết đến nh một quốc gia
phát triển mạnh mẽ, có nền kinh tế khổng lồ đứng hàng thứ hai trên thế giới.
Ngời ta cũng luôn nói rằng một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên
điều thần kỳ ấy chính là con ngời Nhật Bản - những con ngời cần cù, yêu lao
động và đặc biệt luôn mang trong mình tình yêu quê hơng, đất nớc nồng
nàn. Nếu nh trong Cách mạng Minh Trị (1868), bằng lòng tự hào dân tộc
mãnh liệt, ngời Nhật Bản đã quyết tâm canh tân đất nớc mình từ một nớc
nông nghiệp lạc hậu trở thành một quốc gia hùng cờng sánh vai cùng các c-
ờng quốc Tây phơng. Thì trong những năm tháng khổ cực sau đại chiến thế
giới thứ hai, cũng chính bằng tình yêu nớc thiết tha ấy, những con ngời xứ sở

đợc một số tài liệu đơn giản bằng tiếng bản ngữ, hoặc thông qua các bạn bè
ngời Nhật tôi có thêm đợc những tài liệu mới... Đặc biệt là nhờ sự hớng dẫn
tận tình của một tiến sĩ - ngời có chuyên môn nghiên cứu nhiều năm trong
lĩnh vực lịch sử Nhật Bản. Sau khi tìm hiểu các tài liệu có đợc, tôi nhận thấy
nguồn sử liệu tiếng Anh là phong phú hơn cả. Các học giả phơng Tây, đặc
biệt là hai nớc Anh, Mỹ đã viết rất nhiều sách nghiên cứu giá trị về lịch sử
Nhật Bản. Ngay các công trình nghiên cứu lớn của Nhật Bản, phần nhiều
cũng đợc dịch và xuất bản bằng tiếng Anh. Thêm vào đó, các độc giả Việt
Nam trong đó có cả tôi, xa nay vẫn chỉ quen tiếp xúc với các tài liệu tiếng
Việt và tiếng Anh. Vì lẽ ấy, trong báo cáo này tôi quyết định ghi chép các
tên ngời, địa danh... bằng phiên âm tiếng Anh, và một số, trong chừng mực
có thể tôi cũng cố gắng sử dụng tên phiên âm Hán-Việt để quen thuộc với
ngời Việt Nam chúng ta.
Với trình độ nhận thức của một sinh viên chắc chắn bài viết không
tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận đợc sự góp ý quý báu của thầy
cô và các bạn độc giả.
những nội dung chính
3
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Chơng I : Tình hình lục địa á Châu thế kỷ XIII và âm mu bành trớng
của đế quốc Mông Cổ.
I. Đế quốc Mông Cổ con đờng hình thành và phát triển.
II. Lục địa á-Âu dới vó ngựa xâm lăng của đế chế Mông Cổ
Chơng II : Nhật Bản hai lần kháng chiến chống quân xâm lợc Mông
-Nguyên.
I. Bối cảnh lịch sử Nhật Bản những năm trớc chiến tranh.

Quốc là một trong những cái nôi đầu tiên xuất hiện giống ngời hiện đại
Homosaphien. Giống ngời vợn Bắc Kinh đợc tìm thấy ở đây có niên đại gần
1,5 triệu năm, chắc hẳn các dân tộc Bắc á trong đó có ngời Mông Cổ chính
là hậu duệ của giống ngời này. Dân tộc Mông Cổ xuất hiện từ bao giờ không
có tài liệu nào ghi chép chính xác, nhng ngay từ thời Xuân Thu Chiến Quốc
ngời Trung Hoa đã phải xây Vạn Lý Trờng Thành vô cùng tốn kém để
phòng ngừa những đội kỵ binh của họ tới cớp phá. Cho tới tận thời trung đại,
trong khi những dân tộc láng giềng đã bớc vào thời phong kiến với tổ chức
xã hội tiến bộ thì ngời Mông Cổ còn đang sống du mục dới hình thức bộ lạc
5
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
hay liên minh các bộ lạc. Đến lúc này, họ vẫn chỉ là một dân tộc nhỏ bé cha
từng đợc lịch sử thế giới nhắc đến. Các bộ lạc du mục Mông Cổ sinh sống
trên vùng thảo nguyên Bắc á rộng mênh mông và hoang vắng, dân số của họ
cho tới giữa thế kỷ XIII vẫn chỉ khoảng 2,5 triệu ngời. Lãnh thổ bao gồm
phía Bắc tới tận hồ Baikal, thợng lu sông Yenisey và sông Irtysh, phía Nam
qua sa mạc Đại Qua Bích ( Gobi ) tới gần trờng thành. Họ có nhiều bộ tộc
nh Naimans ( Hung Nô ) ở phía Tây, Merkits ở phía Bắc ( Thổ hay Đột
Quyết )... đông nhất là tộc Tartar ( ngời Trung Quốc dịch âm là Thát Đát
) sinh sống bên bờ sông Onon ở phía Đông. Tài sản chủ yếu của họ là
các loài đại gia súc nh bò, dê, cừu, ngựa... thức ăn chính là thịt và sữa ngựa.
Ngựa đóng một vai trò thiết yếu trong đời sống của ngời Mông Cổ, họ có tới
hàng triệu con, cứ mùa Đông cỏ chết, họ rời xuống phía Nam, tới mùa hạ
thời tiết ấm áp lại lùa gia súc về phơng Bắc, không ngoa mà có thể nói rằng
ngời Mông Cổ sinh gia và lớn lên trên lng ngựa. Ngày này qua ngày khác,
họ chăn thả gia súc, săn bắt và chiến đấu trên lng ngựa, đó vừa là sinh kế

Thế kỷ XII, ngời Mông Cổ vẫn là bộ tộc lệ thuộc vào nớc Kim (
) của ngời Nữ Chân. Họ học đợc từ ngời Kim nhiều chiến thuật lợi hại.
Trong khi đó, bản thân ngời Kim lại bị Hán hoá nghiêm trọng, họ chuyển
sang sống định c, làm nghề nông và bắt đầu thích đọc sách, làm văn thơ
giống nh ngời Hán. Chẳng những cái hung bạo, thiện chiến đã mất đi mà họ
còn bị nhiễm nhiều thói xấu của chế độ tập quyền chuyên chế phơng Nam,
nội bộ mất đoàn kết, các tập đoàn phong kiến khuynh loát lẫn nhau làm v-
ơng triều của họ suy yếu trầm trọng. Suốt 120 năm làm chủ miền Bắc Trung
Hoa, ngời Kim liên tục phải chiến tranh, kình địch với Nam Tống, tuy dành
đợc thắng lợi nhng Kim cũng kiệt quệ lắm rồi. Có một sự trùng hợp ngẫu
nhiên của lịch sử, ngời Kim trớc kia lệ thuộc vào ngời Khiết Đan, vì vua
Liêu tàn ác, vô đạo khiến ngời Nữ Chân không chịu nổi ức hiếp mà vùng lên
khởi nghĩa cuối cùng diệt đợc nớc Liêu. Nay thì ngời Mông Cổ cũng bị nớc
7
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Kim đàn áp quá đáng mà qua thế kỷ XIII đã nổi loạn chống lại Kim. Vua
Kim bị thua nhiều trận, phải nộp vàng bạc, bò, dê, đậu, gạo... để xin nghị
hoà, còn phải cắt đất phong vơng cho Mông Cổ, nhng họ không thèm nhận,
tự xng là Đại Mông Cổ Quốc.
Qua thời Temujin ( Thiết Mộc Chân ), Mông Cổ lại cành mạnh,
đánh đâu thắng đó. Temujin là tộc trởng bộ lạc Kereyid sinh sống ở lu vực
sông Onon, cha là Yesugey Baartur. Năm 1200, sau một thời gian tập hợp
lực lợng, Temujin quyết định mở cuộc chiến tranh thống nhất các bộ lạc
Mông Cổ. Năm 1206, ông ta đã hàng phục
đợc hầu hết các bộ lạc chủ yếu ở Mông Cổ,
tại đại hội quý tộc Khuriltai tổ chức bên bờ

Hoa chẳng hạn, họ vừa muốn học theo lại vừa muốn đè bẹp các quốc gia ấy
để chứng tỏ sức mạnh vợt trội của dân tộc mình. Cuối cùng, không thể
không nhắc đến đó là tham vọng bá chủ thiên hạ của các nhân Thành Cát T
Hãn và những ngời kế tục ông ta. Họ muốn để lại những chiến công, muốn
chiến thắng mọi sự kháng cự dù là nhỏ nhất chỉ để thoả mãn danh vọng bản
thân. Ngay các chiến binh Mông Cổ cũng say sa trong mỗi chiến thắng, ảo t-
ởng về một sức mạnh bất khả chiến bại. Những t tởng ấy ngày càng thôi thúc
tớng sỹ Mông Cổ lao vào cuộc chiến tranh xâm lợc phi nghĩa. Ngời Mông
Cổ thì ít, đế quốc của họ thì đã rộng lắm rồi mà các đoàn kỵ binh vẫn tiếp
tục hành quân mãi không thôi. Kết quả là Mông Cổ trở thành đế chế rộng
lớn và hùng mạnh nhất trong lịch sử cổ kim, với cơng thổ trải dài từ biển
Thái Bình Dơng tới tận bờ Địa Trung Hải.
II. Lục địa á-Âu dới vó ngựa xâm lăng của đế chế Mông Cổ
1. Những cuộc tiến công dới thời Thành Cát T Hãn
9
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Năm 1211, Thành Cát T Hãn tiến quân vào miền Bắc Trung Hoa
và chiếm đợc Đại Đô ( ngày nay là thành phố Bắc Kinh-Trung Quốc
) tức Tây Kinh của nhà Kim, cớp nhiều của cải và tù binh. Kim lại xin hoà,
nộp vàng, lụa, phụ nữ... và dâng một công chúa cho Thành Cát T Hãn làm
thiếp. Mông Cổ chuyển hớng tấn công sang phía Tây, chiếm vùng Tây Vực
của ngời Duy Ngô Nhĩ ( Uygur ) và thẳng tiến đến những miền đất phơng
Tây xa lạ.
Những con đờng Tây tiến của quân Mông Cổ.
Năm 1218, quân Mông Cổ chiếm đợc phần phía Đông lãnh thổ
của ngời Tuốc ( Turk hay đày đủ là Turkestan ). Năm 1219, họ tiến quân

Caspian ( Lý Hải ). Nghệ thuật, những th viện phong phú, nền nông
nghiệp u việt, cung điện và giáo đờng... tất cả sạch không , Mác ( K.Mark
) đã viết nh vậy để nói về cuộc xâm lợc tàn bạo của ngời Mông Cổ ở Trung
á.
11
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Một đạo quân Mông Cổ khác do các tớng Subutai, Jebe chỉ huy
tiến công về hớng Azerbaijan và Georgia. Sau khi chiếm Semakha thuộc
Armenia, đội quân viễn chinh vợt dãy Caucasus ( Cáp-ca-dơ ) kéo lên ph-
ơng Bắc, và tràn vào vùng Kharza. Khu vực này và cả miền Đông Hắc Hải
đang ở trong tình trạng chiến loạn liên miên. Đế quốc Đông La Mã (
Byzantium ) đang vào hồi lụi tàn không đủ sức khống chế khu vực, thêm
vào đó các cuộc thập tự chinh ( Crusade ) chống lại ngời Hồi giáo ở Thổ
Nhĩ Kỳ ( Turkish ) và Ai Cập ( Egypt ) của ngời Tây Âu làm chiến tranh
xảy ra liên tục. Các nớc trong khu vực suy yếu trầm trọng, mỗi vùng đất nhỏ
cai quản bởi các lãnh chúa chứ không có một đế chế hùng mạnh thật sự, chỉ
có thế lực của ngời Mameluk ở Ai Cập là có khả năng ngăn chặn bớc tiến
công của quân xâm Mông Cổ. Năm 1223, lần đầu tiên ở chiến trờng phơng
Tây, quân đội Mông Cổ đụng độ với một lực lợng lớn do các công tớc Kiev
và Nga ( Vladimir, Smolen... ) chỉ huy tập hợp lại bởi lời kêu gọi của thân
vơng công quốc Kiev là Mstislav ( Mstislav III of Kiev ). Liên quân Nga-
Kiev gồm 80.000 ngời lập phòng tuyến chặn địch tại bờ sông Kalka ( nằm
trên lãnh thổ nớc Ucraina ngày nay ), nhng ngay trong lúc nguy cấp đó,
các công quốc vẫn bất hoà với nhau và kết quả họ đã phải chịu thất bại thảm
hại. Dòng sông Kalka hung dữ không ngăn nổi vó ngựa của đội quân xâm
lăng thiện chiến, chiến thuyền Nga bị thiêu trụi, binh sỹ chạy thoát không

Sau khi Thành Cát T Hãn chết, các cuộc viễn chinh vẫn không
ngừng diễn ra. Nạn nhân đầu tiên là nớc Kim ở Bắc Trung Hoa, lần này ng-
ời Nữ Chân không thể dùng vàng bạc để đổi lấy hoà bình đợc nữa. Năm
1232, Oa Khoát Đài và Đà Lôi tấn công vào Hà Nam, liên minh với Nam
Tống đánh Kim. Năm 1234, Thái Châu-thành trì cuối cùng của ngời Kim
thất thủ, vua Kim Ai Tông tự sát ở U Lan Hiên, Kim vong. Đã có nhiều bài
học lịch sử cho ngời Trung Hoa về sự tráo trở của kẻ thù, trớc kia Tống giúp
13
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Kim diệt Liêu sau đó bị Kim bội ớc, nhmg họ vẫn không chịu tỉnh ngộ. Lần
này cũng thế, Tống giúp 20.000 quân và 300.000 thạch lơng cho Mông Cổ
vây thành Thái Châu mong đợc trả lại các vùng đất của mình nhng khi diệt
Kim xong rồi, quân Thát Đát quay sang diệt Tống. Năm 1236, Oa Khoát
Đài xua quân đánh Tống, cuộc chiến tranh 40 năm xâm lợc Nam Tống
chính thức mở màn. Năm 1260, Hốt Tất Liệt- cháu nội Thành Cát T Hãn lên
ngôi đại Hãn tức vua Nguyên Thế Tổ trong lịch sử Trung Hoa. Năm 1264,
ông ta cho rời đô từ Karakorum về Tây Kinh ( sau đổi tên là Đại Đô ,
ngày nay là thành phố Bắc Kinh ). Năm 1268, quân Mông Cổ vây thành T-
ơng Dơng, Tơng Dơng cố thủ đợc 5 năm thì mất ( 1273 ), thế Tống lúc này
rất nguy. Hai năm sau, Mông Cổ dẫn quân theo đờng Giang Đông tiến
xuống miền Nam, thừa tớng Giả Tự Đạo đốc suất 130.000 binh mã và 2500
chiến thuyền cự địch, nhng Tống đã suy lắm rồi cha xáp chiến quân đội đã
tan vỡ. Quân Mông Thát khí thế nh cuồng phong chiếm hết thành này sang
thành khác, cuối cùng kinh đô Lâm An bị uy hiếp. Hai dũng tớng Văn
Thiên Tờng và Trơng Thế Kiệt chiêu mộ nghĩa binh chống giặc, nhng vận
nhà Tống đã đến lúc diệt vong không gì có thể thay đổi đợc. Năm 1276,

Thợng tắc vi nhật tinh
( Trời đất có chính khí
Lẫn lộn trong các hình
Dới đất là sông núi
Trên trời là nhật tinh )
ảnh: Tợng Alexander Nevsky tại
thành phố St.Peterburg-Nga.
15
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Về phía Tây, quân Mông Cổ cũng thu đợc những thắng lợi vang dội trên
khắp các chiến trờng. Một trong những trọng điểm tấn công của họ là vùng
thảo nguyên sông Volga rộng lớn, mà trong đợt viễn chinh năm 1223 Thành
Cát T Hãn còn cha chiếm đợc. Mùa xuân năm 1236, một đạo kỵ binh
150.000 ngời ồ ạt kéo về phía Tây. Chỉ huy đạo quân là thống soái Batu (
Bạt Đô ) con trởng của Jotri, cháu Thành Cát T Hãn, viên lão tớng
Subutai làm tiên phong. Tháng 12 năm 1237, Batu tấn công công quốc
Ryazan, đại công tớc Yury Igorevic bị giết. Năm sau, quân Mông Cổ chiếm
đợc hai công quốc Vladimir, Muscoy, đại công tớc Yury II bị hạ sát, các
thành phố Moscow ( Mát-xcơ-va ) Suzdal và Kolomna bị thiêu trụi. Tiếp sau
đó một loạt 14 thị trấn Nga nh Rostov, Yaroslav, Dmiterov... bị quân Tartar (
Tartar hay Tác-ta là tên gọi một bộ lạc Mông Cổ nhng sử sách phơng Tây
dùng từ này để chỉ tất cả những ngời Mông Cổ nói chung ) giày xéo. Tháng
3 năm 1238, Bạt Đô định tiến quân về hớng Nogvorod-công quốc mạnh nhất
của ngời Nga dới sự trị vì của Đại Thân Vơng Alexander Nevsky ( 1219-
1263 ), nhng họ đã gặp phải sự chiến đấu ngoan cờng của ngời Nga nên
buộc phải rút lui.

xuân năm 1242, Bạt Đô đã phải rút khỏi lãnh thổ Balan và Hungary, tuy
nhiên với công quốc Kiev, vùng thảo nguyên sông Volga và đất Kharza (
miền cực Nam của nớc Nga ngày nay nằm ở bờ Đông Bắc biển Đen ) mới
chiếm đợc, đất phong Ulus của gia tộc Jotri đã trở nên vô cùng rộng lớn lập
thành một Hãn quốc mới gọi là Hãn Kim Trớng ( phơng Tây gọi là Golden
Horde ) hoặc còn có tên gọi khác là Khâm Sát Hãn Quốc
( Kipchak Khan Ulus ). Hãn quốc mới đóng đô ở thành Surai bên bờ sông
17
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
Volga, gần địa điểm thành phố Volgograd ngày nay. Thực tế Khâm Sát Hãn
Quốc này đã tồn tại độc lập so với Đại Hãn ở Mông Cổ.
Năm 1241, Oa Khoát Đài và Sát Hợp Thai cùng qua đời, tình hình
Mông Cổ trở nên phức tạp, ngôi vị Đại Hãn bỏ trống trong 5 năm, vợ của Oa
Khoát Đài là Toregene phải nhiếp chính. Đại hội Kuriltai 1246 cử Quý Do
( Guyuk ) lên ngôi đại Hãn nhng Bạt Đô ra mặt chống đối không chịu
tuyên thệ trung thành. Năm 1248, trong khi cha kịp đem quân hỏi tội Bạt
Đô, Quý Do đột nhiên lâm trọng bệnh bệnh qua đời. Gia tộc Jotri và gia tộc
Tolui liên kết cử Mông Kha ( Mongke ) con trởng của Đà Lôi lên làm
đại Hãn. Mông Kha đem quân đánh dẹp lãnh địa của gia tộc Oa Khoát Đài
và Sát Hợp Thai-những kẻ đã chống đối mình khiến cho hai vơng thất này
suy yếu, lãnh địa Ulus ở Trung á không còn rộng lớn nh trớc nữa. Trên vùng
lãnh thổ cũ của vơng quốc Khwarizm và miền cao nguyên Tây Tạng họ
thành lập thêm một Hãn quốc nhỏ gọi là Sát Hợp Đài Hãn Quốc
( Tragatai Khan Ulus ).
Mông Kha đã giành ngôi đại Hãn và cai quản một vùng rộng lớp
nhng ông ta vẫn cha thoả mãn. Các kế hoạch xâm lợc mới lại tiếp tục đợc

Email :

Tel : 0918.775.368
Lỡng Hà trù phú hợp thành một Hãn quốc mới có tên là Y Lợi Hãn Quốc
( Il Khan Ulus ). Hãn quốc này cũng đã thoát ly khỏi chính quy
ền trung ơng của Đại Hãn Mông Cổ.
20
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
4 Hãn quốc và những con đờng xâm lợc của ngời Mông Cổ
Cho tới giữa thế kỷ XIII, hầu hết lục địa Châu á rộng lớn và một
phần Đông Âu đã trở thành thuộc địa của ngời Mông Cổ, bờ cõi của đế quốc
trải dài từ miền viễn Đông xa xôi tới tận bờ Địa Trung Hải. Lịch sử loài ngời
cha từng chứng kiến một đế quốc hùng mạnh và hung bạo đến thế. Sử sách
cũng nói rằng, ngời Mông Cổ là một dân tộc dã man sống bên cạnh những
dân tộc văn minh. Ngời dã man trọng võ bị nên thôn tính đợc những quốc
gia văn minh bằng bạo lực, nhng trong thời bình họ lại bị thứ văn hoá đặc
sắc, sống động của những dân tộc ấy chinh phục lại. Ngời Mông Cổ xây
dựng đế quốc của mình khi trong đầu chẳng có gì ngoài những chiến thuật
quân sự. Họ không biết gì về tổ chức nhà nớc, nhà Nguyên của Đại Hãn cái
gì cũng phải học của Trung Hoa. Từ chế độ chính trị, tổ chức chính quyền...
tới thuế khoá, từ lễ nghi triều đình, tên hiệu của vua... tới việc cúng tế trời
đất, thờ cúng tổ tiên, nhất nhất họ đều học theo Nho giáo của ngời Trung
Hoa. ấy thế nhng Hốt Tất Liệt lại luôn miệt thị Nho học, xếp nhà nho vào
hạng cùng đinh chỉ đứng trên ăn mày. Xem ra Hốt Tất Liệt quả thật chẳng
có chủ trơng gì cả, sự thật trong mắt ông ta dân Trung Hoa chỉ là một bầy nô
lệ để bóc lột chứ thâm tâm ông ta cũng chẳng muốn cai trị gì họ. ở các Hãn

không đợc Hán hóa, nhng cấm sao đợc. Thứ văn hoá của những kẻ bị nô
dịch rực rỡ và hấp dẫn quá, dân Mông Cổ làm sao mà không thích cho đợc.
Thế hệ đầu, họ còn giữ đợc bản chất vũ dũng chứ sang những đời sau, sinh
trởng ở Trung Hoa, thích ở lâu đài hơn lều trại, thích ăn nem, ăn chả hơn
uống sữa dê... thành ra họ trở nên yếu đuối nhu nhợc, sợ khó, sợ khổ. Vì vậy
nhà Nguyên làm chủ Trung Hoa cha đầy 90 năm đã bị đuổi về đồng cỏ. Các
Hãn quốc kia cũng chẳng hơn gì, chỉ giữ đợc thuộc địa chừng 100 năm. Chỉ
có Khâm Sát hãn Quốc ở miền thảo nguyên hoang vu mới giữ đợc quốc gia
trong hơn hai thế kỷ rồi mới bị ngời Nga diệt. Nói thế không phải là đế quốc
Mông Cổ chẳng đóng góp đợc gì cho lịch sử nhân loại. Dù là vô tình nhng
chính nhờ Mông Cổ mở rộng cơng thổ mà văn hoá Đông-Tây đợc dịp giao lu
dễ dàng. Cha bao giờ việc đi lại từ Trung Quốc tới châu Âu lại yên ổn nh
22
Website:

Email :

Tel : 0918.775.368
vậy, con đờng tơ lụa cũng không còn bị ngời ả Rập chặn cớp nữa, vì thế th-
ơng nhân hai bên thông thơng buôn bán qua lại rất tấp nập. Ai cũng thừa
nhận trong thời kỳ này ngời châu Âu đã học đợc nhiều cái lợi từ phơng
Đông. Đó là cách chế tạo hoả dợc, la bàn, là nghề in, cách dùng giấy bạc,
những phát minh y học... trớ trêu thay chính những thứ đó lại giúp đỡ đắc lực
cho ngời phơng Tây trong công cuộc chinh phục phơng Đông thời kỳ thực
dân sau này. Nhng nói đi cũng phải nói lại, ngời Trung Hoa không chỉ
truyền bá văn hoá của mình mà họ cũng thu về đợc nhiều cái lợi nhờ giao lu
với các quốc gia bên ngoài. Họ đã học đợc cách làm đồ sứ Thất Bảo, cách
nấu rợu, cách dệt thảm... từ ngời ả Rập, các môn vẽ bản đồ, thiên văn học...
từ ngời phơng Tây. Thế nên sử gia Pháp Lombard gọi Trung Hoa thời
Nguyên là cái lò văn hóa ( crenset culturel ), còn ngời đồng hơng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status