phân tích phân tử và khả năng kháng bệnh ghẻ thường do vi khuẩn streptomyces scabies ở một số dòng khoai tây chuyển gen mir - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN VIỆT HÀ
PHÂN TÍCH PHÂN TỬ VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH GHẺ THƯỜNG
DO VI KHUẨN STREPTOMYCES SCABIES Ở MỘT SỐ DÒNG
KHOAI TÂY CHUYỂN GEN MIR

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
MÃ SỐ: 60.42.02.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS-TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

HÀ NỘI - 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, đánh giá kết quả
và hoàn thành luận văn đồng thời bồi dưỡng cho tôi những kiến thức chuyên môn
và kinh nghiệm quý báu.
Với tình cảm sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, Cán
bộ công nhân viên trong Bộ môn Công nghệ sinh học thực vật - Khoa Công nghệ
sinh học, , đặc biệt ThS. Nguyễn Thị Thủy đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho
tôi trong suốt quá trình thực tập.
Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể gia đình,
bạn bè, anh em, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi
mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này!
Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2015

Học viên
Trần Việt Hà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.7.4 Cơ chế hoạt động của miRNA 22
1.7.5 Phương pháp tiếp cận để tạo RNAi trong cây trồng 22
1.7.6 Các công cụ phát hiện miRNA và mục tiêu mRNA hiệu quả 23
1.8 Ứng dụng của miRNA trên cây khoai tây 24
CHƯƠNG II VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 26
2.1 Vật liệu nghiên cứu 26
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 27
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp chiết tách DNA (QUIA gen plant mini kit) 27
2.4.2 Phương pháp kiểm tra cây chuyển gen bằng PCR: 28
2.4.3 Phương pháp đánh giá tính mẫn cảm với Thaxtomin A của các
dòng khoai tây chuyển gen: 29
2.4.4 Phương pháp đánh giá khả năng kháng bệnh ghẻ thường bằng lây
nhiễm nhân tạo với S.scabies (Wanner, 2006 cải tiến): 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

2.4.5 Phương pháp xác định chỉ số gây bệnh (Wanner và Haynes,
2006): 31
23.4.6 Phương pháp Southern blot 32
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Kết quả kiểm tra sự có mặt của cấu trúc gen được chuyển vào các
dòng khoai tây bằng PCR 36
3.2 Kết quả kiểm tra sự có mặt của cấu trúc gen được chuyển vào các
dòng khoai tây bằng Southern blot 37
4.2.1 Kết quả chiết tách DNA tổng số và nhân gen được chuyển 38

12
13
14
Tên viết tắt

S.scabies
TA
NCBI
RNAi
amiRNA
miRNA
PCR
RISC
RE
sRNA
siRNA
dsRNA
CT
TN
Tên đầy đủ
Streptomyces Scabies
Thaxtomin A
National Center for Biotechnology information
RNA interference
Artificial miRNA
microRNA
Polymerase Chain Reaction
RNA Inducing Silencing Complex
Restriction Enzyme
Small RNA

3.2 Kết quả điện di sau PCR kiểm tra sự có mặt của vi khuẩn
A.tumerfacens bằng cặp mồi VirD F , VirD R. 37
3.3 Kết quả chiết tách DNA tổng số ( DNAesasy plant mini kit,
QIA gen) 38
3.4 Kết quả kiểm tra PCR các dòng chuyển gen bằng cặp mồi pPS1
3071, pPS1 3440 38
3.5 Kết quả điện di sản phẩm sau phản ứng PCR tạo mẫu dò đặc hiệu 39
3.6 Kết quả điện di sản phẩm sau phản ứng cắt bằng RE Xba1,
Agarose 1%, H = 70V, 1h 39
3.7 Kết quả lai của gen với mẫu dò poMir9 40
3.8 Hình ảnh các dòng khoai tây chuyển với các công thức thí
nghiệm nồng độ Thaxtomin A từ 100ppm đến 600ppm sau 4
tuần nuôi cấy 45
3.9 Kết quả lây nhiễm nhân tạo với S.scabies (sau 16 tuần lây nhiễm) 47
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Khoai tây (Solanum tuberosum L.) là cây lương thực đóng vai trò quan trọng
thứ 4 trên thế giới. Là cây trồng có hàm lượng nước và dinh dưỡng cao nên khoai
tây dễ bị tấn công bởi rất nhiều loại sâu bệnh hại. Trong đó đáng chú ý là bệnh ghẻ
thường (Common scap) do vi khuẩn Streptomyces Scabies tấn công. Bệnh được ghi
nhận gây hại trên hầu hết các quốc gia trồng khoai tây, trong đó có Việt Nam (Dung
và cs., 2003)
Bệnh ghẻ thường khoai tây là một trong những bệnh hại nghiêm trọng xuất
hiện ở tất cả các vùng trồng khoai tây trên thế giới bao gồm: Mỹ, Ấn Độ, Châu Á và
Châu Phi (Waner, 2006). Ở Mỹ, bệnh ghẻ thường là bệnh hại nghiêm trọng thứ 4
trên cây khoai tây, gây thiệt hại cho ngành công nghiệp khoai tây khoảng 3.5 tỉ

hiệu tại các vị trí khác nhau trên gen này đã được thiết kế (Nguyễn Thị Thùy Linh,
2010; Phạm Thị Lan Hương, 2011; Ngô Thị Thanh Hiền, 2012) và đã chuyển gen
thành công 1 vector miRNA cho 3 dòng khoai tây (Ngô Thị Thanh Hiền, 2012),
bước đầu đánh giá biotest 3 dòng chuyển gen ở mức độ chống chịu với TA và tiến
hành lây nhiễm nhân tạo ở 3 dòng chuyển gen đều cho kết quả khả quan (Phan Thị
Ngân, 2013).
Để khẳng định sự có mặt của cấu trúc miRNA được chuyển vào 3 dòng
khoai tây và sự hoạt động của cấu trúc này thì chúng tôi tiếp tục tiến hàng nghiên
cứu để đánh giá đồng bộ ở cả ba mức là đánh giá phân tử, đánh giá in-vitro và đánh
giá in-vivo một số dòng khoai tây chuyển gen để bước đầu khẳng định các dòng
khoai tây đã được chuyển gen thành công và đánh giá được tính kháng bệnh ghẻ
thường của các dòng này.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá đồng bộ ở cả 3 phương diện là phân tử, in vitro, in vivo các dòng
chuyển gen để kết luận được hiệu quả tác động của các amir lên việc hình thành
tính kháng bệnh ở dòng khoai tây chuyển gen, tạo tiền đề cho việc sản xuất giống
khoai tây kháng bệnh ghẻ thường do vi khuẩn S.scablies gây ra.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

1.2.2. Mục tiêu cụ thể
 Kiểm tra sự có mặt của cấu trúc gen chuyển vào các dòng khoai tây bằng
PCR và Southern blot.
 Đánh giá in vitro các dòng chuyển gen thông qua khả năng chịu độc đối với TA
 Đánh giá in vivo các dòng chuyển gen thông qua lây nhiễm nhân tạo với tác
nhân gây bệnh là S.scablies.
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
 Đây là nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam ứng dụng công nghệ RNAi nhằm
phòng chống bệnh ghẻ thường ở cây khoai tây.

được nhấn mạnh với các nội dung gồm (1) góp phần cải thiện chế độ ăn uống và an
ninh lương thực; (2) giảm thu nhập và có những thách thức nhỏ trong sinh hoạt cho
các gia đình nông dân ở quy mô nhỏ; (3) bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền cần
thiết để sử dụng trong nghiên cứu đa dạng sinh học của khoai tây, làm nguồn cải
thiện giống trong tương lai (FAO, 2009a).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Nhiệm vụ của các nhà khoa học và nhà chiến lược đối với khoai tây được
xác định rõ với các nội dung (1) sản xuất khoai tây bền vững với việc kiểm soát các
tác nhân gây gệnh từ đất và mầm bệnh của chúng tồn tại trong đất; (2) cải thiện
thành phần và lượng chất dinh dưỡng của khoai tây; (3) quản lý canh tác với các
biện pháp sử dụng nước hiệu quả giúp tăng năng suất khoai tây.
Mối quan tâm của toàn cầu với sản xuất khoai tây tăng lên đáng kể do bởi giá
lương thực tăng vọt, tạo nên sự bất ổn trong vấn đề an ninh lương thực ở các nước
có thu nhập thấp (FAO 2009a, b; Lutaladio và Castaldi, 2009). Giá lương thực tăng
cao cũng có xu hướng làm nghèo đói và suy dinh dưỡng trở nên tồi tệ hơn (FAO
2011). Trong khi đó, khoai tây được đánh giá là loại lương thực có hàm lượng dinh
dưỡng cao, thành phần khá đầy đủ (bao gồm carbohydrate, các vi chất, vitamin B,
C; hàm lượng protein cao hơn các loại ngũ cốc khác, ngoài ra khoai tây còn có các
chất chống oxi hóa) (Burlingame và cs., 2009); và lượng thực phẩm thu được chiếm
đến 85%, cao hơn hẳn các loại ngũ cốc hạt khác (chỉ 50%) (FAO 2009a).
1.1.3 Khoai tây bến đổi gen trên thị trường hiện nay
Để chống lại các tác nhân gây bệnh trên khoai tây, hàng loạt các chiến lược
phòng chống đã được đề cập, trong đó có cả can thiệp bằng kỹ thuật di truyền. Các
giống khoai tây biến đổi gen kháng CPB, PVY, và PLRV đã được nghiên cứu và
phát triển bởi công ty Mosanto, chúng là các giống khoai tây biến đổi di truyền
được chấp nhận trên thị trường thương mại, làm thức ăn, làm thực phẩm chăn nuôi
cũng như nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến từ năm 1996 tại các quốc gia
như Úc, Canada, Mỹ, Philippines, Romania và Nhật Bản (BATS, 2003). Đến năm

của virus đã thu được các dòng khoai tây kháng bệnh hiệu quả (Barler và cs., 1999;
Spillane và cs., 1998) và ứng dụng công nghệ RNAi cũng được áp dụng trong việc
kháng bệnh do virus gây ra với công trình của Alexander và cộng sự năm 2003.
Khoai tây biến đổi di truyền không chỉ tập trung vào phòng bệnh mà còn có
mục tiêu tăng chất lượng sản phẩm từ khoai tây. Dòng EH92-527-1 đã được biến
đổi gen để làm tăng cao hàm lượng amylopectin của tinh bột. Ủy ban châu Âu đã
cho phép dòng khoai tây này lưu thông trên thị trường (EC, 2002)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7 1.1.4 Dịch hại trên cây khoai tây
Với đặc điểm có hàm lượng dinh dưỡng và hàm lượng nước cao trong tất cả
các bộ phận của cây nên khoai tây là đối tượng tấn công của nhiều loài sâu bệnh
hại. Bao gồm mốc sương do nấm Phytophthora infestance gây ra được đánh giá là
gây hại hàng đầu trên khoai tây. Theo tính toàn cũ thì người ta ước tính rằng năng
suất khoai tây trên thế giới bị ảnh hưởng do sâu bệnh hại lên đến 22% (Ross, 1986).
Các nhà nghiên cứu và nhà quản lý tập trung chú ý vào các bệnh gây hại cho
khoai tây với nguồn lây nhiễm từ đất, do sản phẩm cho giá trị kinh tế ở khoai tây là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

củ. Các loại vi khuẩn đất thuộc nhóm hoại sinh rất được chú ý bao gồm Erwinia
carotovora app gây bệnh chân đen, thối mềm gốc và các bộ phận trên mặt đất (
Bank, 2004); vi khuẩn gây bệnh thối vòng là Clavibacter michiganensis
sepedonicus, chúng thường được lây truyền qua hạt giống và không bị chết ngay cả
trong điều kiện bị đóng băng (Bank, 2004); bệnh ghẻ thường do Streptomyces
scabies với việc gây hại trực tiếp lên củ và có thể tồn tại lâu trong đất và truyền
bệnh cho vụ sau.
1.2 Bệnh ghẻ thường khoai tây (Common scab potato) và vi khuẩn

Hình 1.1. Triệu chứng bệnh ghẻ thường trên củ khoai tây
(nguồn Steven B. Johnson và David Lambert. 2010)
• Nguyên nhân gây bệnh và đặc tính phát sinh
Bệnh ghẻ thường được gây ra bởi một loại vi khuẩn Gram (+) thuộc chi
Streptomyces, đây được đánh giá là một bệnh gây hại nghiêm trọng trên khoai tây.
Bệnh chủ yếu gây ảnh hưởng đến chất lượng củ và tạo nên các vết tổn thương tùy
mức độ trên bề mặt củ. Bệnh ghẻ thường được đánh giá là một trong 5 loại dịch hại
hàng đầu trên khoai tây trồng ở Mỹ (Slack, 1991).
Streptomyces scablies là vi khuẩn đất, tuy nhiên chúng có thể tồn tại và
truyền bệnh qua hạt giống và củ (Wilson và cs., 1999; Wang và Lazarovits, 2005).
Chi Streptomyces spp được biết đến là một chi hoại sinh và có sản xuất tạo kháng
sinh (Chater, 2006; Chater và cs., 2010). Trong chi này thì chủng Streptomyces
scabies là được phát hiện đầu tiên trên khoai tây (Lambert và Loria. 1989a;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

Waksman và Henrici. 1948) và chúng được tìm thấy ở trên nhiều giống khoai tây
trên toàn thế giới (Bouchek-Mechiche và cs., 2000a; Flores-Gonzailez và cs.,
2008; Wanner, 2009). Gần đây, có thêm chủng S.turgidiscabies được tìm thấy là
tác nhân gây bệnh ghẻ thường trên khoai tây tại Nhật Bản (Miyama và cs., 1988)
và Phần Lan (Kreuze và cs., 1999) và sau đó là lan rộng trên toàn thế giới bao
gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Bắc Mỹ, Na Uy, Thụy Điển, Anh (Dees và cs.,
2012; Kim và cs., 1999; Lehtonen và cs., 2004; Thwaites và cs., 2010; Warnner,
2009; Zhao và cs., 2008). S.europaeiscabies được phát hiện và lần đầu tiên được
mô tả tại Pháp vào năm 2000, sau đó chúng cũng được tìm thấy ở Châu Âu, Hàn
Quốc, Bắc Mỹ (Bouchek-Mechiche và cs., 2000a; Dees và cs., 2012; Wanner,
2009). Sau đó, một chủng thuộc chi Streptomyces tiếp tục được tìm thấy tại khu

nhận là có mối quan hệ tương quan với mức độ gây bệnh ghẻ. Nhóm nghiên cứu
của Bukhalid và Loria (1997) đã nhân dòng được gen necl từ một chủng gây bệnh
S.scabies; gen này còn được thu nhận tại chủng S.lividans – một chủng vi khuẩn
thuộc chi Streptomyces spp. nhưng không gây bệnh ghẻ khoai tây.
Gen necl tạo sản phẩm là một hợp chất hòa tan trong dịch ngoại bào, gây nên
các tổn thương. Các nhà nghiên cứu còn đề xuất rằng gen necl có khả năng liên
quan đến vị trí ORF-stop, trong vị trí ORF này sản xuất một chuỗi amino acid tương
tự như gen nhảy (transposonases) của Staphylococcus aureus.
Trong công bố của Loria và cộng sự (1998) đã cung cấp thêm các bằng
chứng cho thấy vai trò của gen necl trong khả năng gây bệnh của Streptomyces. Sử
dụng phân tích Sourthen blot, họ đã phân tích từ 43 chủng từ 3 loài thuộc chi
Streptomyces gây bệnh là S.scabies; S.acidiscabies; S.turgidiscabies để thăm dò sự
tồn tại của gen Necl. Kết quả phát hiện thấy rằng cả 43 chủng đều tồn tại một bản
duy nhất gen necl, như vậy cho tính tính bảo thủ cao của gen này trên các chủng gây
bệnh. Từ đây, nhóm tác giả đã đề nghị vai trò của gen necl như là một yếu tố tham
gia trực tiếp trong việc tổng hợp thaxtomin.
1.3 Giới thiệu về yếu tố Thaxtomin A
Thaxtomins là tên gọi chung của một nhóm các phytotoxins với công thức
hóa học đầy đủ là 4-nitroindol-3-yl chứa 2,5 dioxopiperazines, được sản xuất bởi
một loại vi khuẩn gây bệnh thực vật thuộc chi Streptomyces spp (King và cs., 1989).
Trong nhóm này thì Thaxtomin A (TA) là phytotoxin chiếm ưu thế và có động lực
lớn hơn cả, được sản xuất bởi các chủng vi khuẩn S. turgidiscabies; S.miyajima; …(
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

King và cs., 1989; Bukhail và cs., 1998; Healy và cs., 2002; King và cs., 1996;
Lindholm và cs., 1997 và Loria và cs.,1995). Những vi khuẩn này là nguyên nhân
chủ yếu gây nên bệnh ghẻ thường trên củ khoai tây (Splanum tuberosum L.), một
trong những bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành nông nghiệp trồng khoai tây trên thế
giới (Hiltumen và cs., 2005; Lambert và Loria., 1989; Loria và cs.,1997; Miyajima

Rõ ràng, thaxtomin A có vai trò quan trọng trong tính gây bệnh của tác nhân
gây bệnh. Tuy nhiên, mô hình hoạt động của thaxtomin đến nay vẫn chưa được làm
sáng tỏ. Các nghiên cứu về hoạt động của thaxtomin A và các sản phẩm tương tác
với chúng ở cây trồng cần được tiến hành ở mức độ phân tử để đề ra các biện pháp
phòng chống bệnh hiệu quả.
1.4 Đột biến TXR1 và quá trình vận chuyển độc tố Thaxtomin A
Năm 2003, Scheible và cs đã phát hiện ra một protein mới ở Arabidopsis
thaliana có tính tương đồng cao trên các loài thực vật khác nhau, thậm chí trên cả
động vật và người. Đột biến xác định ở Arabidopsis thaliana được gọi là txr1, tăng
cường tính kháng với sự sinh trưởng trên môi trường có chứa TA do sự khác biệt
trong tỷ lệ hấp thụ độc tố. Gen TXR1 có vị trí locus nằm trên nhiễm sắc thể số 3,
được phát hiện bởi hai marker phân tử TSA1 và SSLP. Gen TXR1 được xác định
bằng phương pháp nhân dòng dựa trên bản đồ gen và nó mã hóa cho một protein
hòa tan 12.7kD, không có các motifs đặc hiệu hoặc các cơ quan phát tín hiệu mục
tiêu. Gen này mã hóa cho một protein mới, có kích thước nhỏ, chưa được hiểu rõ về
cơ chế và chức năng di truyền. Đây là một protein có trình tự bảo thủ tương đồng
trên genome nhiều sinh vật nhân chuẩn đã được giải trình tự, biểu hiện trên tất cả
các mô và trong suốt các giai đoạn phát triển. Phân tích microarray của hiệu ứng đột
biến sự biểu hiện của 14,300 gen phát hiện được 2 gen tăng cường sự biểu hiện thay
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

đổi. Như vậy, TXR1 là một thành phần hoặc nhân tố điều hòa cơ chế vận chuyển
độc tố (Scheible và cs., 2003; Laurent, 2005).
Gen sinh tổng hợp thaxtomin được chi phối bởi các nhân tố điều hòa phiên
mã - họ AraC/XylS, là TxtR có trình tự bảo tồn giữa các loài Streptomyces gây bệnh
và mã hóa cho nhóm gen sinh tổng hợp thaxtomin. Protein TxtR liên kết đặc hiệu
với cellobiose, cần thiết cho việc báo hiệu sự mở của các mô thực vật, và cellobiose
cũng là yếu tố cảm ứng tổng hợp thaxtomin (Joshi và cs., 2007; Loria và cs., 2008).
Tuy nhiên, một số phân tử khác như các acid amin thơm và một số chất chuyển hóa

quản lý bệnh chỉ ở quy mô nhỏ, đặc biệt chúng không có tác dụng đối với những
cấu trúc đất giữ nước kém.
1.5.2 Cải tạo tính chất lý hóa đất
Các biện pháp cải tạo đất bao gồm cả bón phân, vôi và cây che phủ đều cho
thấy sự không hiệu quả trong tác dụng kiểm soát bệnh ghẻ thường, Conn và
Lazarovits (1998) đã sử dụng phân gia súc và phân gà lỏng cho khu vực trồng khoai
tây và nhận thấy tỷ lệ bệnh ở năm đầu tiên thấp, tuy nhiên nó lại tăng mạnh ở những
năm sau đó. Với những kết quả thu được, họ đã kết luận rằng ngoài loại phân thì
loại đất trồng cũng ảnh hưởng lớn đến sự gia tăng của tác nhân gây bệnh. Việc sử
dụng phân Amoni lignosulfonate (ALS) đã từng được kết luận là giúp giảm tỷ lệ
mắc bệnh ghẻ thường của khoai tây. Soltani và cộng sự (2001) đã ghi lại một sự
giảm đáng kể bệnh ghẻ lên đến 50-80% trên tất cả các địa điểm trồng khoai tây
thương mại của Canada, họ phát hiện ra rằng có mối tương quan giữa sự suy giảm
độ pH đất và sự gia tăng mật độ vi khuẩn. Phương pháp quản lý dịch hại bằng phân
bón đã được sử dụng trong kiểm soát bệnh ghẻ thường, theo báo cáo cáo của Sturz
và cộng sự (2004) thì việc sử dụng phân bón đã làm tăng nhóm vi khuẩn đối kháng
là Rhizobacterial. Ammonium sulfate (NH
4
)
2
SO
4
đã được áp dụng ở mức 379kg/ha
trong 2 năm, kết quả là đã giảm 10% tỷ lệ mắc bệnh ghẻ, kết quả này được giải
thích là do phân bón đã làm giảm độ pH của đất, điều này tạo lợi thế cạnh tranh cho
các loài đối kháng với S.scabies.
1.5.3 Sử dụng biện pháp hóa học
Chất hóa học và thuốc kháng sinh đã được sử dụng trong kiểm soát dịch hại
do Streptomyces gây ra, tuy nhiên mức độ thành công lại phụ thuộc vào rất nhiều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

thiệp di truyền hơn so với các dòng tam bội (Dionne và Lawrence., 1961). Điều này

Trích đoạn Thiết bị và dụng cụ phòng thí nghiệm cần thiết khác thuộc Bộ môn Công nghệ sinh học thực vật, khoa Công nghệ sinh học.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status