Tác động của việc ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO tới ngành thép Việt Nam - Pdf 32

Lời nói đầu
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu hớng toàn cầu. Liên minh
kinh tế, liên hết kinh tế không chỉ diễn ra ở một khu vực kinh tế, mà nó sảy ra
trên toàn cầu. WTO là một tổ chức nh thế.
Hội nhập không phải chỉ là câu chuyện ra nhập để cùng quan hệ cùng
trao đổi, đó là câu chuyện hội về hội nhập nh thế nào, ảnh hởng của hội nhập
đến nền kinh tế, cơ hội và thách thức mà chúng ta gặp phải.
Một năm qua, Việt Nam hội nhập vào tổ chức thơng mại thế giới WTO,
vậy cài mà chúng ta đợc là gì, cái chúng ta mất là gì? Đây không phải là vấn
đề chỉ nhà nớc mới quan tâm mà tất cả các doanh nghiệp trong nớc đều quan
tâm, tất cả các ngành, tất cả các lĩnh vực kinh tế.
Với tốc độ tăng trởng kinh tế 8.5%/năm, kinh tế Việt Nam đang có một
sự khởi đầu tốt cho công cuộc hội nhập hay không? Thực tế tốc độ tăng trởng
kinh tế cao, Việt Nam đang phải đối mặt với một tỷ lệ lạm phát đạt kỉ lục
12,6% , vậy phản ứng của Việt Nam trớc tác động của hội nhập cha tốt. Vấn
đề đặt ra làm thế nào để tăng trởng kinh tế phải là tăng trởng bền vững. Có vậy
mới mong Việt Nam phát triển cùng xu thế hội nhập nh Trung Quốc, năm con
rồng Châu á...
Muốn vậy, bản thân từng ngành kinh tế phải chủ động trớc cơ hội và
thác thức thị trờng đem lại bên cạnh sự hỗ trợ của các chính sách nhà nớc. Bài
viết này chọn đề tài "Tác động của việc ra nhập tổ chức thơng mại thế giới
WTO tới ngành thép Việt Nam" để xem xét đánh giá một khía cạnh nào đó
của việc Việt Nam gia nhập WTO tới nền kinh tế nói chung, và ngành thép nói
riêng. Có thể nói, năm qua cũng là một năm hết sức thăng trầm của ngành thép
Việt Nam, với không ít các cơn sốt giá khiến cho các nhà thầu, chủ xây dựng
phải lao đao. Vậy nguyên nhân là do đâu. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập
kéo theo cạnh tranh gay gắt nh hiện nay, liệu ngành thép Việt Nam có đứng
vững hay không?
1
CHƯƠNG I
Những lí luận chung về tổ chức thơng mại

để thu hút vốn, khoa học công nghệ, cũng nh trình độ quản lí để phát triển
kinh tế.
Trên thực tế đã có rất nhiều nớc đi lên từ mở cửa hội nhập nh Autralia,
năm con rồng Châu á, ấn Độ
3. Việt Nam hội nhập WTO
a. Tiến trình hội nhập WTO của Việt Nam
Từ tháng 1 năm 1995 Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO. Đến
tháng 8 năm 1996 Việt Nam nộp Bị vong lục về chính sách thơng mại. Trải
qua ba vòng đàm phán (1998-2000, 2000-2002, 2002-2006), đến ngày 26
tháng 10 năm 2006 kết thúc vòng đàm phán đa phơng cuối cùng. Và ngày
1.11.2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức th-
ơng mại thế giới WTO.
.
b. Kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập tổ chức thơng mại thế
giới WTO
Gia nhập WTO là một xu hớng tất yếu vì thế chúng ta không thể đứng
ngoài cuộc chơi. Chúng ta sẽ có cơ hội và thuận lợi bên cạnh những thách thức
phải vợt qua.
Theo các cam kết những hàng rào thong mại sẽ đợc dỡ bỏ, các doanh
nghiệp cùng với sản phẩm của Việt Nam có thể dễ dàng tiếp cận thị trờng lớn
3
trên thế giới nh Mỹ, EU, Trung Quốc, và 149 n ớc thành viên WTO. Chúng
ta sẽ có đợ luật chơi bình đẳng, sự cạnh tranh công bằng với các nớc thành
viên trong WTO.
*Cơ hội khi gia nhập WTO:
Theo phân tích của thủ tớng Nguyễn Tấn Dũng thì khi tham gia vào tổ
chức thơng mại thế giới, nớc ta đứng trớc nhiều cơ hội lớn:
Một là: Đợc tiếp cận thị trờng hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nớc
thành viên với thuế nhập khẩu đã đợc cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các n-
ớc mở cửa theo các Nghị định th gia nhập của các nớc này, không phân biệt

hoà bình, hợp tác và phát triển.
* Thách thức khi gia nhập WTO :
Bên cạnh những cơ hội mà chúng ta có thể tận dụng, kinh tế Việt Nam
vẫn gặp phải không ít những khó khăn khi gia nhập tổ chức thơng mại thế giới
WTO. Thủ tớng chính phủ cũng đã nhấn mạnh những thách thức mà chúng ta
phảI đối đầu:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn, trên
bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với
sản phẩm các nớc, giữa doanh nghiệp nớc ta với doanh nghiệp các nớc, không
chỉ trên thị trờng thé giới mà ngay trên thị trờng nớc ta do thuế nhập khẩu phải
cắt giảm từ mức trung bình 17.4% hiện nay xuống trung bình 13.4% trong
vòng từ 3-5 năm, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn.
Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh
nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nớc và nhà nớc
trong việc hoạch định chính sách quản lí và chiến lợc phát triển nhằm phát huy
nội lực và thu hút đầu t bên ngoài. Chiến lợc phát triển có phát huy đợc lợi thế
so sánh hay không, có thể hiện đợc khả năng phản ánh vợt trớc trong một thế
5
giới biến đổi nhanh chóng hay không. Chính sách quản lí có tạo dợc chi phí
giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay không, có tạo dụng đ-
ợc môi trờng kinh doanh, đầu t thông thoáng, thuận lợi hay không.
Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của
toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia.
Hai là: Trên thế giới sự phân phối lợi ích của toàn cầu hoá là không
đồng đều. Những nớc có nền kinh tế phát triển thấp đợc hởng lợi thấp hơn. ở
mỗi quốc gia sự phân phối lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân c đ-
ợc hởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy c
phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân
hoá giàu nghèo mạnh lên. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an
sinh đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tôt chủ chơng của Đảng:

mại thế giới đã đợc chúng ta nhìn nhận từ rất lâu. Riêng đối với ngành thép thì
những cơ hội đó là:
Yếu điểm lớn nhất của ngành thép Việt Nam đó là phôi thép. Từ trớc tới
nay việc sản xuất phôi thép trong nớc còn rất hạn chế, chủ yếu nhập khẩu bên
ngoài với giá cao. Việc mỏ cửa sẽ đem lại cho chúng ta nhiều nguồn nhập hơn.
Mở cửa chúng ta có cơ hội thu hút vốn đầu t nớc ngoài cho việc đầu t
sản xuất phôi thép, đầu t máy móc trang thiết bị hiện đại cho ngành thép Việt
Nam vốn đang còn rất lạc hậu.
Trong hội tảo Công nghệ thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
WTO do Viện chiến lợc chính sách công nnghệ (IPSI) phối hợp với tập đoàn
Sojitz(Nhật Bản) tổ chức ngày 2/8/2007 đã nhận định ngành thép Việt nam có
một vai trò rất quan trọng không chỉ đối với thị tròng nội địa mà còn cả đối với
thị trờng thế giới. Vì thế hội nhập chính là cơ hội tốt để ngành thép phát triển
thị trờng tiêu thụ ra thị trờng thế giới.
7
3. Thách thức hội nhập đối với ngành thép
Nói đến hội nhập với muôn vàn cơ hội cho sự phát triển kinh té, nhng
hội nhập không phải dễ dàng. Đặc biệt đối với ngành thép Việt Nam khi còn
qua bé nhỏ và lạc hậu so với nến kinh tế thế giới , lại đợc bảo hộ bởi những
chính sách của chính phủ thì thách thức mà chúng ta gặp phải là rất lớn:
Thực hiện cam kết hội nhập, Việt Nam phải thực hiện hạn chế dần đi
đến xoá bỏ các hàng rào kĩ thuật đối với hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác,
công cụ để bảo hộ cho sản xuất trong nứơc không nữa. Với hệ thống pháp luật
cha hoàn thiện, còn nhiều thiếu sót, ngành thép Việt Nam phải tự mình vơn
lên. Đặc biệt trong vấn đề quản lí chất lợng, đăng kiểm nhãn mác, bảo vệ môi
trờng còn nhiều bất cập; công tác quản lí nhà nớc còn chồng chéo, thiếu tính
ổn định và nhất quán giữa các bộ ngành khi xử lí các vấn đề liên quan đến
ngành thép nh thuế, bình ổn thị trờng nhập khẩu nguyên vật kiệu, cấp phép
nhập khẩu là nguyên nhân đẩy ngành thép tới tình thế khó xử , lao đao tr ớc
những đòi hỏi ứng xử của thị trờng.

đạt 1.217 triệu tấn, tăng đén 1.305 triệu tấn năm 2007 và dự báo năm 2008 lên
đén 1.385 triiêụ tấn tăng 6% so với năm 2007.Trong đó Trung quốc tiếp tục là
đọng lực tăng trởng nhu cầu thép toàn cầu, chiếm 55% tổng mức tiêu
thụ.Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do quá trình đô thị hoá tăng nhanh
chóng tiếp tục làm tăng nhu cầu đối với thép xây dựng
Tiêu thụ thép của ấn Độ tăng 13% vào năm 2007 lên 53 triệu tấn và
tiếp tục tăng 9% trong năm 2008 , nhờ có chính sách khuyến khích tiêu thụ
thép của chính phủ ấn Độ và các chơng trình tăng đầu t cho các công trình
phát triển kết cấu hạ tầng.
9
Tiêu thụ thép của Nga dự báo tăng 10% trong năm 2007 lên 43 triệu tấn
và tiếp tục tăng 7% trong năm 2008 , chủ yếu do nhu cầu phát triển ngành cơ
khí, và nhu cầu cải tạo công trình kết cấu hạ tầng và sự phát triển của ngành
xây dựng.
Tiêu thị thép của Hoa kì đạt 115 triệu tăn và tiếp tục tăng 1% trong năm
2008,lên 116 triệu tấn do nhu cầu của ngành ché tạo máy, đặc biệt là ngành
sản xuất ôtô .
*Tiêu thụ thép trong n ớc
Nhu cầu tiêu thụ thép trong nớc ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng
của tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoà đất nớc.
Tng trng GDP (%); II- Tng trng công nghip (%); III-
Tng trng sx thép (%); IV- Tng tiêu th thép (%)
Giai đoạn I II III IV
1996-2000 6,94 13,57 27 37
2001-2005 7,5 14,08 14 78
2006-2010 7,5 10,38 10 123
2011-2015 7,0 8-9 9-9,5 170
Từ thực tế tiêu thụ thép trên thế và trong nớc đã cho thấy sự quan trọng
cần thiết phải phát triển ngành thép trong nền kinh tế quốc dân.
2. Quan điểm của nhà nớc đối với sự phát triển ngành thép trong các

các nguồn quặng trong nớc và công trình sản xuất thép lá, thép tấm;
4. Về công nghệ:Trong giai đoạn đến năm 2020 vẫn sử dụng công
nghệ truyền thống là sản xuất lò cao luyện thép. Đồng thời tích cực nghiên cứu
11
các công nghệ mới tiên tiến, hiện đại đẻ phat triển ngành thép. Đối với khu
liên hợp luyện kim khép kín có vốn đầu t lớn và thời gian xây dựng kéo dài, có
thể triển khai trớc khâu sản xuất cán kéo. Sau đó sẽ phát triển khâu sản xuất
phôi thép cán từ quặng.
5. Nhà nớc có chính sách hỗ trợ tích cực cho ngành thép trong khuôn
khổ cho phép của các cam kết thơng mại và hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Tham gia AFTA, gia nhập WTO đồng nghĩa với việc xoá bỏ hàng
rào thuế quan, ngành thép phải củng cố mở rộng từ khâu sản xuất đến phân
phối với các ngành kinh tế khác để mở rộng thị trờng và cạnh tranh đợc ở thi
trờng trong nớc và thế giới.
7. Đi đôi với việc xây dựng các nhà máy hiện đại, phải coi trọng đầu t
chiều sâu, đổi mới công nghệ, hiện đại hoá các cơ sở hiện có lên ngang bằng
tiên tiến trong nớc và khu vực.
8. Quan tâm công tác phát triển nguồn nhân lực và phát triển khoa học
công nghệ phục vụ ngành.
Chơng ii
thực trạng của ngành thép Việt Nam sau
khi gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới
WTO
I. quá trình phát triển của ngành thép
1. Quá trình phát triển của ngành thép trong nền kinh tế thế
giới
Trên thế giới ngành thép ra đời từ rất lâu đời, nhng không phải ở tất
cả các nớc trên thé giới. Do vậy chúng ta sẽ nghiên cứu sự hình thành và
phát triển của nó ở một số nớc điển hình nh các nớc G7, NIC, Trung Quốc
a. Các nớc G7

kiến của 2 nớc này lần lợt là 47,2 triệu tấn và 22,1 triệu tấn. Nh vậy, tỷ lệ sản
xuất và đáp ứng nhu cầu trong nớc là rất cao ( xấp xỉ 100% đối với Hàn Quốc
và 88% đối với Đài Loan).
Do các nớc NIC đang ở giai đoạn cao của quá trình công nghiệp hoá
nền kinh tế nên mức tiêu thụ thép bình quân đầu ngời năm 2003 của Hàn Quốc
và Đài Loan tơng ứng là 955 KG và 878 kg. Tỷ lệ sản xuất thép dẹt/thép dài
của Hàn Quốc là 58% và của Đài Loan là 56/44.
c. Tình hình sản xuất thép thế giới hiện nay nói chung
Theo Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên Ôxtrâylia (ABARE), sản lợng thép
thô thế giới năm 2007 tăng khoảng 7%, lên 1,34 tỷ tấn và tiếp tục tăng 6% vào
năm 2008, lên 1,41 tỷ tấn. Trong đó Trung Quốc là nớc có tốc đọ tăng sản l-
ợng cao nhất, chiếm 70% mức tăng tổng sản lợng thép năm 2007 và 60%mức
tăng sản lợng của năm 2008. Sản lợng của Nga, ấn Độ và Bra-xin có triển
vọng tăng lên trong khi sản lợngcủa Hoa Kỳ dự báo sẽ giảm xuống do sức ép
cạnh tranh từ Trung Quốc và nhu cầu yếu của các ngành công nghiệp chế tạo
Hoa Kỳ.
2. Các giai đoạn phát triển của ngành thép Việt Nam
Ngành thép Việt Nam bắt đầu đợc xây dựng từ đầu những năm 60. Khu
liên hợp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp ta xây dựng đã cho ra
mẻ gang đầu tiên vào năm 1963. Công xuất thiết kế lúc đó của khu gang thép
là 100 ngàn tấn/ năm. Song do chiến tranh và khó khăn nhiều mặt, 15 năm sau,
Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên mới có sản phẩm thép cán. Năm 1975,
Nhà máy luyện cán thép Gia Sàng do Đức(trớc đây) giúp đã đi vào sản xuát.
Công nghệ thiết kế của cả khu liên hợp lên đến 10 vạn tấn/năm. Từ đó đến nay
ngành thép Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạ phát triển:
14
Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1989:Ngành thép gặp rất nhiều khó
khăn do kinh tế đất nớc lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển đ-
ợc và chỉ duy trì mức sản lợng từ 40.000 85.000 tấn thép/năm. Trong giai
đoạn này, công ty Luyện kim đen Miền Nam đơc thành lập(1976) trên cơ sở

cho một ngành công nghiệp đòi hỏi một trình độ công nghệ cao nhất định,
ngành thép Việt Nam vẫn còn non trẻ so với công nghiệp thép thế giới. Nhng
chúng ta cũng phải ghi nhận những thành tựu mà nó đã đạt đợc, đặc biệt trong
10 năm đổi mới 1995 2005, đạt đợc một số các chỉ tiêu sau:
-Luyện thép lò điện đạt 500.000 tấn/năm.
- Công suất cán thép đạt 2,6 triệu tấn/năm (kể cả các đơn vị ngoài Tổng
công ty thép Việt Nam )
- Luyện cán thép đạt 470.000 tấn/năm.
- Cán thép đạt 760.000 tấn/năm.
- Sản phẩm thép thô (phoi và thỏi ) huy đọng đợc 78% công suất thiết
kế.
-Thép cán dài (thép tròn, thép thanh, thép hình nhỏ và vừa) đạt tỷ lệ huy
động 50% công suất.
-Sản phẩm thép gia công sau cán (ống hàn, tôn mạ các loại) huy động
90% công suất.
II. thực trạng của ngành thép Việt nam
1. Tình hình sản xuất trong nớc
a. Cơ cấu sản phẩm của ngành thép hiện nay
Hiên nay ngành thép Việt Nam mới chỉ sản xuất đợc các loại thép tròn,
thép vằn (10 40mm), thép cuộn (6 -10 mm), thép hình cỡ nhỏ, cỡ vừa (gọi
chung là sản phẩm dài) phục vụ cho xây dựng và gia công, sản xuất ống hàn,
tôn mạ, hình uốn nguội, cắt xẻ từ sản phẩm dẹt nhập khẩu. Các sản phẩm dài
16
trong nớc cũng phần lớn đợc cán từ phôi thép nhập khẩu khả năng tự sản xuất
phôi thép trong nớc còn rất nhỏ bé, chỉ đáp ứng đợc khoảng 28%, còn 72%
nhu cầu phôi thép cho các nhà máy đều phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Trong nớc cha có nhà máy cán thép dẹt (tấm, lá cán nóng, cán nguội).
Cha có cơ sở tập trung chuyên sản xuất đặc biệt phục vụ chế tạo cơ khí. Hiện
nay chỉ mới sản xuất 1 số chủng loại thép đặc biệt với quy mô nhỏ ở một số
nhà máy cơ khí và nhà máy thép của tổng công ty thép Việt Nam.

c. Nguyên vật liệu
Để tiến hành sản xuất, những nguyên liệu cần thiết bao gồm qặng sắt là
nguyên liệu chính, các tổ hợp các bon, cùng một số các nhiên liệu nh điện,
chất đốt (chủ yếu là than cốc ). ở Việt Nam các nguồn nguyên liệu này không
hiếm song khả năng khai thác thì lại bị hạn chế, dẫn đến chúng ta vẫn cha chủ
động đợc nguồn nguyên liệu đầu vào. Việt Nam cha tự sản xuất đợc phôi thép,
thép cán dẹt, phần lớn phải nhập khẩu.
Rõ ràng về tiềm lực phát triển, ngành thép Việt Namvẫn hơn hẳn nhiều
nớc trên thế giới. Lại có nguồn nhân công rẻ, nhng chúng ta vẫn cha có năng
lực khai thác đợc hết khả năng vốn có của mình.
d. Chất lợng sản phẩm
Chất lợng sản phẩm cán thép xây dựng của Tổng công ty thép Việt Nam
và khối liên doanh nhìn chung không thua kém sản phẩm nhập khẩu.Chỉ có
các sản phẩm của cơ sở sản xuất nhỏ (<20.000 tấn/năm), đặc biệt là các cơ sở
có khâu luyện thép thủ công chất lợng kém và không đạt yêu cầu.
e. Đánh giá thực trạng sản xuất thép Việt Nam
Những năm qua tuy ngành thép đã đợc đầu t đáng kể và có bớc phát
triển tơng đối khá mạnh (cả quốc doanh và ngoài quốc doanh), đã đạt đợc tốc
độ tăng trởng khá cao, có tiềm lực gấp hàng chục lần so với năm 1990 và đạt
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status