BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
–––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN VIỆT DŨNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng 12 nă
m 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Việt Dũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu c
ụ thể 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Câu hỏi nghiên cứu 3
5. Kết cấu của luận văn 3
phÇn 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KINH
DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 4
1.1. Cơ sở lý luận
4
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ, quản lý và quản lý kinh doanh 4
1.1.2. Vai trò của công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 11
1.1.3. Một số yêu cầu đối với hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ 13
1.1.4. Nội dung công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 23
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ 27
phÇn 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO
HIỂM PHI NHÂN THỌ
TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT BẮC
GIANG, TỈNH BẮC GIANG 68
3.1. Kết quả hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của
Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 68
3.1.1. Thực trạng việc lập kế hoạch kinh doanh 68
3.1.2. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh 74
3.1.3. Thực trạng hoạt động kiểm tra - giám sát công tác quản lý kinh
doanh bả
o hiểm phi nhân thọ 82
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
3.1.4. Thực trạng công tác đánh giá - điều chỉnh công tác quản lý hoạt động
kinh doanh. 86
3.1.5. Đánh giá hiệu quả quản lý kinh doanh của Công ty Bảo Việt Bắc Giang 90
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 99
3.2.1. Các nhân tố của môi trường kinh doanh 99
3.2.2. Các yếu tố môi trường ngành 100
3.2.3. Nhóm những nhân tố bên trong 104
PhÇn 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ CỦA
CÔNG TY BẢO VIỆT BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG 106
4.1. Định hướng nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang 106
4.1.1. Tăng trưởng doanh thu là tiền đề quan trọng nhất cho việc nâng cao
hiệu quả quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ.
Công ty Bảo Việt Bắc Giang 60
Bảng 7. Nhóm tuổi của những người được khảo sát 63
Bảng 8. Trình độ h
ọc vấn của những người được khảo sát 64
Bảng 9: Bảng tổng hợp kế hoạch thu chi và dự tính hiệu quả quy ước 2013 69
Bảng 10: Kết quả kinh doanh của Công ty Bảo Việt Bắc Giang từ năm 2010
đến năm 2013 75
Bảng 11: So sánh tốc độ tăng doanh thu và hiệu quả theo qui ước của Công
ty Bảo Việt Bắc Giang từ năm 2010 – 2013 76
Bảng 12: Chỉ tiêu doanh thu theo nghiệp vụ của Bảo Việt Bắc Giang từ năm
2010-2013 78
Bảng 13: Chi bồi thường bảo hiểm gốc của Bảo Việt Bắc Giang từ năm
2010 - 2013 80
Bảng 14: Chi phí quản lý doanh nghiệp của Bảo Việt Bắc Giang từ năm
2010 đến năm 2013 81
Bảng 15. Kế hoạch trích lập quỹ d
ự phòng năm 2013 88
Bảng 16: Thị phần doanh thu bảo hiểm gốc theo doanh nghiệp năm 2013 101
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bảo hiểm đóng vai trò quan
trọng đối với sự phát triển ổn định và bền vững của xã hội và từng cá nhân. Sự
ra đời của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam là một hệ quả tất yếu trong các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
việc xoá bỏ độc quyền nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, trước xu thế hội nhập
và toàn cầu hoá công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty
đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt và quyết liệt trong thị trường bảo hiểm. Trong điều kiện đó, Công ty Bảo
Việt Bắc Giang đã buộc phải quan tâm đến việc tìm ra các giả
i pháp hợp lý trong
việc khai thác tối đa các nguồn lực có hạn của mình nhằm mục tiêu nâng cao
hiệu quả công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Xuất phát từ những
lý do nêu trên, tôi đã chọn vấn đề “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản
lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh
Bắc Giang” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành quản lý kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ cho Công ty trong
thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý kinh doanh b
ảo hiểm phi
nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang và chỉ ra nguyên nhân của những
thành tựu và hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 1. Cơ s
ở lý luận và thực tiễn về quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ
Chương 2. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Thực trạng công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
tại Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Chương 4. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHÇN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KINH
DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ, quản lý và quản lý kinh
doanh
- Khái niệm bảo hiểm
Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, bảo hiểm là một cách thức trong
quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với
những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng. Bảo hiểm là
những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng
các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố.
Về khái niệm, mặc dù các hình thức bảo hiểm đầu tiên xuất hiện rất sớm
song cho đến nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về bảo hiểm.
- Theo quan điểm đơn giản, bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự
bất hạnh của số ít. Từ góc nhìn kinh tế, bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một
bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm
- Từ góc nhìn kinh tế - xã hội – kỹ thuật có thể hiểu Bảo hiểm là một hoạt
động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng
góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ
cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi
ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.
- Bảo hiểm phi nhân thọ
Theo Điều 3, Luật Kinh doanh bảo hiểm xác định “Bảo hiểm phi nhân
thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo
hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ”[15]
Bảo hiểm phi nhân thọ là một loại hình bảo hiểm thương mại hay hoạt động
kinh doanh bảo hi
ểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị
trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ những hoạt động mà ở đó
các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro thì người được bảo hiểm đóng một
khoản tiển gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền
bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
- Quản lý
Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Quản
lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi,
phát triển. Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm
khác nhau.
F.W Taylor (1856-1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra
khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, tiế
p
cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành
công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã
khác nhau về các chức năng quản lý. Sự khác nhau đó thể hiện ở số lượng và tên
gọi các chức năng:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, H.Fayol đưa ra năm chức năng: Dự đoán
và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp và Kiểm tra.
Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, Gulick và Urwich nêu lên 7 chức năng
quản lý (POSDCORB): Hoạch định, Tổ chức, Điều khiển, Quản lý nhân sự, Phối
hợp, Kiểm tra và Tài chính.
Ở thập niên 60 của thế kỷ XX, H.Koontz và các đồng sự chỉ ra năm chức
nă
ng: Hoạch định, Tổ chức, Định biên, Lãnh đạo và Kiểm tra.
Cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các giáo sư đại học Mỹ
đã có sự thống nhất về sự phân chia các chức năng quản lý. James Stoner,
Stephan Robbins chia thành 4 chức năng: Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo và
Kiểm tra.
Như vậy, xét về mặt bản chất, có thể cho rằng bốn chức năng của quy
trình quản lý là: Lập kế hoạch, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra.
- Kinh doanh:
Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền
kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện
mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao
gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ sở vận
dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời
cao nhất. Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
+ Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh
doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
+ Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan
hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
cấp đều phải thực hiện.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Chức năng quản lý kinh doanh là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ
đích của doanh nghiệp lên khách thể kinh doanh, là tập hợp những nhiệm vụ
khác nhau mà chủ doanh nghiệp phải tiến hành trong quá trình kinh doanh. Như
vậy, thực chất của các chức năng quản trị kinh doanh chính là lý do của sự tồn
tại các hoạt động quản trị kinh doanh. Việc nghiên cứu và phân loại chức năng
quản lý kinh doanh có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn. Trước hết, việc
xác định đúng đắn các chức năng quản lý kinh doanh là tiền đề cần thiết và
khách quan để có thể quản lý doanh nghiệp có hiệu quả hơn. Hơn nữa muốn tổ
chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng chuyên, tinh, gọn, nhẹ và có hiệu
lực thì không thể không phân tích sự phù hợp giữa cơ cấu bộ máy quản lý với
chức năng quản lý.
Chức năng lập kế hoạch: Là quá trình ấn định những nhiệm vụ, mục tiêu
và các phương pháp tốt nhất để thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu đó. Có
thể nói, lập kế hoạch là tổng thể các hoạt động liên quan tới đánh giá, dự đoán -
dự báo và huy động các nguồn lực để xây dựng chương trình hành động tương
lai cho tổ chức.
Lập kế hoạch kinh doanh chức năng đặc biệt quan trọng của quy trình
quản lý. Nó có ý nghĩa tiên quyết đối với hiệu quả của hoạt động quản lý kinh
doanh. Tất cả các nhà quản lý (cấp cao - trung - thấp) và tất cả các lĩnh vực quản
lý đều phải thực hiện việc lập kế hoạch. Lập kế hoạch là một quy trình gồm
nhiều bước (đ
ánh giá, dự đoán - dự báo và huy động các nguồn lực). Trọng tâm
của lập kế hoạch chính là hướng vào tương lai: Xác định những gì doanh nghiệp
cần phải hoàn thành và hoàn thành như thế nào. Về cơ bản, chức năng lập kế
hoạch bao gồm các hoạt động quản lý nhằm xác định mục tiêu trong tương lai
thực hiện nhằm đảm bảo các mục tiêu của doanh nghiệp và các kế hoạch vạch ra
để đạt tốt mục tiêu này đã và đang được hoàn thành. Thực chất của việc kiểm tra
trong các doanh nghiệp là nhằm sửa chữa những sai lầm đã phát sinh trong quá
trình quản lý.
Cùng với kiểm tra là việc điều chỉnh nhằm đảm bảo các mục tiêu kinh
doanh được đảm bảo thực hiện đúng. Điều chỉnh là thường xuyên theo dõi sự
vận động của hệ thống để kịp thời phát hiện mọi sự rối loạn trong tổ chức và
luôn luôn cố gắng duy trì các mối quan hệ bình thường giữa các bộ phận điều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
khiển và bộ phận chấp hành. Muốn sự điều chỉnh đạt hiệu quả thì phải thường
xuyên thu thập tài liệu về sự chênh lệch của hệ thống và những thông số đã cho
thông qua sự kiểm tra.
1.1.2. Vai trò của công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ có các vai trò
chính như sau:
Thứ nhất: Công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ giúp các
doanh nghiệp bảo hiểm định hướng rõ tầm nhìn chiến lược, sứ mạng (nhiệm vụ)
và mục tiêu kinh doanh của mình. Thật vậy, muốn công tác kinh doanh bảo hiểm
phi nhân thọ có hiệu quả, các DNBH phải tổ chức, quản lý hệ thống thông tin
môi trường kinh doanh một cách chính xác. Căn cứ vào đó, các nhà quản trị có
thể dự báo được các xu hướng biến động của môi trường kinh doanh và xác định
nơi nào mà doanh nghiệp cần đi đến trong tương lai, những gì cần phải làm để
đạt được những thành quả lâu dài. Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục
đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên nắm vững được
việc gì cần làm để đạt được thành công, tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nhà
quản trị và các nhân viên và cùng nỗ lực để đạt được các mong muốn. Như vậy
sẽ khuyến khích cả hai đối tượng trên đạt được những thành tích ngắn hạn, nhằm
động né tránh. Mặt khác, điểm mạnh và điểm yếu luôn tồn tại trong tổ chức do
đó nếu không quản lý kinh doanh tốt, DNBH dễ bằng lòng với những gì hiện có,
khi môi trường thay đổi điểm mạnh sẽ nhanh chóng trở thành điểm yếu và có
nguy cơ bị đối thủ cạnh tranh khai thác. Ngược lại nếu công tác quản lý kinh
doanh hiệu quả, hệ thống thông tin của DNBH luôn rà soát điểm mạnh, điểm yếu
để nhà quản trị có cơ sở tận dụng các điểm mạnh nhằm tăng khả năng cạnh
tranh, đồng thời có kế hoạch làm giảm các điểm yếu để hạn chế rủi ro.
Thứ tư: công tác quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ giúp DNBH
đạt được hiệu quả cao hơn so với không quản lý. Các công trình nghiên cứu cho
thấy DNBH nào thực hiện tốt công tác quản lý thì sẽ đạt được các kết quả tốt
hơn nhiều so với các doanh nghiệp có hệ thống quản lý yếu kém. Điều đó không
có nghĩa là các DNBH thực hiện tốt công tác quản lý kinh doanh thì sẽ không
gặp phải các vấn đề, thậm chí có thể bị phá sản, mà nó chỉ có nghĩa là việc kinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
doanh của DNBH sẽ giảm bớt rủi ro gặp phải và làm tăng khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp trong trong môi trường đầy biến động và rủi ro.
1.1.3. Một số yêu cầu đối với hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ
Một trong những yêu cầu cơ bản của công tác kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ là phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả quản lý
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng.
Hiệu quả kinh doanh nói chung là một phạm trù kinh tế thường được
xem xét trong phạm vi hi
ệu quả kinh tế - xã hội. Theo nghĩa chung nhất, hiệu
quả kinh tế - xã hội là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình sản
xuất, kinh doanh. Hiệu quả kinh tế - xã hội bao gồm hiệu quả quản lý kinh
doanh và hiệu quả xã hội.
tính toán hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không những chỉ cho biết
việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra
các nhân tố để đưa ra những các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện
tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả.
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng và hoạt
động kinh doanh nói chung, yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh bắt nguồn từ những yếu tố sau:
Thứ nhất, do sự khan hiếm của các nguồn lực
Mọi nguồn tài nguyên trên trái đất đều là hữu hạn và ngày càng cạn
kiệt, khan hiếm do hoạt động khai thác, sử dụng hầu như không có kế hoạch
của con người. Trong khi đó mật độ dân số của từng vùng, từng quốc gia ngày
càng tăng và nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng hoá dịch vụ là phạm trù không
có giới hạn- càng nhiều,càng đa dạng, càng chất lượng càng tốt. Sự khan hiếm
đòi hỏi con người phải có sự lựa chọn kinh tế, nhưng đó mới chỉ là điều kiện
cần, khi đó con người phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả
sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất. Điều kiện đủ là cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều phương pháp khác nhau
để tạo ra sản phẩm dịch vụ, cho phép cùng những nguồn lực đầu vào nhất
định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, sự phát triển
kinh tế theo chiều dọc nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: sự
tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu
tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế. Nói một cách khái quát là
nhờ vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, do đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế sản xuất cái
Page 16
1) Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm: Doanh thu
phí bảo hiểm gốc (Tiền thu phí bảo hiểm từ các hợp đồng được ký kết với
người đóng bảo hiểm); Doanh thu nhận tái bảo hiểm (Tiền thu phí nhận tái
bảo hiểm và các khoản thu khác từ công ty nhượng tái bảo hiểm); Doanh thu
hoa hồng nhượng tái bảo hiểm (Tiền thu từ hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và
các khoản thu khác từ công ty nhận tái b
ảo hiểm); Doanh thu từ các hoạt động
khác ngoài hoạt động kinh doanh bảo hiểm như doanh thu về dịch vụ giám
định, đại lý, đòi bồi thường, v.v.
2) Doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính: Là số tiền lãi thu được từ
các hoạt động đầu tư tài chính như: Mua bán chứng khoán; Góp vốn liên
doanh; Lãi tiền ký quỹ; Cho thuê tài sản; Hoàn nhập dự phòng giảm giá
chứng khoán; thu khác theo quy định của pháp luật.
3) Thu nhập từ hoạt
động bất thường là khoản thu nhập không tính đến
trong khi lập kế hoạch tài chính nhưng phát sinh trong kỳ như thu về nhượng
bán, thanh lý tài sản cố định, thu tiền phạt vi phạm hợp đồng…
- Đối với chi phí:
Chi phí của DNBH bao gồm: 1) Chi phí hoạt động kinh doanh bảo
hiểm; 2) Chi phí hoạt động tài chính; 3) Chi phí hoạt động khác.
1) Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
+ Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm: Đó là các chi phí trực tiế
p tạo
ra dịch vụ bảo hiểm như: Chi bồi thường, Chi giám định, Chi hoa hồng, Trích
lập dự phòng, Chi đòi người thứ ba, Chi xử lý hàng hoá bồi thường 100%, Chi
phí nhượng tái bảo hiểm, v.v. Đây là những khoản chi phí kinh doanh cơ bản
trong DNBH.
Các khoản chi dự phòng nghiệp vụ được trích lập từ phí bảo hiểm của
thực hiện giám định tổn thất.
+ Chi đòi người thứ ba: Là khoản chi để đòi người thứ ba có trách
nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với người được bảo hiểm, DNBH được thế
quyền người được bảo hiểm để
đòi người thứ ba.
+ Chi xử lý hàng bồi thường 100%: Là khoản chi để xử lý các đối
tượng bảo hiểm đã được DNBH bồi thường tồn thất toàn bộ.
+ Chi phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết
bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
3) Chi khác: Chi quản lý đại lý bảo hiểm; Chi đề phòng, hạn chế rủi ro,
tổn thấ
t; Chi đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm.