1
Đề thi Luật hiến pháp nước ngoài
ĐH Luật HCM
ĐỀ 01:
Câu 1: Nhận đinh Đúng/sai giải thích
1. phương pháp bảo hiến của hệ thống tòa án Hoa Kỳ giống với Hội đồng Bảo hiến
cộng hòa Pháp
2. theo Hiến pháp Hoa Kỳ, tổng thống do cử tri trực tiếp bầu ra.
3. Chính thẻ quân chủ không tồn tại trong những nhà nước dân chủ.
4. Xét về tương quan lực lượng giữa 2 viện trong cơ cấu tổ chức của nghị viện Nhật
Bản thì hạ viện hoàn toàn thắng thế so với thượng viện
5. Các quốc gia trong thế giới đương đại đều thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân
dân để thực hành quyền công tố và kiểm sát chung.
Câu 2: trình bày điểm khác nhau cơ bản trong mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp
và hành pháp theo các chính thể đại nghị, cộng hòa tổng thống, cộng hòa hỗn hợp và
giải thích
1. Cơ sở hình thành mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp và hành pháp của các chính
thể nêu trên
2. Đảng chính trị đã làm biến dạn các chỉnh thể như thế nào và quy luật chung của
những sự biến dạng này là gì?
Đề 02:
Câu 1: Khi nghiên cứu các hình thức nhà nước đương đại, chúng ta cần dựa trên
những nguyên lý nào?
Câu 2: tại sao chúng ta cần nghiên cứu về đảng chính trị trong môn học này?
Câu 3: phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Chính phủ
Đề 3:
Câu 1:Nhận đinh Đúng/sai giải thích
2
1. trong hệ thống pháp luật Mỹ, khi đạo luật bị tuyên bố vi hiến (hiến pháp Liên
dân chủ.
4
Cách làm bài tập hiến pháp một số nước
Đây là môn tự chọn của hành chính K30, thực ra đây là bt trong sách nhưng xem cách
giải thì hơi khó hiểu, nên tớ lấy 1 bài mẫu và giải thích thêm ra thôi
chú thích: đây là 1 bài viết cũng khá lâu trc khi thi trên blog của tớ, giờ thì cop và chỉnh
sửa lại chút ít thôi, có gì ko hiểu cứ hỏi nhé, nhưng cố gắng hết mức có thể để mọi ng có
thể hỉu đc
Mãi mới hiểu được cái biểu quyết lựa chọn là như thế nào? Về sau ai mà học cái môn này
mà phải làm phần bt về bầu cử thì cố gắng tìm cuốn Chế độ bầu cử của 1 số nc trên tg của
thầy Vũ Hồng Anh nhé. Trong đó ghi rõ hơn. Ko thì ra nhà C mượn 3 ngày hay lên nhà D
ngồi đọc photo hoặc scan
Vào phần chính nhé, biểu quyết lựa chọn nào
Đây là một hình thức phân ghế đại biểu trong dạng bầu cử đa số, muốn nắm rõ biểu quyết
lựa chọn thì phải hiểu tiền tố và cách chia phiếu khi chia phiếu lần 1 (kiểm phiếu lần 1 ý -
được tiến hành bởi khu vực bỏ phiếu nhưng kết quả thì đơn vị bầu cử xét kết quả) mà
không ứng cử viên nào đạt điều kiện win lun (ko đủ số phiếu đạt điều kiện, ở đây tính
theo đa số tuyệt đối là 50% + 1) thì ta phải chia phiếu lần 2
Note: Nhớ phải hiểu tiền tố là gì đó
Tiền tố: Là lựa chọn thứ 2 của cử tri sau lựa chọn đại biểu đầu tiên trong số ứng cứ viên
(trong phiếu lựa chọn của mình). Cái này ko bắt buộc, có thể có 6 ứng cử viên thì ghi tới
tiền tố thứ 6 cũng đc
VD nhé:
Bấy lâu nay các thế lực thù địch với Việt Nam vẫn rêu rao tư tưởng "đa nguyên chính
trị", "đa đảng đối lập", hòng truyền bá và kích động tư tưởng dân chủ vô chính phủ, loại
bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng nước ta. Tuy
nhiên, chúng ta đã nhiều lần khẳng định không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng
đối lập với những lý do dưới đây:
1. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là chế độ chính trị của chế độ xã hội
chủ nghĩa. Đa nguyên chính trị là một khuynh hướng xã hội học - triết học, tuyệt đối hóa
sự đa dạng đối kháng của các nhóm, đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong xã hội.
Nó xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII, khi giai cấp tư sản còn là giai cấp tiến bộ trong đấu
tranh chống độc quyền, bảo vệ sự đa dạng và bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích
khác nhau, phát triển quyền tự do dân chủ tư sản.
Khi các tổ chức độc quyền xuất hiện, đa nguyên chính trị mất dần ý nghĩa ban đầu, trở
thành thủ đoạn để điều chỉnh lợi ích trên nguyên tắc cạnh tranh giữa các nhóm, tổ chức
độc quyền có lực lượng ngang bằng nhau và là bình phong “dân chủ” che đậy sự bất
công, bất bình đẳng trong xã hội tư bản.
Khi chủ nghĩa xã hội xuất hiện, đa nguyên chính trị trở thành công cụ tư tưởng để giai
cấp tư sản chống các nhà nước xã hội chủ nghĩa, phong trào công nhân và các trào lưu
6
tiến bộ trên thế giới bằng việc đòi mở rộng quyền tự do dân chủ vô chính phủ, chống
nguyên tắc tập trung dân chủ, đòi thực hiện chế độ đa đảng, nhằm vô hiệu hóa và từng
bước đẩy Đảng Cộng sản khỏi vị trí lãnh đạo xã hội, đòi xây dựng nhà nước pháp quyền
tư sản - bề ngoài đại diện cho lợi ích của tất cả các nhóm, đảng phái đối lập, nhưng thực
chất đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản.
Như vậy, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tất yếu không phải là mô hình chính trị của
chế độ xã hội chủ nghĩa.
2. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không bảo đảm được dân chủ đích thực. Bản chất
của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Muốn thực hiện được nó thì trước tiên người
lao động phải xây dựng nên một chính đảng cùng một chính phủ duy nhất đại diện cho
quyền lực của mình. Với một chế độ xã hội, thì hoặc quyền lực thuộc về giai cấp bóc lột
đứng lên lật đổ thể chế chính trị đó, thiết lập nên nền chính trị nhất nguyên và lựa chọn
Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện duy nhất cho quyền lợi của nhân dân lao
động và cả dân tộc. Tính tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên đó đã và đang được nhân
dân ta khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa ngày nay.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam - một chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã
và đang không ngừng xây dựng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên
thực tế trong nền chính trị nhất nguyên. Nền chính trị nhất nguyên ở nước ta là do nhân
dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở
nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân
lao động. Đó là độc lập, tự do cho dân tộc; là quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng
với mọi quốc gia khác trong việc lựa chọn con đường phát triển đi lên của mình; là quyền
tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân; là quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự
do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội; là
sự phát triển trong đa dạng các sắc màu văn hóa dân tộc; là sự tiến bộ trong giáo dục, văn
hóa, xã hội, khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và phát triển toàn diện
con người… Những thành tựu không thể phủ nhận của nền chính trị nhất nguyên đó đã
khẳng định và ngày càng củng cố vững chắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự
nghiệp cách mạng của dân tộc.
5. Dư luận quốc tế, chính phủ và nhân dân các nước dân chủ, tiến bộ trên thế giới đánh
giá cao, ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ nhất nguyên ở Việt Nam. Trước
những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo, dư luận quốc tế, chính phủ nhiều nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế
giới đã bày tỏ sự khâm phục và ủng hộ chế độ chính trị ở Việt Nam. Nhiều đoàn đại biểu
quốc tế sang Việt Nam nghiên cứu và học tập kinh nghiệm về xây dựng sự ổn định chính
trị xã hội. Nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, ngày 17-6-
2007, tờ The Straits Times đã viết: “Việt Nam là đất nước ổn định, người dân làm việc
8
được bổ sung bằng sự tham gia của nhiều tổ chức xã hội chính thức (trong hệ thống chính
trị) hoặc phi chính thức (các tổ chức phi chính phủ - NGOs).
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng chính trị với chế độ xã hội, nhiều người hoặc cố
tình hoặc ngây thơ về chính trị đã bỏ qua nhiều yếu tố khác, như bối cảnh lịch sử cụ thể
9
hoặc liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia, trật tự xã hội. Không ít người đã bị dẫn dắt,
rơi vào sân chơi dân chủ, nhân quyền của các lực lượng chống cộng. Theo họ, mối quan
hệ giữa chế độ đảng (đa đảng hoặc một đảng) lãnh đạo với dân chủ là mối quan hệ duy
nhất. Đời sống đã chỉ ra không phải như vậy. Đa đảng không phải là không tốt, cũng như
một đảng không phải là không có lý. Tình trạng quốc hội “treo” như ở Anh quốc vừa qua,
hoặc cuộc xuống đường, xung đột giữa những người “áo đỏ” với Chính phủ đương nhiệm
ở Thái Lan thiết tưởng giúp người ta có thêm các căn cứ để suy nghĩ về những khó khăn,
phức tạp của chế độ dân chủ - đa đảng.
Ở Việt Nam cho đến nay có bao nhiêu quan điểm về đa đảng – xét trên các quan điểm
chính trị?
- Thứ nhất, đó là quan điểm của các nhà dân chủ - hàn lâm (Academic Democracy). Theo
họ dân chủ là động lực của phát triển. Chế độ dân chủ tất yếu phải gắn với đa đảng, với
cạnh tranh về chính trị. Đương nhiên quan điểm của các nhà dân chủ - hàn lâm không sai
về mặt lý thuyết, nhưng họ đã bỏ qua yếu tố đặc thù về lịch sử và thực tiễn chính trị ở các
quốc gia.
Thứ hai, đó là quan điểm của các nhà dân chủ thực dụng. Quan điểm này cho rằng, hiện
nay ở nước ta đang tồn tại rất nhiều vấn đề bức xúc của người dân do tình trạng quan
liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm của cán bộ, công chức gây ra. Tình trạng này có thể
giảm thiểu nếu có thêm các đảng phái khác tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Nhưng
những nhà dân chủ thực dụng đã không thấy rằng, ở nhiều quốc gia “đa đảng” đâu phải
không còn quan liêu tham nhũng. Mặt khác, quan điểm này đã không tính đến việc các
thế lực thù địch có thể lợi dụng chế độ đa đảng để thực hiện mưu đồ xấu xa của họ.
Thứ ba, đó là quan điểm của các nhà dân chủ giả hiệu. Về lập luận, quan điểm của họ
không khác các nhà dân chủ - hàn lâm. Thêm vào đó họ còn đưa ra chứng cứ như ở Việt
dân”! Có kẻ còn coi ngày đất nước được giải phóng là ngày “quốc hận”. Đó là chân dung
của những kẻ đang đòi đa đảng ở hải ngoại.
Vậy cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản
Việt Nam là gì?
Về lịch sử ai cũng biết 80 năm qua (kể từ khi thành lập Đảng, 3-2-1930, đến nay), Đảng
Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là lực lượng duy nhất
tổ chức vận động, lãnh đạo, đồng thời là người đi tiên phong, không sợ hy sinh gian khổ
trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại độc lập dân tộc, chủ quyền quốc
gia, xây dựng nước Việt Nam hiện đại với chế độ dân chủ - cộng hòa. Lần đầu tiên trong
lịch sử, các quyền công dân và quyền con người của người dân được ghi nhận trong Hiến
pháp (1946). Tiếp đó Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân
Việt Nam tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược bảo vệ thành quả của
cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là lực lượng chính trị duy nhất khởi xướng
công cuộc đổi mới, hội nhập với cộng đồng quốc tế tạo nên vị thế mới của Việt Nam
trong cộng đồng quốc tế.
Về chính trị - tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam đi theo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh với tinh thần cách mạng và sáng tạo. Mục tiêu của Đảng là: Độc lập
11
dân tộc, chủ quyền quốc gia đồng thời xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”, hội nhập quốc tế trên tinh thần “Việt Nam muốn là bạn
và đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trong cộng đồng quốc tế – không phân biệt chế
độ xã hội”.
Những kẻ đang tuyên truyền cho đa đảng thường cũng là những kẻ đang bôi nhọ Đảng
Cộng sản Việt Nam. Lập luận của họ theo lô-gích giả dối: Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi
thời, Chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ (lập luận của họ thường là chép lại quan điểm của
những kẻ chống cộng, như Brê-din-xky trong cuốn “Thất bại lớn” hoặc của Phu-ku-y-a-
ma trong bài “Điểm tận cùng của lịch sử”) để suy ra: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy Chủ
nghĩa Mác – Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm hệ tư tưởng tất nhiên sẽ trở thành một
lực lượng chính trị lạc hậu; xã hội XHCN ở Việt Nam sẽ bị sụp đổ. Và, do đó Việt Nam
của đại đa số nhân dân, thông qua những người đại diện của mình đó là Quốc hội. Hình thức chính thể - hình thức nhà nước
Hình thức nhà nước (hay còn được gọi một cách thông thường là hình thức tổ chức nhà
nước) là mô hình tổ chức ra các cơ quan nhà nước và mối quan hệ giữa chúng với nhau,
giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân, và thường được phân tích dưới nhiều giác
độ/tiêu chí khác nhau. Hình thức chính thể là một hình thức rất quan trọng trong các dạng
hình thức nhà nước
Thuật ngữ “chính thể” là một từ Hán Việt cổ, dùng để chỉ một chế độ chính trị, cách thức
tổ chức nhà nước (regime). Hình thức chính thể là sự biểu hiện bề ngoài thành mô hình,
hình dáng của nhà nước thông qua cách thức thành lập, cơ cấu bên trong của việc tổ
chức, vị trí, quyền hạn trách nhiệm, mối quan hệ của các cơ quan nhà nước cấu tạo nên
nhà nước và bản chất, nguồn gốc của quyền lực nhà nước.
Nói đến chính thể là nói đến việc xem xét mô hình tổ chức nhà nước dưới giác độ cách
thức thành lập, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ giữa các cơ quan cấu thành nên bộ máy
nhà nước. Trước hết là mối quan hệ giữa nguyên thủ quốc gia (người đứng đầu nhà nước)
với nhân dân.
Hiện nay, trên thế giới có hai loại hình thức chính thể cơ bản. Đó là chính thể quân chủ
và chính thể cộng hoà. Chính thể quân chủ là chính thể mà ở đó nguyên thủ quốc gia do
thế tập truyền ngôi, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ cõi “hư vô”, do thiên đình định
đoạt. Chính thể cộng hoà là chính thể nguyên thủ quốc gia do bầu cử lập nên và quyền
lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân.
13 Khi xác định chính thể, trước hết người ta thường dựa vào cách thức thành lập nguyên
14 Mô hình quân chủ thường được tổ chức thành quân chủ tuyệt đối của nhà nước hoàn toàn
theo chế độ phong kiến. Nhà vua có thể thâu tóm mọi quyền hành từ lập pháp, hành pháp
đến tư pháp; nhà vua đứng trên pháp luật và tạo nên một chính thể quân chủ chuyên chế.
Quân chủ hạn chế (hay còn gọi là quân chủ lập hiến) là mô hình tiến bộ hơn: quyền lực
thần bí, truyền ngôi của nhà vua bị hạn chế, phải nhường chỗ cho các thiết chế khác của
nhà nước. Trước hết là cho Quốc hội - cơ quan mới xuất hiện trong cách mạng tư sản do
nhân dân trực tiếp bầu ra, sau đó phải nhường tiếp cho Chính phủ - cơ quan được hình
thành dựa trên cơ sở của Quốc hội. Hiến pháp là văn bản pháp lý thể hiện sự hạn chế này.
Mục đích của sự hạn chế đó là một phần hay còn gọi là cơ sở của tuyên ngôn “quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân”. Đó cũng là một bản cáo chung cho sự ra đi của chế độ
quân chủ chuyên chế.
Thời hiện đại, chính thể quân chủ dường như bị suy tàn một cách dần dần. Những nền
quân chủ còn lại đều là những nền quân chủ lập hiến - nhà vua bị hạn chế quyền lực bởi
bản văn hiến pháp - những ông vua lập hiến. Quyền hạn của nhà vua chỉ còn là hình thức.
Một trong những mô hình phổ biến hiện nay của quân chủ lập hiến là quân chủ đại nghị
(mà hình mẫu của nó là ở các nước như Anh, Nhật, ).
So với thể chế quân chủ thì việc tổ chức Nhà nước theo thể thức cộng hoà có tính chất
dân chủ, tiến bộ hơn. Sở dĩ như vậy là bởi vì việc tổ chức nhà nước này cố gắng đoạn
tuyệt với cách thức tổ chức của chế độ phong kiến. Nguyên thủ quốc gia do bầu cử mà ra.
Trong cách thức tổ chức nhà nước này, nhân dân, ở mức độ khác nhau, là chủ thể được
quyền tham gia vào các công việc nhà nước, được Hiến pháp tuyên bố “quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân”.
Mô thức tổ chức Nhà nước theo chính thể cộng hoà thường chia làm hai loại: Cộng hoà
của Nghị viện thành chế độ đại nghị; có chức danh Thủ tướng và sự tham gia một cách
hình thức của nguyên thủ quốc gia vào việc thành lập chính phủ; nguyên thủ quốc gia
được hiến pháp quy định rất nhiều quyền hạn, nhưng trên thực tế không trực tiếp tham
gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước.
16
Nguyên thủ quốc gia của chính thể này được thành lập dựa trên cơ sở của Nghị viện, do
Nghị viện bầu ra, hoặc dựa trên cơ sở của Nghị viện (có thêm các thành phần khác như là
đại diện của các lãnh địa trực thuộc), mà không do nhân dân trực tiếp bầu ra. Chính việc
không do nhân dân trực tiếp bầu ra Tổng thống, theo quan điểm của các nhà luật học, là
nguyên nhân không cho phép nguyên thủ quốc gia có thực quyền.
Ở tất cả các nước theo chính thể này, hiến pháp (hoặc tục lệ) không quy định nguyên thủ
quốc gia là người đứng đầu hành pháp và cũng không là thành viên của hành pháp. Nếu
có quy định đi chăng nữa thì nguyên thủ quốc gia không bao giờ thực hiện được một cách
đích thực những quyền này.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện
Cũng giống như đặc điểm hình thành nên chính thể quân chủ đại nghị, chính phủ - hành
pháp, trung tâm của bộ máy nhà nước được hình thành dựa trên cơ sở của Nghị viện, nên
Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Đây là đặc điểm chính yếu của chính
thể đại nghị, kể cả cộng hoà đại nghị lẫn của quân chủ đại nghị.
Nguyên tắc "Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện" là cơ sở cho việc Nghị
viện có thể lật đổ Chính phủ và người đứng đầu Chính phủ có quyền hoặc yêu cầu
nguyên thủ quốc gia giải tán Nghị viện.
Còn Tổng thống thì… vô trách nhiệm
Đặc biệt, khi phân tích chế định “phó thự”, có thể thấy rằng, nguyên thủ quốc gia không
thể hoạt động trung lập. Mọi văn bản của Tổng thống chỉ có hiệu lực thực thi trên thực tế
khi có chữ ký “phó thự” của các hàm bộ trưởng hoặc trên bộ trưởng (Thủ tướng người
đứng đầu bộ máy hành pháp). Quy định này đã tước hẳn quyền quyết định đích thực của
Tổng thống. Và cũng chính vì vậy, Tổng thống mới có cơ sở “là vô trách nhiệm”, chính
người ký phó thự mới là người chịu trách nhiệm văn bản do Tổng thống ban hành. Theo
thông lệ, không thể bắt người không có quyền lại phải đứng ra gánh chịu trách nhiệm.
Nhưng vẫn cần có nguyên thủ quốc gia
18
Về mối quan hệ giữa nguyên thủ quốc gia với chính phủ, đa số các nước tư sản theo loại
hình chính thể cộng hoà đại nghị đều quy định Tổng thống có quyền bổ nhiệm người
đứng đầu chính phủ. Nhưng quy định bổ nhiệm và tiêu chuẩn của người đứng đầu chính
phủ như thế nào lại không được pháp luật quy định rõ.
Thay cho sự thiếu hụt này của hiến pháp thành văn là quy định của tập tục không thành
văn: Người đứng đầu bộ máy hành pháp phải có sự ủng hộ của đa số nghị sĩ trong nghị
viện. Hay nói một cách khác hơn, nguyên thủ quốc gia - Tổng thống nước cộng hoà đại
nghị - không thể bổ nhiệm một người nào đó khác hơn là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số
ghế trong nghị trường làm người đứng đầu bộ máy hành pháp.
Những điều phân tích trên có bao hàm nghĩa, nguyên thủ quốc gia không còn một vị trí
vai trò nào đích thực trong chính thể đại nghị. Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu,
vai trò của nguyên thủ quốc gia của chính thể cộng hoà đại nghị cũng như của nhà vua
trong chính thể quân chủ đại nghị chỉ có thể được đánh giá cao trong những trường hợp
đất nước bị khủng hoảng. Trong tình trạng khủng hoảng, Tổng thống mới có điều kiện
độc lập hành động mà không phụ thuộc vào các đảng phái chính trị. Nguyên thủ quốc gia
như là một chế định tiềm tàng của nhà nước hòng giải quyết những tình trạng khủng
Mô hình quân chủ Anh quốc được coi là xuất phát điểm của mọi mô hình tổ chức nhà
nước hiện nay. Có thể nói rằng, mọi thể chế dân chủ đương đại đều có gốc tích từ Anh
quốc. Và Anh quốc có thể được xem như là quê hương của các thiết chế dân chủ cổ điển.
Nhà nước Mỹ quốc hiện nay là điển hình của các nhà nước được tổ chức theo hình thức
chính thể tổng thống cộng hoà, nhưng lại có sự rút kinh nghiệm từ chính nhà nước Anh
quốc.
Điều kỳ lạ là ở chỗ, các thiết chế của nhà nước Anh quốc được hình thành và tồn tại cho
mãi đến hiện nay, là kết quả của một sự vận động dần dần từng bước một của lịch sử thực
tế, như “một bức tường gạch được xây nên, theo một nguyên tắc hết viên gạch thứ nhất,
rồi mới được viên gạch thứ hai, không có điều ngược lại”, không theo một lý thuyết nào
cho trước. Chính Montesquieu, một trong những người sáng lập học thuyết phân quyền,
đã quan sát thực tế việc tổ chức nhà nước Anh, chứ không phải của nước Pháp (quê
hương ông) để phân tích sự phân chia quyền lực nhà nước. Vì vậy, đặc điểm của loại hình
quân chủ đại nghị cũng là đặc điểm của nhà nước Anh quốc.
Nguyên thủ quốc gia do thế tập truyền ngôi
Ở chính thể này, nguyên thủ quốc gia là các vị Hoàng đế (được truyền ngôi cho con), còn
chính phủ - bộ máy hành pháp - được thành lập và được hoạt động khi nào vẫn còn sự tín
nhiệm của Hạ nghị viện. Các bộ trưởng và người đứng đầu hành pháp phải chịu trách
20
nhiệm trước Nghị viện (Hạ viện). Trên thực tế, việc thành lập và hoạt động của các chính
phủ đều nằm trong tay đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện. Nhà vua hầu như không
tham gia vào giải quyết các công việc của nhà nước, theo một loạt những nguyên tắc, mà
sau này đã trở thành những thành ngữ dân gian:
"Nhà vua trị vì nhưng không cai trị"
"Nhà vua không bao giờ làm sai"
"Nhà vua không hại ai cả"
"Nhà vua không chịu trách nhiệm gì"
"Nhà vua không có quyền nên không gánh vác trách nhiệm"
chính thể quân chủ có một vị trí rất quan trọng trong những thời điểm mà nền an ninh,
chủ quyền độc lập của các quốc gia bị xâm phạm. Khi nền an ninh của các quốc gia bị vi
phạm, với tư cách là người đứng đầu, biểu tượng cho sự bền vững của dân tộc, nhà vua
phải đứng ra kêu gọi tinh thần yêu nước, sự hy sinh của thần dân bảo vệ đất nước.
Sự kiện ở Tây Ban Nha là một điển hình để chứng minh cho điều đó. Tháng 2/1981,
nhóm quân nhân bạo loạn, dưới sự chỉ huy của đại tá Atanio Tejero Molina, đã xông vào
toà nhà Quốc hội hòng lật đổ chính quyền. Vua Carlos Tây Ban Nha đã xử sự rất đúng
với tư cách là vị Hoàng đế. Ông đã lệnh cho tướng Milans Bosch, thủ lĩnh giấu mặt của
đám binh lính tạo phản, phải lập tức đầu hàng. Trên các kênh vô tuyến truyền hình, nhà
vua khẳng định: “Cuộc đảo chính nhằm vào chính nhà vua và ông không chịu khuất
phục”; rằng “Những kẻ bạo loạn sẽ phải gánh chịu mọi trách nhiệm, nếu xảy ra nội
chiến”. Trước thái độ kiên quyết của Hoàng đế, nhóm phiến loạn đã phải đầu hàng. Tổ
quốc thời yên ả, nhà vua sẵn lòng lui về hậu trường chính trị. Việc quản lý đất nước lại
được giao cho các vị bộ trưởng, mà đứng đầu là Thủ tướng.
Đây cũng là một lý do quan trọng cho việc tồn tại của chế định nguyên thủ quốc gia trong
chế độ quân chủ đại nghị. Nguyên thủ quốc gia của các nhà nước này được nhiều nhà
khoa học phân tích là hành pháp tượng trưng - một phần của hành pháp. Trong khi đó,
Thủ tướng là người đứng đầu hành pháp, có quyền điều hành thực sự - gọi là hành pháp
thực quyền.
Nghị viện là tối cao
Trong chính thể quân chủ đại nghị, nghị viện là cơ quan có vai trò tối cao. Chính vì sự tối
cao này mà mô hình tổ chức của nhà nước được gọi là chính thể đại nghị. Nghị viện có
quyền giải quyết mọi vấn đề của nhà nước, hay chí ít thì những vấn đề của nhà nước phải
được giải quyết dựa trên cơ sở của nghị viện.
Từ đặc điểm này mà một đặc điểm quan trọng của chính thể quân chủ đại nghị đã được
hình thành: chính phủ phải được Nghị viện thành lập từ thành phần Hạ nghị viện. Từ đó
22
hình thành nên một đặc điểm quan trọng nhất của loại hình tổ chức nhà nước này: Chính
có người duy trì trật tự; nhưng bản thân rắn cũng lại là một mối nguy hại đối với ếch, có
23
thể thôn tính ếch. Tương tự như vậy, loài người phải cần đến quyền lực nhà nước để duy
trì một đời sống trật tự và phát triển; nhưng loài người cũng lại phải đối mặt với những
tác hại mà quyền lực nhà nước mang đến.
Quyền lực nhà nước khi bị tha hoá sẽ trở thành công cụ thoả mãn lợi ích của những người
nắm giữ và quay trở lại trấn áp xã hội: chính quyền chủ nô coi người bị trị như những
công cụ biết nói; chính quyền phong kiến đàn áp đẫm máu các cuộc nổi dậy của nông
dân; tham nhũng đang lan toả như một bệnh dịch toàn cầu… Sự nguy hiểm của quyền lực
nhà nước gắn với bản chất của nó. Thuộc tính của quyền lực là lạm quyền. Ai có quyền
lực cũng có xu hướng lạm quyền. Hobbes, một triết gia lớn người Anh đã nói: "Trước
hết, tôi kể trong xu hướng tổng quát của tất cả nhân loại, một sự thèm khát thường trực và
không nguôi hết quyền lực này đến quyền lực khác và sự thèm khát ấy chỉ chấm dứt với
cái chết mà thôi. Khát vọng quyền lực không phải chỉ giới hạn trong một số ít người có
tham vọng, mà nó hiện hữu phổ biến ở tất cả mọi người. Do đó, tất cả những gì mà con
người có thể quan niệm là đang thèm muốn vì sự khoái lạc nó đem lại - như kiến thức,
nghệ thuật, sự nhàn tản, sự bình thản - thì mọi thứ ấy đều phụ thuộc vào sự đòi hỏi có
quyền lực và chỉ được phán đoán trên căn bản quyền lực của con người”[1]. Đối với
quyền lực chính trị thì nguy cơ lạm quyền lại càng cao vì đây là một thứ quyền lực có tác
động phổ biến nhất trong xã hội và đem lại lợi ích cho người nắm giữ quyền lực nhiều
nhất. Một nhà cách mạng Pháp đã diễn đạt ý tưởng này trong câu nói: “Cai trị thì ngây
thơ vô tội sao được”[2].
Nỗi nguy hiểm của quyền lực nhà nước đã đánh thức lương tâm nhân loại. Từ rất sớm,
khi quyền lực nhà nước mới được hình thành thì con người đã nghĩ đến những phương kế
để chống lại sự tha hoá của quyền lực. Từ những yêu sách đối với đạo đức của nhà cầm
quyền đến những định chế giám sát kiểu như Ngự sử đài đều là những giải pháp để chống
lại sự tha hoá của quyền lực nhà nước. Xã hội ngày càng tiến bộ, suy nghĩ của loài người
về các biện pháp kiểm soát quyền lực ngày càng hoàn thiện hơn. Theo dòng phát triển đó,
chủ nghĩa hợp hiến đã ra đời với những ý tưởng cách mạng về kiểm soát quyền lực nhà
thông qua cơ chế bỏ phiếu đa số tuyệt đối) mới có thể huỷ bỏ hoặc thay đổi đạo luật tối
cao đó, sự thay đổi phải được tiến hành theo một quy trình khó khăn với sự ủng hộ của đa
số, có sự phân quyền và kìm chế, đối trọng quyền lực, và một hệ thống tư pháp độc lập
tài phán về các tranh chấp pháp lý để bảo vệ hiến pháp”[7].
Như vậy, dù có thể có những cách định nghĩa, cách quan niệm khác nhau về chủ nghĩa
hợp hiến, nhưng vấn đề bản chất của chủ nghĩa hợp hiến vẫn là giới hạn chính quyền theo
một quy trình pháp lý để bảo vệ quyền con người.
Một chính quyền hợp hiến trước tiên phải là một chính quyền có hiến pháp thành văn. Ví
dụ, chính quyền Mỹ được giới hạn trong khuôn khổ của bản Hiến pháp Mỹ. Tuy nhiên,
một hiến pháp thành văn không phải là yếu tố quyết định một chính quyền có vận hành
theo chủ nghĩa hợp hiến hay không.Chủ nghĩa hợp hiến không đồng nghĩa với một chính
quyền có hiến pháp thành văn. “Chánh quyền hợp hiến không chỉ có nghĩa là chánh
quyền hợp với điều khoản hiến pháp. Chánh quyền hợp hiến là chánh quyền pháp trị,
không phải chánh quyền chuyên chế, là chánh quyền được điều khoản hiến pháp tiết chế,
không phải chánh quyền chỉ được tiết chế bởi sở vọng hay khả năng của người cầm
quyền. Bởi vậy, có thể có trường hợp chánh quyền một quốc gia được điều khiển đúng
25
với điều khoản của hiến pháp, song hiến pháp chỉ thiết lập cơ cấu chánh quyền, và phó
mặc cho các cơ cấu này tự do hành động. Trường hợp như trên khó có thể coi là một
chánh quyền hợp hiến”[8].
Hơn nữa, một chính quyền không có hiến pháp thành văn cũng có thể trở thành một chính
quyền vận hành trên các nguyên lý của chủ nghĩa hợp hiến. Nước Anh là ví dụ điển hình
cho trường hợp này. Nước Anh không có một hiến pháp thành văn đơn hành nhưng
người ta đều thừa nhận rằng chính quyền của nước Anh là một chính quyền hợp hiến bởi
nước Anh có nhiều văn bản có sức mạnh của hiến pháp, như: Đại hiến chương Magna
Carta năm 1215, Luật về quyền (Bill of Right) năm 1689, Luật cư trú năm 1701 và những
đạo luật đặc biệt của Nghị viện Anh. Những văn bản này có sức mạnh hạn chế quyền lực
của nhà nước và bảo vệ các quyền tự do của con người ở nước Anh.
Yếu tố bản chất của chủ nghĩa hợp hiến là giới hạn chính quyền chứ không phải hình