BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
HOÀNG THỊ CHINH THON TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM TẠI CÁC LÀNG XÃ
ĐẾN TÌNH TRẠNG KHÁM CHỮA BỆNH
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu sử
dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết
của tôi. Luận văn là sản phẩm của tác giả và không phản ánh quan điểm của trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
Học viên Hoàng Thị Chinh Thon
-ii- LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sự cảm kích sâu sắc của mình đến quý Thầy Cô
trong Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã hướng dẫn tận tình và khích lệ tôi trong
quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình chọn đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được sự góp ý chân thành về ý tưởng của
PGS.TS. Giang Thanh Long (Viện trưởng Viện Chính sách công, trường Đại học Kinh tế
Quốc dân). Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ lớn lao của TS. Nguyễn Việt Cường (giảng viên
của Viện Chính sách công, trường Đại học Kinh tế Quốc dân) và PGS.TS. Nguyễn Thị Minh
(Trưởng khoa Toán Kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân) trong quá trình tập hợp số liệu
cho luận văn. Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy Giang Thanh Long, thầy Nguyễn
Việt Cường và cô Nguyễn Thị Minh. Đặc biệt, tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Lê Việt Phú
(giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulright, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
nhanh chóng được hiện thực hóa. Thứ ba, một mức phí môi trường (không phụ thuộc vào sản
lượng) cần được áp lên các hộ sản xuất thủ công trong làng nghề . Quỹ thu được từ phí này
dùng để chi trả cho những người gánh chịu ngoại tác và giải quyết các vấn đề về môi trường
do chất thải làng nghề gây ra. Ngoài ra, chi phí ngoại tác của chất thải làng nghề cần được
nghiên cứu đánh giá nghiêm túc hơn khi thiết kế các chương trình phát triển làng nghề trong
thời gian tới.
-iv- Cuối cùng, nghiên cứu còn một số hạn chế liên quan đến biến đại diện và vấn đề nội sinh của
biến thu nhập. Tuy nhiên, nghiên cứu kỳ vọng vấn đề nội sinh không ảnh hưởng nhiều đến
các kết quả chính của mô hình là ô nhiễm môi trường do sự xuất hiện của chất thải công
nghiệp, chất thải làng nghề và dư chất trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến thiệt hại sức khỏe
của người dân và tăng chi phí xã hội. Các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này nên chú ý và
khắc phục các hạn chế này của nghiên cứu.
Từ khóa: chất thải làng nghề, khám chữa bệnh, ô nhiễm môi trường, mô hình Poisson, mô
hình Logit
-v- MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
CÁC KHÁI NIỆM viii
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HÌNH VÀ HỘP xii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
Tiếng Anh 39
PHỤ LỤC 43
Phụ lục 1: Chất thải nguy hiểm 43
Phụ lục 2: Tổng quan nghiên cứu 47
Phụ lục 3: Giới thiệu mô hình Poisson 50
Phụ lục 4: Giới thiệu về odds ratio và IRR 51
Phụ lục 5: Biến giải thích của mô hình tổng quát 55
Phụ lục 6: Một số thống kê về các bộ dữ liệu VHLSS 2006, 2008, 2010, 2012 60
Phụ lục 7: Đặc trưng ô nhiễm tại một số loại hình làng nghề 73
Phụ lục 8: Xác định dạng hàm của mô hình chi phí bằng phương pháp đồ thị 74
Phụ lục 9: Lựa chọn mô hình 78
Phụ lục 10: Ước tính chi phí khám chữa bệnh 104
-vii- DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh
AIC
Akaike Information Criterion
BIC
Bayesian Information
Criterion
DRF
Hàm liều lượng và phản ứng Dose-Response Function
DWL
Tổn thất phúc lợi xã hội Deadweight Loss
DNA
Nguyên liệu di truyền ở
đình Việt Nam năm 2008
Vietnam Household Living
Standards Surveys 2008
VHLSS 2010
Khảo sát mức sống hộ gia
đình Việt Nam năm 2010
Vietnam Household Living
Standards Surveys 2010
VHLSS 2012
Khảo sát mức sống hộ gia
đình Việt Nam năm 2012
Vietnam Household Living
Standards Surveys 2012
USD
Đô la Mỹ United States Dollar
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới World Health Organization
WB
Ngân hàng Thế giới World Bank
-viii- CÁC KHÁI NIỆM
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh
hoạt hoặc hoạt động khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2005).
- Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ
lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2005).
- Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường
nhiễm có thể xác định được qua những mất mát hoặc thiệt hại đối với thực vật và động vật
cùng môi trường sống của chúng; nó làm mất đi tính thẩm mỹ; gây suy thoái nhanh chóng cơ
sở hạ tầng và tài sản vật chất; và có nhiều tác động có hại khác nhau đối với sức khỏe và tỷ lệ
tử vong của con người (
Hussen, 2004
).
-
Cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua
ở các mức giá khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định, trong điều kiện các nhân tố
khác không thay đổi (Vũ Kim Dũng và cộng sự, 2012). 1
Tổng chi phí loại bỏ chất thải bao gồm chi phí thiệt hại do ô nhiễm và chi phí kiểm soát (giảm thiểu) ô nhiễm.
Chi phí kiểm soát (giảm thiểu) ô nhiễm là chi phí phát sinh từ hoạt động dọn sạch môi trường nhằm kiểm soát ô
nhiễm bằng một loại công nghệ nào đó. Có thể hiểu theo một nghĩa khác, chi phí này là các khoản chi tiêu của
xã hội nhắm mực đích cải thiện chất lượng môi trường hoặc để kiểm soát ô nhiễm. Cụ thể, chi phí xử lý nước
thải, ống khói, tường cách âm, thiết bị chuyển đổi xúc tác trên xe chở khách
-x- DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1. Kết quả hồi quy của mô hình xác suất đi khám chữa bệnh 24
Bảng 4.2. Kết quả hồi quy của mô hình số lần đi khám chữa bệnh 25
Bảng 4.3. Kết quả hồi quy của mô hình chi phí đi khám chữa bệnh 27
Bảng 4.4. Chi phí khám chữa bệnh 29
Bảng 4.5. Thay đổi cầu khám chữa bệnh khi phát triển làng nghề 30
Bảng 4.6. Tác động của phơi nhiễm chất thải làng nghề theo nhóm tuổi 31
-xii- DANH MỤC HÌNH VÀ HỘP
Hình 2.1. Dòng vật chất biến đổi trong hệ thống 4
Hình 2.2. Hàm liều lượng và phản ứng (dose-response function-DRF) 5
Hình 2.3. Tác động của ô nhiễm môi trường không khí đến sức khỏe của người dân. 6
Hình 2.4. Cơ chế tác động của chất thải đến chi phí xã hội 7
Hình 2.5. Tính toán chi phí xã hội 8
Hình 2.6. Phúc lợi bị mất đi của xã hội do ngoại tác tiêu cực 9
Hình 2.7. Các nhân tố tác động đến nhu cầu khám chữa bệnh 14
Hình 3.2. Hộ có thành viên thuộc các nhóm tuổi 20
Hình 3.3. Hộ có thành viên với bằng cấp cao nhất 20
Hình 3.4. Tỷ lệ hộ có người đi khám chữa bệnh (%) 21
Hình 3.5. Số lần đi khám chữa bệnh (lần) 22
Hình 3.6. Chi phí cho một lần đi khám chữa bệnh (nghìn đồng) 22
Hộp 4.1. Thách thức giám sát thực hiện 33
Hộp P1.1. Các chất đặc trưng gây ô nhiễm môi trường không khí 46
Hình P8.1. Biểu đồ phân phối năm 2012 74
Hình P8.2. Đồ thị kết hợp năm 2012 75
Hình P8.3. Biểu đồ phân phối của một số biến năm 2010 76
Hình P8.4. Đồ thị kết hợp năm 2010 77
-1- CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Bối cảnh chính sách
Trong quá trình phát triển, con người đã nghĩ ra nhiều cách thức để giải quyết các nhu cầu
Đời sống của người dân nông thôn cũng được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây.
Kết quả này có được là nhờ thành quả của các chính sách trong sản xuất nông nghiệp, kết
hợp với phát huy các làng nghề thủ công nghiệp và sự mọc lên như nấm của các khu công
nghiệp ven đô, do đó thu hút một lực lượng lao động đông đảo lao động phổ thông ở nông
thôn. Sản xuất nông nghiệp với năng suất cao nhưng đi kèm với việc sử dụng thêm nhiều
phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Các làng nghề thủ công tạo ra thu nhập ổn định và
cao hơn nghề nông nghiệp, nhưng cũng đồng thời tạo ra các chất gây ô nhiễm môi trường
trong quá trình sản xuất. Các khu công nghiệp cũng tạo ra chất thải đưa vào không khí
hoặc theo dòng chảy của các kênh mương phân tán đi xa. Kiểm chứng tình trạng khám
chữa bệnh của người dân có phụ thuộc vào sự xuất hiện của các nguồn chất thải trên hay
không là minh chứng rất rõ cho mặt trái của quá trình phát triển.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là xem xét sự xuất hiện các nguồn chất thải công nghiệp, chất
thải làng nghề và dư chất trong nông nghiệp có tác động đến tình trạng khám chữa bệnh
của người dân hay không. Tình trạng khám chữa bệnh được thể hiện bằng xác suất đi khám
chữa bệnh, số lần đi khám chữa bệnh và chi phí cho đi khám chữa bệnh của người dân. Do
vậy, luận văn tập trung vào bốn câu hỏi sau:
- Thứ nhất, sự xuất hiện của các nguồn chất thải quanh khu vực sinh sống tác động như thế
nào đến xác suất và số lần đi khám chữa bệnh hàng năm của người dân?
- Thứ hai, sự xuất hiện của các nguồn chất thải tác động như thế nào đến chi phí khám
chữa bệnh hàng năm của người dân?
- Thứ ba, nhóm người nào chịu tác động nhiều nhất khi có sự xuất hiện của các nguồn chất
thải?
- Thứ tư, chính phủ nên có chính sách gì để giảm bớt tác động của các nguồn chất thải đến
phúc lợi của người dân?
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp định lượng với các mô hình ước lượng khác nhau cho từng
câu hỏi. Với câu hỏi thứ nhất, hai mô hình được sử dụng là mô hình Logit và Poisson. Mô
hình Logit dùng để ước lượng xác suất đi khám chữa bệnh của người dân. Mô hình Poisson
là một sản phẩm tất yếu của hoạt động sản xuất. Quá trình sản xuất làm biến đổi các vật
chất (nhân tố) đầu vào cho ra sản phẩm và kèm theo là chất thải (Hình 2.1).
Hình 2.1. Dòng vật chất biến đổi trong hệ thống
Nguồn: Võ Đình Long và cộng sự (2012).
Chất thải được đưa ra môi trường đến một nồng độ nhất định sẽ gây ra tác động tiêu cực.
Lượng chất thải thông thường ở mức độ vừa phải, môi trường tự nhiên sẽ hấp thụ mà
không phát sinh các vấn đề về môi trường. Tuy nhiên, năng lực đồng hóa của môi trường
sẽ không tồn tại với lượng chất thải lớn (dư lượng phân bón hóa học lớn, lượng bụi lớn từ
hoạt động của làng nghề) và những chất thải (chất ô nhiễm) dai dẳng như thuốc trừ sâu
DDT, thủy ngân, chất phóng xạ Nồng độ chất thải vượt quá mức một ngưỡng nhất định
sẽ làm cho chất lượng môi trường suy giảm và tính trạng ô nhiễm môi trường diễn ra.
Trong Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005 chia ra ba cấp độ của ô nhiễm môi
trường: Môi trường bị ô nhiễm, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, môi trường bị ô
nhiễm đặc biệt nghiêm trọng. Các chất thải đặc trưng gây ô nhiễm không khí ở Việt Nam
bao gồm SO
2
, CO, NO
2
, hạt bụi mịn lơ lửng (PM
10
, PM
2,5
), hợp chất hữu cơ bay hơi và chì
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007).
2.2. Tác động của chất thải tới sức khỏe của người dân
Chất thải (chất gây ô nhiễm) ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân phụ thuộc vào các
cá nhân khác nhau. Hình 2.3 chỉ ra rủi ro sức khỏe khi tiếp xúc với chất thải trong không
khí. -6-
Hình 2.3. Tác động của ô nhiễm môi trường không khí đến sức khỏe của người dân
Nguồn: Environmental Health and Engineering, Inc (2011).Những rủi ro về sức khỏe khi tiếp xúc với chất thải được sắp xếp theo mức độ nghiêm
trọng từ thấp đến cao. Tác động đến sức khỏe của chất thải cụ thể được giới thiệu trong
Bảng P1.2, Bảng P1.3 và Hộp P1.1 (Phụ lục 1). Phần tiếp theo trình bày chi phí của người
dân khi có rủi ro về sức khỏe.
2.3. Chi phí bệnh tật
Chi phí phát sinh khi có rủi ro về sức khỏe gồm hai phần: chi phí trực tiếp và chi phí gián
tiếp. Chi phí điều trị (khám bệnh, thuốc mem, đi lại, thực hiện các tiểu phẫu hoặc đại
phẫu, ) là chi phí trực tiếp. Những chi phí này có thể dễ dàng nhận ra và lượng hóa khá
chính xác bằng tiền. Chi phí gián tiếp khó lượng hóa bằng tiền hơn và nhiều khi còn gợi
lên các tranh cãi. Chi phí gián tiếp bao gồm thu nhập mất đi trong thời gian nghỉ điều trị,
Chết
Ung thư phổi, suy tim
,
bệnh kinh niên về phổi
Đau tim, đột quỵ, bệnh hô hấp, đi
Nguồn: European Commission (2000).
Chất thải
Chi phí xã hội
Chất lượng
nước, chất
lượng không
khí
Tiếp xúc Liều lượng Tác động
-8- Các chất thải không được xử lý thải trực tiếp ra môi trường (môi trường nước và môi
trường không khí). Người tiếp xúc với các chất thải sẽ có tổn hại về sức khỏe phụ vào thời
gian tiếp xúc và liều lượng tiếp xúc. Các tổn hại về sức khỏe sẽ gây ra các chi phí trực tiếp
và gián tiếp. Tổng tất cả các chi phí của các cá nhân là chi phí xã hội của chất gây ô nhiễm.
Chi phí xã hội của chất thải được tính toán theo các bước sau:
Hình 2.5. Tính toán chi phí xã hội
Nguồn: European Commission (2000).
Theo Hình 2.5, chi phí chất thải dưới góc độ xã hội được tính theo công thức sau:
Chi phí xã hội (chi phí ngoại tác) = Số người có nguy cơ mắc bệnh ×DRF×Chi phí phát
sinh=N×DRF×C
Chi phí ngoại tác của chất thải gây tổn thất phúc lợi xã hội. Tính toán các chi phí loại bỏ
chất thải là một yếu tố rất quan trọng để đưa ra các quyết định sản lượng hàng hóa-dịch vụ
tối ưu cho xã hội. Tuy nhiên, thị trường tư nhân thường đưa ra cá quyết định sản lượng cao
hơn mức tối ưu cho xã hội, do những chi phí loại bỏ chất thải không được phản ánh hết vào
cấu trúc chi phí của doanh nghiệp. Vấn đề trên được gọi là ngoại tác tiêu cực-một dạng của
thất bại thị trường. Tổn thất phúc lợi xã hội (phần phúc lợi của xã hội bị mất đi) do ngoại
liệu là các hạt bụi mịn hòa lẫn với axit sunfat, các chất hữu cơ genotoxic, và các nguyên tố
độc hại khác. Các chất hữu cơ có ảnh hưởng đến các kim loại vi lượng trong máu và DNA
kép trong tế bào bạch cầu. Các chất ô nhiễm cũng tác động đến hô hấp và chức năng của
phổi.
Gauderman và cộng sự (2000) cho thấy ô nhiễm không khí tác động mạnh đến chức
năng phổi của trẻ em ngay cả khi không bị bệnh hen suyễn. Nghiên cứu thu thập số liệu về
nồng độ các chất thải (O
3
, NO
2,
PM
10
, PM
2,5
, HCl, và HNO
3
) tại 12 cụm dân cư tại
California, Mỹ (1994-1996) kết hợp với số liệu về chức năng phổi của trẻ em lớp 4, lớp 7
và lớp 10. Hồi quy tuyến tính đã được sử dụng để cho thấy ảnh hưởng của các chất thải
(trừ O
3
) đến chức năng phổi của trẻ.
Künzli và cộng sự (2000) dùng số liệu của bốn nước
(Áo, Pháp, Thụy Sỹ)
khẳng định tác động của PM
10
tới tình trạng bệnh tật và tử vong của
người phơi nhiễm. Các rủi ro sức khỏe bao gồm: nhập viện vì bệnh tim mạch và bệnh hô
P
MSC
, NO
2,
CO. Nhất là tình trạng thiếu máu cục bộ ở những
người dưới 65 tuổi và đột quỵ ở những người trên 65 tuổi. Mô hình hồi quy Poisson được
sử dụng để loại bỏ các yếu tố tác động mang tính dài hạn, yếu tố mùa vụ, dịch cúm, các
yếu tố khí tượng của tám thành phố lớn ở châu Âu mà nghiên cứu quan tâm đến.
Ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng lao động. Nghiên cứu dịch tễ
học của WB (2007) đã khẳng định ô nhiễm nguồn nước dùng trong ăn uống dẫn đến bệnh
tiêu chảy và ung thư tại các vùng nông thôn Trung Quốc. Carson và cộng sự (2009) cho
thấy tác động của nguồn nước ăn uống bị nhiễm arsen đã làm giảm số giờ lao động trong
hộ tại Bangladesh. Số giờ lao động được tính cho cả những người làm việc tạo ra thu nhập
và những người làm việc nhà.
Chất ô nhiễm cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi.
Radim và cộng sự (1996) đã chỉ
ra tình trạng sinh non và thiếu cân ở trẻ sơ sinh cao hơn hẳn vào mùa đông so với mùa hè.
Nguyên nhân chính là người mẹ khi mang thai tiếp xúc với các chất thải ở nồng độ cao do
tình trạng sử dụng chất đốt tăng mạnh trong mùa đông.
Radim và cộng sự (2005) đã tổng
hợp hàng loạt các nghiên cứu liên quan đến các chất ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến kết
quả sinh sản. Các nghiên cứu này được xuất bản từ những năm 1992 đến đầu những năm
2000. Các chất thải gây tác động tiêu cực thường thấy trong các nghiên cứu là NO
2,
PM
10
,
PM
2,5
, NO
x
. Theo tổng hợp của Radim và cộng sự, tiếp xúc với các chất thải (tùy theo
chứa và mỏ quặng fluor trong xã. Lê Hoàng Ninh và cộng sự (2012) cho thấy tình trạng
sức khỏe của trẻ em 6-10 tuổi bị ảnh hưởng bởi môi trường ô nhiễm và nguồn nước sử
dụng. Bệnh điếc nghề nghiệp và bụi phổi silic tăng lên do bụi và tiếng ồn vượt mức cho
phép ở các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp thuộc tỉnh Đồng Nai (Ngô Thị Hiền và
cộng sự, 2012). Bên cạnh các nghiên cứu định tính, Nguyễn Việt Cường và cộng sự (2011)
dùng phương pháp khác biệt trong khác biệt với bộ dữ liệu Điều tra mức số hộ gia đình
(VHLSS) 2002, 2004 và 2006. Nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của việc sử dụng nước máy
đến số ngày nghỉ vì bệnh tật. Tuy nhiên, tỷ lệ người trong gia đình bị bệnh lại không bị ảnh
hưởng bởi việc sử dụng nước máy.
Cùng chia sẽ mối quan tâm về ô nhiễm môi trường, nghiên cứu này cũng xem xét ảnh
hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người thông qua tình trạng khám chữa
bệnh của người dân. Nghiên cứu không sử dụng trực tiếp số liệu về nồng độ các chất thải
như các nghiên cứu trên làm biến giải thích mà xem xét tác động các nguồn chất thải đã