1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH SẢN XUẤT
GIỐNG CUA BIỂN (Scylla paramamosain) Ở MỘT SỐ TỈNH
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Cán bộ hướng dẫn:
PGs, Ts TRẦN NGỌC HẢI
Ths TRẦN MINH NHỨT Cần Thơ, 12/ 2014
3
HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH SẢN XUẤT GIỐNG
CUA BIỂN (Scylla paramamosain) Ở MỘT SỐ TỈNH ĐỔNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Liêu Bình Nhưỡng
Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ
ABSTRACT
Through the survey on technical and financial aspects of 25 mud crab hatcheries
in three provinces Bac Lieu, Ca Mau, Kien Giang using prepared forms, the results
những đối tượng giáp xác quan trọng trong nuôi trồng thủy sản ở các nước vùng
Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và ở nước ta. Trong sản xuất giống cua biển,
thành công đầu tiên trong ương nuôi và xác định các giai đoạn ấu trùng cua biển
được thực hiện bởi Ong Kah Sin năm 1964 (Ong, 1964). Hiện nay, nhiều quốc
gia cũng đã đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển sản xuất giống cua biển đại trà,
cung cấp cho nghề nuôi.
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu trước đây về sản xuất
giống từ những năm 1995 đến nay (Tran Ngoc Hai, 1997; Nguyễn Cơ Thạch,
2004; Truong Trong Nghia, 2007). Hiện nay, nghề sản xuất giống và nuôi cua
thương phẩm phát triển khá nhanh ở nước ta, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL. Theo
kết quả điều tra Chi cục nuôi trồng Thủy sản 3 tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà
Mau (năm 2014) thì hiện nay có khoảng 296 trại sản xuất giống cua biển. Tuy
nhiên, nghề này vẫn còn phải đòi hỏi nhiều kỹ thuật đối với người sản xuất.
Nhằm làm cơ sở đánh giá và phát triển nghề sản xuất giống cua ở ĐBSCL, thông
qua việc điều tra khảo sát các trại giống, đề tài “hiện trạng kỹ thuật và tài chính
sản xuất giống cua biển (Scylla paramamosain) ở một số tỉnh ĐBSCL” sẽ phân
tích hiện trạng về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của các trại sản xuất giống cua biển
ở ĐBSCL.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 09/2014 đến tháng 12/2014 thông
qua phiếu phỏng vấn khảo sát 25 trại sản xuất giống cua biển ở các tỉnh Kiên
Giang (n=10), Bạc Liêu (n=5), Cà Mau (n=10) theo biểu mẫu. Nội dung chủ yếu
của biểu mẫu phỏng vấn gồm các vấn đề về kỹ thuật như thiết kế trại, phương
pháp nuôi vỗ cua mẹ, phương pháp ương nuôi ấu trùng và cua con; các vấn đề về
hiệu quả kinh tế của sản xuất giống như sản lượng cua sản xuất, thu nhập, chi phí
và lợi nhuận. Ngoài ra, thông tin chung về tình hình sản xuất giống cua cũng
được thu thập từ các Chi cục Thủy sản các tỉnh, liên quan đến số lượng trại sản
xuất cua, sản xuất tôm, tổng sản lượng cua giống. Các số liệu thu thập sẽ được
tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, dựa
trên phần mềm Excel để phân tích, so sánh.
Số đợt sản xuất trong 1 năm (đợt)
7,4 ± 3,72
7,2 ± 1,30
7,6 ± 4,93
Tổng sản lượng cua giống (triệu con)
59,2
100
700
2. Kết cấu của các trại sản xuất giống cua biển
Nhìn chung, kết cấu trại sản xuất giống cua biển của 3 tỉnh Kiên Giang,
Bạc Liêu, Cà Mau cũng không quá đặc thù. Qua kết quả điều tra, tất cả các trại
sản xuất giống cua biển đều sử dụng bể composite hình tròn để ương zoae và các
bể xi măng hình vuông với thể tích lớn để ương megalopa, cua con. Kích cỡ
trung bình của các bể ương trong khoảng 1 - 8 m
3
. Các trại sử dụng bể nuôi cua
mẹ và nuôi cua mang trứng đơn giản chỉ là xô nhựa khoảng 10 - 60 lít. Đối với bể
ương, các trại sản xuất giống cua biển có quy mô trong khoảng 116,31 - 147,64
m
3
, có trại lên đến 525 m
3
/trại. Theo kết quả điều tra của Trần Ngọc Hải và
Nguyễn Thanh Phương (2009) ở Cà Mau các trại có quy mô trong khoảng 89,77 -
99,26 m
3
, cao nhất 240 m
3
/trại cho thấy quy mô sản xuất của các trại ở ĐBSCL
64
4,67 ± 14,09
Thể tích mỗi bể (m
3
/bể)
0,012
2
0,22 ± 0,54
Bể ương
Zoae:
Tổng thể tích bể ương (m
3
/trại)
39
525
147,64 ± 133,64
Thể tích mỗi bể (m
3
/bể)
1
8
3,40 ± 2,21
Bể ương
Megalopa:
Tổng thể tích bể ương (m
3
/trại)
15
500
123,80 ± 112,04
sò huyết, nghêu, vọp, mực, hào, tôm, ốc mượn hồn với tỷ lệ cho ăn theo nhu cầu.
Thay nước hàng ngày với tỷ lệ 30 - 100% lượng nước trong bể. Nước nuôi có độ
mặn trung bình 26 - 30%o và nhiệt độ 27 – 32,5
0
C. Tất cả các trại (100% số trại)
đều không che tối bể trong quá trình nuôi vỗ. Trung bình 7 - 18 ngày cua cái sẽ
đẻ. Thời gian mang trứng của cua là 10 - 12 ngày, trung bình là 11 ngày sau khi
ấp, trứng sẽ nở. Kết quả phân tích ảnh hưởng của kích cỡ cua mẹ đến thời gian
7
nuôi vỗ cho thấy cua có kích cỡ cua lớn thường chậm đẻ trứng hơn, nhưng sự
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
Trong quá trình khảo sát đã có 20% số trại sản xuất giống cua không nuôi
vỗ cua mẹ, các trại này mua cua mẹ đã ôm trứng sẵn tại các nhà phân phối. Nhìn
chung, phương pháp và kết quả nuôi vỗ cua mẹ ở 3 tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và
Cà Mau là khá ổn định. Các nơi trên thế giới cũng có phương pháp nuôi đa dạng
gồm nuôi riêng lẻ từng con trong bể nhỏ (Tran Ngoc Hai, 1997; Truong Trong
Nghia 2007;) hay nuôi chung nhiều con trong bể lớn; loại bỏ 1 mắt hay 2 mắt
(Tran Ngoc Hai 1997). Theo nghiên cứu gần đây cho thấy cua mẹ có trọng lượng
300 - 500 gam được chọn để tham gia sinh sản nhiều hơn với sản lượng đạt
217,186 ± 67,430 con/cua mẹ, tỷ lệ sống của ấu trùng từ Z1 đến C1 đạt khá cao
6,41 ± 1,72%, (Lâm Tâm Nguyên, 2010).
Bảng 3: Thông tin kỹ thuật nuôi vỗ cua mẹ và cua mang trứng
Đặc điểm kỹ thuật
Thấp
nhất
Cao
nhất
Trung bình
Cho ăn (lần/ngày)
1
3
1,45 ± 0,60
Thay nước (%/ngày)
30
100
89,00 ± 22,92
Độ mặn nước (%o)
26
30
27,15 ± 1,17
Nhiệt độ nước (
o
C)
27
32,5
29,35 ± 1,62
Thời gian đẻ sau khi cắt mắt (ngày)
2
30
12,98 ± 8,33
Thời gian ấp trứng (ngày)
10
12
10,70 ± 0,80
Thời gian trứng nở (giờ)
0,08
4
0,82 ± 1,10
Nước
ương:
Độ mặn nước ương (%o)
25
30
27,24 ± 1,28
Mức nước ương (m)
0,8
1,7
1,11 ± 0,21
Số lần thay nước (ngày/lần)
2
6
4,20 ± 1,29
Tỉ lệ thay nước (%/ lần)
0
100
30,28 ± 21,46
Thức ăn
Artemia:
Số lượng
(g/m3/ngày)
Zoae1 - Zoae3
4,5
30
12,95 ± 7,21
Zoae3 - Zoae5
5
69,23
20,45 ± 15,54
9
Theo bảng 4, thức ăn chủ yếu cho ương ấu trùng Zoae là Artemia cho tất
cả các giai đoạn. Giai đoạn Zoae 1 - Zoae 3 cho ăn Artemia bung dù mà không có
luân trùng, giai đoạn Zoae 3 trở đi cho ăn bằng ấu trùng Artemia mới nở và bổ
sung thêm một ít thức ăn nhân tạo. Lượng Artemia ấp cho ăn trung bình trong
khoảng 12,95 – 20,45g/m
3
/ngày, được chia làm nhiều lần trong ngày (2 - 6
lần/ngày) để tăng hiệu quả bắt mồi. Các trại cũng sử dụng thức ăn nhân tạo (thức
ăn dùng trong ương ấu trùng tôm sú) cho ương Zoae, tuy nhiên, lượng cho ăn rất
hạn chế. Phương pháp cho ăn này giúp khâu cho ăn, chăm sóc đơn giản hơn do
không phải nuôi tảo và luân trùng phải yêu cầu phương tiện đầy đủ, kỹ thuật cao,
tốn kém lao động và chi phí. Mặc dù việc cho ấu trùng ăn chỉ hoàn toàn bằng
Artemia bung dù và Artemia mới nở ở giai đoạn Zoae1 - Zoae5 đã được nghiên
cứu thử nghiệm nhiều nơi và cho thấy vẫn đạt kết quả, tuy nhiên, đa số cho rằng,
việc bổ sung luân trùng ở giai đoạn Zoae 1 đến Zoae 3 là rất cần thiết để nâng cao
tỷ lệ sống cho các giai đoạn Zoae.
Bảng 4 cũng cho thấy, Zoae 1 sau thời gian ương từ 9 - 20 ngày, trung
bình 12 - 14 ngày, ấu trùng sẽ đạt giai đoạn Zoae5 và tỷ lệ sống đến giai đoạn
Zoae 5 đạt trong khoảng 20 - 80 %, trung bình 57,00 ± 16,14 %.
4. Ương ấu trùng cua giai đoạn Zoae 5 đến cua con (C1)
Theo bảng 5 cho thấy, với kỹ thuật ương hai giai đoạn và sang thưa, mật
độ ương ấu trùng Zoae 5 được giảm xuống khá thấp, trong khoảng 3 - 100 con/L,
trung bình là 35,32 ± 32,97 con/L. Độ mặn nước ương giai đoạn này cũng được
giảm xuống 21 - 29%o và mức nước ương cũng khá thấp, trung bình 0,77 ± 0,30
m. Tất cả các trại đều thay nước hàng ngày, 5 - 60% lượng nước bể, có 5 trại
(20% số trại) đã không thay nước. Hầu hết các trại (100% số trại) đều có đặt giá
thể lưới cho Megalopa bám. So với giai đoạn ương Zoae1 - Zoae5, lượng thức ăn
Artemia cho giai đoạn này thay đổi khá lớn, lượng thức ăn nhân tạo được tăng
Độ mặn (%0)
21
29
26,22 ± 2,08
Mức nước ương (m)
0.4
1.4
0,77 ± 0,30
Tỉ lệ thay nước (%/lần)
0
60
29,40 ± 20,28
Giá thể:
Có (% số trại) 100
Không (% số trại) 0
Thức ăn
Artemia:
Số lượng
(gam/m3/ngày)
Zoae5-Megalopa
0
53,85
Tỉ lệ sống từ Megalopa sang Cua1 (%)
8
100
80,72 ± 21,72
5. Hiệu quả kinh tế sản xuất giống cua biển
Theo bảng 6, mỗi trại sản xuất trung bình 5,55 ± 10,31 triệu con cua
con/năm, sản lượng dao động trong khoảng 0,7 - 50 triệu con cua /năm. Mỗi con
cua mẹ sau khi sinh sản và ương nuôi, có thể thu được từ 85000 đến 300000 cua
con. Với mức chi phí trung bình 495,24 ± 716,74 triệu đồng/trại/năm và với giá
cua con dao động trong khoảng từ 300 - 600 đồng/con, lợi nhuận thu được mỗi
trại khá cao, đạt trung bình 1921,96 ± 4009,55 triệu đồng/trại/năm. Tuy nhiên,
qua kết quả điều tra thì có 2 trại (8% số trại) bị lỗ vốn. Nhìn chung, với kết quả
11
này là rất khả quan. So với kết quả khảo sát các trại sản xuất cua giống ở Cà Mau
với sản lượng 0,15 - 2 triệu cua/năm đạt lợi nhuận là 182,15 ± 181,95 triệu
đồng/trại/năm, (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009), thì nghề sản
xuất giống cua biển đang ngày có số lượng trại và quy mô ngày càng mở rộng.
Với số lượng khoảng 296 trại sản xuất cua biển ở Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau
đã cung cấp một số lượng cua giống đáng kể, góp phần tích cực vào sự phát triển
nghề nuôi cua ở ĐBSCL.
Bảng 6: Đặc điểm kinh tế của các trại
Đặc điểm
Thấp
nhất
Cao
nhất
Trung bình (n=25)
-0,25
40,67
5,75 ± 8,71
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết Luận
Sản xuất giống cua biển đã bắt đầu phát triển trong những năm gần đây với
gần 300 trại sản xuất ở 3 tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau năm 2014, một số
trại có quy mô lớn.
Các trại đều sử dụng bể composite tròn với thể tích trung bình khoảng 1.6
m
3
để ương ấu trùng zoae và bể xi măng hình chữ nhật để ương ấu trùng
Megalopa.
Qui trình ương ấu trùng theo hai giai đoạn là ương từ Zoae1 đến Zoae5 và
sau đó sang bể ương từ Zoae 5 đến Cua 1. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng cua biển
12
chủ yếu theo quy trình nước trong hở, cho ăn hoàn toàn bằng Artemia kết hợp
thức ăn nhân tạo mà không sử dụng luân trùng, không có tảo và có thay nước.
Với kết quả ương nuôi ấu trùng cua biển tương đối ổn định ( sản lượng
5,55 ± 10,31 triệu con/trại/năm; lợi nhuận 1921,96 ± 4009,55 triệu đồng/năm),
nghề sản xuất giống cua biển ở ĐBSCL hiện nay góp phần quan trọng trong việc
cung cấp cua giống nhân tạo cho nghề nuôi.
2. Đề Xuất
Cần tiếp tục nghiên cứu nâng cao kỹ thuật và chất lượng cua giống. Tiếp
tục nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nuôi cua thịt cũng như thị trường tiêu thụ cua
thịt làm cơ sở bền vững cho đầu ra của nghề sản xuất giống cua biển.
LỜI CẢM ƠN
6. Ong K.S., 1964. The early developmental stages of Scylla serrata Forskal,
reared in the laboratory, IPFC, 11th Session, Kuala Lumpur, C64/Tech 37.
7. Trần Ngọc Hải và Trương Trọng Nghĩa. 2004. Ảnh hưởng của mật độ
ương lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển theo mô hình nước
xanh. Tạp chí khoa học – Đại Học Cần Thơ. Trang 187 – 192.
8. Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009. Hiện trạng kỹ thuật và
hiệu quả kinh tế của các trại sản xuất giống cua biển ở ĐBSCL. Tạp chí khoa học
- Đại Học Cần Thơ. Trang 279 – 288.
9. Tran Ngoc Hai, 1997. Studies on some of reproduction of mud Scylla
serrata (Forskal). Master Thesis, University Putra Malaysia.
10. Trần Ngọc Hải, 2007. Bài giảng sản xuất cua giống nước lợ. Tủ sách
Trường Đại học Cần Thơ.