Tài liệu bao gồm 6 chuyên đề bồi dưỡng ôn thi nâng ngạch chuyên viên
chính khối Đảng, Đoàn thể năm 2015:
CĐ1 – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC, BỘ MÁY CỦA HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CĐ2 – MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY
CĐ3 – XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
CĐ4 – NỀN HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC
CĐ5 – CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ VÀ QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CĐ6 – NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN,
TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
2
2. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền của
dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân ta mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức
quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện quyền
dân chủ của nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám
sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan
liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công
dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của
Tổ quốc và nhân dân.
Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập
trung, dân chủ. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phân cấp,
đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Trung ương.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất ba quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ
quan trong việc thực hiện ba quyền đó.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự
nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và cá
nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ
thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt
Hệ thống tổ chức của Đảng, các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp uỷ các
cấp từng bước được sắp xếp, kiện toàn hợp lý và hiệu quả hơn sau khi thực hiện
Nghị quyết Trung ương ba, Trung ương bảy (khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX, Hội nghị lần thứ 4, lần thứ 5, Ban chấp hành Trung
ương khoá X. Nghị quyết Đại hội XI và các Nghị quyết Trung ương 5, Trung ương
6, Trung ương 7 (khoá XI) tiếp tục xem xét quyết định kiện toàn hệ thống tổ chức
của Đảng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
Tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay gồm:
4
- Hệ thống tổ chức đảng bộ, chi bộ (từ cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện,
cấp cơ sở, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở);
- Cơ quan lãnh đạo của Đảng các cấp (đại hội, cấp uỷ);
- Cơ quan tham mưu giúp việc cấp uỷ (các ban đảng, đơn vị sự nghiệp của
Đảng);
- Tổ chức đảng được lập trong các cơ quan nhà nước và đoàn thể chính trị xã
hội (ban cán sự đảng, đảng đoàn).
1.1. Hệ thống tổ chức các đảng bộ, chi bộ
a) Cấp Trung ương: toàn Đảng có cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp
hành Trung ương (Bộ Chính trị, Ban Bí thư).
Hiện nay có 68 đảng bộ trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương:
- 63 Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (theo cấp hành chính
lãnh thổ, có chính quyền cùng cấp).
- 05 Đảng bộ khác trực thuộc Trung ương là Đảng bộ Khối các cơ quan
Trung ương, Đảng bộ khối Doanh nghiệp Trung ương; Đảng bộ Ngoài nước; Đảng
bộ Quân đội; Đảng bộ Công an Trung ương.
(Trước năm 2006 có 75 đầu mối, sau khi thực hiện NQTW 4 khoá X giảm
được 08 đầu mối; thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI đưa Đảng bộ Ngoài
nước về trực thuộc Trung ương).
đảng bộ các cấp.
Điều lệ Đảng quy định: Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại
biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng
viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung
ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, ban chấp hành chi bộ (gọi tắt là cấp
uỷ).
Theo quy định của Điều lệ Đảng khóa X, khóa XI và Quy định thi hành
Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI thì nhiệm kỳ đại hội của tổ
chức cơ sở đảng và của cấp ủy cơ sở trở lên là 5 năm. Nhiệm kỳ của chi bộ, chi ủy
trực thuộc đảng uỷ cơ sở là 5 năm /2 lần (quy định này được áp dụng từ nhiệm kỳ
Đại hội X).
Số lượng Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương do Đại hội Đảng toàn quốc
quyết định, số lượng cấp uỷ viên mỗi cấp do đại hội cấp đó quyết định trên cơ sở
hướng dẫn của Trung ương. Hệ thống cấp uỷ đảng do đại hội các cấp bầu, trường
6
hợp đặc biệt hoặc thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập giữa 2 kỳ đại hội thì
do cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định.
1.2.1. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư
a) Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất trong toàn Đảng
giữa 2 kỳ đại hội; số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương do Đại hội Đảng
toàn quốc thảo luận, quyết định.
Ban Chấp hành trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn:
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị
quyết của Đại hội; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại,
công tác quần chúng và công tác xây dựng đảng; chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn
quốc của Đảng nhiệm kỳ tiếp theo, Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có).
Ban Chấp hành Trung ương căn cứ tình hình thực tế có thể chỉ đạo thí điểm
một số chủ trương mới chưa được quy định trong Điều lệ Đảng.
a) Nhiệm vụ của ban chấp hành và hình thức sinh hoạt của ban chấp hành:
- Cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh ủy, thành ủy),
cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi tắt là huyện ủy, quận ủy,
thị ủy, thành ủy) là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh, đảng bộ huyện giữa 2 kỳ
đại hội, có nhiệm vụ: lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị quyết,
chỉ thị của cấp ủy cấp trên.
- Hội nghị tỉnh ủy, thành ủy, huyện ủy, quận ủy, thị ủy do ban thường vụ
triệu tập thường lệ ba tháng một lần; họp bất thường khi cần.
Hội nghị bầu ban thường vụ; bầu bí thư và phó bí thư trong số ủy viên
thường vụ; bầu ủy ban kiểm tra; bầu chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên
ủy ban kiểm tra.
Số lượng ủy viên ban thường vụ và ủy viên ủy ban kiểm tra do cấp ủy quyết định
theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương.
b) Nhiệm vụ của ban thường vụ; thường trực cấp ủy
- Ban thường vụ lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của đại hội
đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cùng cấp và cấp trên; quyết định những vấn
đề về chủ trương, tổ chức, cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ
họp của cấp ủy.
8
- Thường trực cấp ủy gồm bí thư, các phó bí thư, chỉ đạo kiểm tra thực hiện
nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, của ban thường vụ và cấp ủy cấp trên; giải quyết
công việc hằng ngày của đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ
họp của ban thường vụ.
1.3. Ban cán sự đảng, đảng đoàn
Thực hiện theo Điều 42, Điều 43 Điều lệ Đảng. Ban Cán sự đảng được lập ở
một số cơ quan hành pháp, tư pháp cấp Trung ương, cấp tỉnh. Đảng đoàn được lập
ở cơ quan lãnh đạo Quốc hội, hội đồng nhân dân cấp tỉnh (các cơ quan này lập ra
do bầu cử) và một số tổ chức chính trị - xã hội cấp Trung ương, cấp tỉnh.
Quốc phòng an ninh và thực thi các nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp); Chính
phủ và uỷ ban nhân dân các cấp (cơ quan hành chính nhà nước), Viện Kiểm sát
nhân dân, Toà án nhân dân các cấp (cơ quan tư pháp).
2.1. Tổ chức của Quốc hội
Quốc hội do dân bầu, thực hiện nhiệm kỳ đại biểu 5 năm. Quốc hội lập ra
các Uỷ ban, các Ban có bộ phận chuyên trách ở Trung ương; ở địa phương có các
đoàn đại biểu, chuyên trách địa phương.
Quốc hội có sự đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, tăng cường
việc xây dựng và ban hành các bộ luật, luật, pháp lệnh, thể chế hoá đường lối, chủ
trương của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp, quan hệ phối hợp giữa
Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân
dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hình
thành cơ chế tiếp xúc giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, dân chủ trong sinh hoạt
Quốc hội, tăng cường chất vấn công khai tại Quốc hội, bảo đảm vai trò lãnh đạo
của Đảng thông qua Đảng đoàn Quốc hội.
2.2. Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước là đại biểu Quốc hội,
do Quốc hội bầu; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Chủ tịch
nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo
Hiến pháp và tổ chức bộ máy chuyên trách giúp việc theo quy định của pháp luật.
2.3. Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước
Tổ chức bộ máy của Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước đã tinh giản
hơn so với năm 1986. Ở cấp Trung ương, trước 1/8/2007 tổng số đầu mối các cơ
10
quan thuộc Chính phủ đã giảm từ 76 xuống còn 38 (26 bộ, cơ quan ngang bộ và 12
cơ quan thuộc chính phủ), hiện nay còn 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ, một số đơn vị
sự nghiệp trực thuộc Chính phủ. Ở cấp tỉnh từ 35 - 40 đầu mối nay còn 19 – 25 đầu
dân được tổ chức từ Trung ương đến cơ sở cùng với các tổ chức quần chúng khác
đã từng bước đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục một bước
tình trạng hành chính hoá, coi trọng nhiệm vụ tập hợp và giáo dục vận động đoàn
viên, hội viên và nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần
xây dựng Đảng, chính quyền, đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất xoá
đói giảm nghèo, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Những ưu điểm nổi bật trong việc đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của hệ
thống chính trị ở nước ta sau thời gian qua
Hệ thống các cơ quan, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở tiếp tục
được sắp xếp, kiện toàn. Số lượng các ban đảng giảm, từng bước tinh gọn hơn,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức đã được điều chỉnh, bổ sung
phù hợp hơn, giảm bớt trùng lắp, chồng chéo. Tổ chức các cơ quan của Quốc
hội được kiện toàn, hoạt động của Quốc hội đã có nhiều đổi mới, chất lượng
được nâng cao hơn. Tổ chức bộ, ngành trực thuộc Chính phủ giảm, chức năng,
nhiệm vụ được bổ sung, điều chỉnh; hiệu lực, hiệu quả được nâng lên. Tổ chức
của toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân các cấp đã được từng bước triển
khai theo yêu cầu cải cách tư pháp. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị -
xã hội từ Trung ương tới cơ sở được kiện toàn, phương thức hoạt động có đổi
mới. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị
được nâng lên một bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. Những tiến bộ và
kết quả đó đã góp phần vào sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước trong những năm qua.
Hạn chế, khuyết điểm
Chất lượng tham mưu, đề xuất của các cơ quan, tổ chức đảng với Trung
ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trên một số lĩnh vực còn hạn chế. Phương thức
lãnh đạo của Đảng chậm được đổi mới. Một số vấn đề về thẩm quyền lãnh đạo,
chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của cấp uỷ, ban thường vụ và thường trực
cấp uỷ Đảng các cấp, trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu cấp uỷ chưa
đủ rõ nên còn vướng mắc trong thực tiễn và khó xem xét trách nhiệm cá nhân.
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế là một quá
13
trình phức tạp, phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Đây là vấn đề rất quan trọng,
nhạy cảm nhưng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn còn hạn chế;
nhiều vấn đề về phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền, về tổ chức và hoạt
động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; về
quyền làm chủ của nhân dân còn chưa được làm sáng tỏ, chưa cung cấp được cơ
sở khoa học cho việc hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
- Nhiều quan điểm, nguyên tắc
1
đúng đắn về hoàn thiện hệ thống chính trị
mà Đảng đã đề ra nhưng nhận thức vẫn khác nhau, thực hiện không mạnh mẽ, kiên
trì, nhất quán; chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời sơ kết, tổng kết nên
kết quả đạt được thấp. Một số chủ trương của Đảng khi tổ chức thực hiện trong
thực tiễn không phù hợp nhưng chậm được phát hiện, sửa đổi kịp thời
2
.
- Việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị thực hiện không đồng bộ
giữa thay đổi tổ chức bộ máy với bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, các
văn bản quy phạm pháp luật, tạo nên những vướng mắc khi vận hành; tập trung
nhiều vào việc thay đổi tổ chức bộ máy mà chưa đồng bộ với sửa đổi, bổ sung
chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức. Tổ chức bộ máy thay đổi nhanh, dễ dãi; lập ra nhiều
tổ chức mới, ban chỉ đạo mới trong khi các tổ chức đã có không làm hết chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mình.
- Chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan; thẩm quyền, trách nhiệm của
cán bộ, công chức ở từng chức danh, từng vị trí công tác trong hệ thống chính
trị chưa được xác định rõ ràng, đầy đủ. Do đó, thiếu căn cứ để đánh giá đúng
chưa kỹ, có biểu hiện nể nang nên những quyết định đó chưa có sự đồng thuận
cao hoặc phải điều chỉnh.
III. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, HOÀN
THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN CƠ SỞ
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã thảo luận
và quyết định về quan điểm, mục tiêu và giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ
thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở như sau:
1- Quan điểm
1.1- Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị phải bám sát, cụ thể hoá, thể chế
hoá các quan điểm của Cương lĩnh, Điều lệ, văn kiện Đại hội XI của Đảng, đồng
bộ với nội dung Hiến pháp 2013; bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,
hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân;
giữ vững ổn định chính trị, xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong
thời kỳ mới. 15
1.2- Đổi mới, hoàn thiện đồng bộ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị,
đồng bộ với đổi mới thể chế kinh tế, phù hợp với đổi mới nội dung và phương thức
lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền, xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế. Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với hoàn thiện
chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rõ
quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách
nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.
1.3- Về tổ chức bộ máy, không nhất thiết ở Trung ương có tổ chức nào thì ở
hoàn thiện các quy chế, quy định về quy trình công tác của các cấp ủy, tổ chức
đảng, về quan hệ lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng đối với hoạt động của hệ thống
chính trị. Tiếp tục đổi mới cách ra nghị quyết, tập trung vào lãnh đạo, chỉ đạo tổ
chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết của Đảng.
Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn cho
phù hợp với thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ mới; sơ kết việc thành lập chi bộ cơ quan
xã, phường, thị trấn; thống nhất mô hình tổ chức đảng ở cơ sở phù hợp với tổ chức
dân cư dưới cấp xã. Tiếp tục nghiên cứu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các
đảng uỷ khối ở Trung ương, địa phương, Đảng uỷ Ngoài nước; mô hình tổ chức
đảng ở các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước.
- Các cơ quan tham mưu giúp việc, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung
ương cơ bản giữ ổn định về tổ chức. Chuyển Học viện Hành chính từ Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh về Bộ Nội vụ và tổ chức lại cho hợp
lý; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh để phù hợp với vị trí, chức năng là cơ quan trực thuộc Ban
Chấp hành Trung ương. Thực hiện chủ trương không nhất thiết ở Trung ương có
ban đảng, đảng bộ nào thì ở địa phương cũng phải có ban đảng, đảng bộ đó; căn cứ
điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy định khung của Trung ương, cấp uỷ địa phương có
thể lập (hoặc không lập) tổ chức sau khi được sự đồng ý của cấp ủy cấp trên có
thẩm quyền. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy, biên chế các cơ quan tham mưu giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp
uỷ cấp tỉnh, cấp huyện. Xem xét việc thành lập ban kinh tế ở một số tỉnh uỷ, thành
uỷ.
17
2- Đối với Nhà nước
- Quốc hội
Trước mắt, giữ ổn định Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội.
Nghiên cứu bổ sung một số thẩm quyền cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để thực
trên một số lĩnh vực. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, chế độ công vụ, công
chức.
Trước mắt, giữ cơ bản ổn định tổ chức của Chính phủ, tổ chức bộ quản lý đa
ngành, đa lĩnh vực phù hợp với thực tiễn đất nước. Phát huy vai trò, trách nhiệm
của tập thể Chính phủ, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính
phủ và các thành viên Chính phủ. Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chức năng,
nhiệm vụ của các bộ, ngành tập trung vào quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, khắc
phục những chồng chéo hoặc bỏ trống về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng
quản lý; làm rõ mối quan hệ phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ; bảo đảm
nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách
nhiệm chính. Hoàn thiện cơ chế phân cấp theo hướng tăng tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của chính quyền địa phương, đồng thời bảo đảm sự quản lý thống nhất
của Trung ương. Chuyển những nhiệm vụ mà các cơ quan nhà nước không cần
thiết phải thực hiện để giao cho các tổ chức xã hội đảm nhận.
Xem xét, điều chỉnh một số tổ chức không cần thiết, chưa phù hợp bên trong
một số bộ, việc thành lập một số tổng cục; khắc phục những hạn chế khi tổ chức bộ
quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; nghiên cứu việc thành lập tổ chức thực hiện chức
năng chủ sở hữu, quản lý, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.
Nghiên cứu phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của một số bộ, việc thành
lập cơ quan quản lý chuyên ngành về năng lượng và tài nguyên nước phù hợp với
trình độ, năng lực quản lý và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Đổi mới mạnh mẽ tổ chức và cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
công để cung ứng tốt hơn các dịch vụ cơ bản thiết yếu cho người dân, nhất là các
đối tượng chính sách xã hội, người nghèo. Nhà nước tăng cường đầu tư cho các
đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn khó khăn. Tiếp tục đẩy
mạnh giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập
gắn với tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước. Đẩy mạnh xã hội hoá,
khuyến khích thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc các thành phần
19
Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu, nhiệm vụ mới. Quy 5
Kết luận Hội nghị TW 11, khóa XI
20
định dưới xã, phường, thị trấn là thôn, tổ dân phố và tương đương (có quy mô phù
hợp với địa bàn đô thị, nông thôn, miền núi), chủ yếu hoạt động theo hình thức tự
quản của cộng đồng dân cư, hạn chế tối đa việc sử dụng kinh phí từ ngân sách.
Thực hiện khoán kinh phí hoạt động cho các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã,
thôn, tổ dân phố và tương đương bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa
phương.
- Toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân
Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020. Thực hiện Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân mới (có
hiệu lực thực hiện từ 1/6/2015). Tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền xét xử,
bảo đảm cải cách hoạt động xét xử là trọng tâm của cải cách tư pháp; mở rộng
thẩm quyền xét xử của toà án đối với các khiếu kiện hành chính, giải quyết tranh
chấp về đất đai; đổi mới cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm. Tổ chức hệ thống viện
kiểm sát nhân dân phù hợp với hệ thống tổ chức của toà án nhân dân. Bảo đảm các
điều kiện để viện kiểm sát thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm soát hoạt động tư pháp. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức của toà án,
viện kiểm sát, cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải
cách tư pháp; đổi mới và kiện toàn các tổ chức bổ trợ tư pháp.
3- Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
Tiếp tục rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chính trị - xã hội theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, nhiệm vụ, không chồng
Đảng, nhà nước giao. Cơ cấu lại và chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức, có chính sách và biện pháp đồng bộ để thay thế những người không đáp ứng
được yêu cầu. Từng cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị phải xây dựng kế
hoạch tinh giản biên chế trong 7 năm (2015- 2021) và từng năm trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt để thực hiện. Trong đó, phải xác định tỷ lệ tinh giản biên chế đến
năm 2021 tối thiểu là 10% tổng biên chế của bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị- xã
hội, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
6
.
Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các đơn vị sự
nghiệp công lập, xã hội hoá dịch vụ công, từng bước giảm chi lương viên chức từ 6
Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
22
ngân sách nhà nước; thống nhất quản lý chặt chẽ việc thành lập mới các đơn vị sự
nghiệp công lập và số lượng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập.
Sửa đổi quy định về cán bộ, công chức cấp xã theo hướng: Từ nhiệm kỳ
2015 - 2020, cán bộ cấp xã hoạt động theo nhiệm kỳ, được hưởng chế độ theo quy
định của Nhà nước; hết nhiệm kỳ không được bầu vào chức danh mới, nếu đủ tiêu
chuẩn, điều kiện thì được bố trí công tác khác theo quy định, nếu không đủ tiêu
chuẩn, điều kiện thì được nghỉ công tác, hưởng chế độ trợ cấp một lần và đóng bảo
hiểm xã hội tự nguyện. Công chức cấp xã là người đủ tiêu chuần, điều kiện làm
việc theo các chức danh quy định (có thể là công chức cấp huyện được điều động
về làm việc tại xã). Tăng cường kiêm nhiệm công việc, khoán quỹ phụ cấp để giảm
dần số lượng những người hoạt động không chuyên trách gắn với việc tăng thu
4/ Kết luận số 64-KL –TW, Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa
XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ TW đến cơ
sở”.
5/ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11, Ban chấp hành Trung ương khóa XI .
6/ Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên
chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
7/ Hiến pháp 2013.
8/ Luật tổ chức Tòa án 2014.
9/ Luật tổ chức Viện Kiểm sát 2014
1
CHUYÊN ĐỀ 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY
(Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên chính
khối Đảng, Đoàn thể năm 2015)
Phần thứ nhất
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN VÀ NÂNG CAO
NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG HIỆN NAY
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN
1. Một số vấn đề về lý luận
- “Đảng cầm quyền” là khái niệm dùng trong khoa học chính trị, chỉ một
đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền
để điều hành, quản lý đất nước nhằm trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp
mình.
- Khái niệm “Đảng cầm quyền” lần đầu tiên được V.I. Lênin nêu ra. Sau
này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thuật ngữ này để nói về vai trò cầm quyền