Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
Chơng I
ngân hàng thơng mạI và việc huy động
tiền gửi có kỳ hạn
1. Ngân hàng th ơng mại
Hệ thống Ngân hàng là hệ thống có hoạt động gần gũi nhất với ngời dân
và nền kinh tế. Trên thế giới, ở những nớc đã và đang phát triển hầu nh không
có công dân trởng thành nào mà lại không có quan hệ giao dịch với một ngân
hàng. Song không phải tự nhiên ngân hàng xuất hiện trong nền kinh tế. Ngân
hàng đã đi từ bớc cực kỳ thô sơ và chính nhu cầu phát triển của xã hội và nền
kinh tế đã là tác nhân thúc đẩy hoạt động ngân hàng không ngừng đợc cải thiện
nâng cao cả về thực hành lẫn lý thuyết để có đợc nh ngày hôm nay.
Cách tốt nhất để tìm hiểu sự liên đới của các ngân hàng thơng mại với đời
sống con ngời là tìm hiểu chính bản chất của hoạt động kinh doanh ngân hàng,
vì một ngân hàng thơng mại thực sự là một doanh nghiệp với đầy đủ ý nghĩa
của nó. Khác với các doanh nghiệp sáng tạo ra hàng hoá hữu hình nh lúa, gạo,
vải, xe ô tô, máy móc..., sản phẩm của một ngân hàng thơng mại là những dịch
vụ. Và dịch vụ cũng là phơng tiện chủ yếu mà ngân hàng cấp cho đời sống.
Dịch vụ đó là môi giới để ngời cho vay và ngời đi vay gặp nhau, hay nói cách
khác, môi giới để các nguồn tiền vốn, tài sản đang bỏ không đợc vận dụng một
cách có lợi, phục vụ cho nhu cầu vốn để tăng trởng cuả nền kinh tế.
Sau đây, chúng ta sẽ xem xét các hoạt động nghiệp vụ cơ bản của ngân
hàng thơng mại cũng nh chức năng, vai trò của nó trong nền kinh tế.
1.1. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thơng mại
Nói chung, các ngân hàng thu lợi nhuận bằng cách bán những tài sản nợ có
một số đặc tính (một kết hợp riêng về tính lỏng, rủi ro và lợi tức) và dùng tiền
thu đợc để mua tài sản có có đặc tính khác. Nh thế, các ngân hàng cung cấp một
dịch vụ chuyển một loại tài sản này thành một tài sản khác cho công chúng
bằng cách thực hiện trao đổi hai lần khế ớc nợ giữa ngời có vốn và ngời cần
1
5- Các khoản vay các ngân hàng khác hoặc ngân hàng trung ơng.
1.1.1.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là điều kiện hàng đầu để ngân hàng khởi nghiệp trớc khi
đợc phép khai trơng theo luật định. ở Việt Nam, để thành lập một NHTM, trớc
2
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
hết phải có đủ vốn pháp định theo mức quy định của ngân hàng nhà nớc. ở mỗi
ngân hàng, vốn pháp định đợc hình thành do tính chất sở hữu của ngân hàng
quyết định, nghĩa là nguồn vốn này có thể do nhà nớc cấp, hoặc có thể do huy
động trong xã hội. Ngoài vốn điều lệ, NHTM còn có các quỹ dự trữ bắt buộc
phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, quỹ phát triển
kỹ thuật, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn, qũy phúc lợi... Tất cả
nguồn vốn này (vốn điều lệ, quỹ dự trữ , quỹ khác) đợc gọi là vốn tự có của
ngân hàng, chiếm tỷ trọng nhỏ, song lại rất quan trọng, vì nó cho thấy thực lực,
quy mô của ngân hàng, là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác. Vốn tự có gồm
3 chức năng chủ yếu: chức năng bảo vệ , chức năng hoạt động và chức năng
điều chỉnh.
1.1.1.2. Nghiệp vụ đi vay
Sau khi đã sử dụng hết vốn, song vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu vay của
khách hàng hoặc phải đáp ứng thanh toán và chi của khách hàng, các NHTM có
thể đi vay ở NHTW, ở các NHTM khác, vay ở thị trờng tiền tệ, vay các tổ chức
ngoài nớc... Vốn đi vay chỉ chiếm 1 tỷ lệ có thể chấp nhận đợc trong kết cấu
nguồn vốn, nhng nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để bảo đảm cho ngân
hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thờng.
a) Vay của NHTW:
Qua 2 hình thức chính:
Tái chiết khấu ( hoặc chiết khấu ) hay tái cấp vốn
Thế chấp hay ứng trớc có bảo đảm hay không có bảo đảm. ở Việt
Nam, hiện nay NHNN cho các NHTM vay nh sau:
Huy động vốn là hoạt động chủ yếu và thờng xuyên của NHTM, trong đó,
ngoài cách đi vay, ngân hàng còn thu thập các khoản ký thác từ các khách hàng
của mình. Đợc coi là ký thác, khi tiền mà ngân hàng nhận đợc của khách hàng
bất luận dới danh từ nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng số
tiền đó cho hoạt động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân
quỹ cho ngời ký gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận đợc, tất cả
những lệnh trả tiền của ngời ký thác bằng séc, lệnh chuyển khoản, th tín
dụng...hay bất cứ cách nào khác, cũng thâu nhập vào khoản tiền ký thác mọi số
tiền mà ngân hàng thu hộ ngời ký gửi. Các khoản tiền gửi bao gồm:
a) Tiền gửi không kỳ hạn:
+Tiền gửi dùng séc: Việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thờng đợc
thực hiện bằng séc. Lý do chủ yếu khiến cho khách hàng mở tài khoản ngân
hàng là để đảm bảo thế năng của đồng vốn khi cần đến. Sự dễ dàng chuyển
nhợng cũng đợc xem là rất quan trọng. Séc còn là một phơng pháp tiết kiệm và
an toàn để chuyển dịch một số tiền lớn, xét từ quan điểm chi phí lu thông và
khả năng bị mất vì bị cớp giật. Khi các tấm séc đợc sử dụng, việc chuyển nhợng
đợc thực hiện thông qua việc bù trừ séc của các ngân hàng mà không bên nào,
4
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
ngời nhận hay ngời trả, phải suy nghĩ nhiều về vấn đề ấy. Ngời phát lệnh séc ít
phải lo lắng, ngay cả việc bị giả mạo, bởi vì ngân hàng phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn trong trờng hợp một tấm séc giả đợc chi trả.
+Tiền gửi rút tiền tự động hay tiền gửi thông dụng (ordinary deposits): Đ-
ợc thực hiện qua máy rút tiền (cash dispensers), máy nhận rút và chuyển tiền
tự động (máy ATM). Đây là một hình thức tiền gửi hoàn toàn khác với các loại
tiền giấy bình thờng. Nó là tiền của ngày mai.
+Tài khoản ATS (automatic transfer service account): Tài khoản phối hợp
tài khoản tiết kiệm và tài khoản séc ở Mỹ.
+Tiền gửi có thông tri, tiền gửi hẹn rút: Là loại ký thác, không có quy định
còn của NHTM. Vì cho vay hay đầu t vào các loại tài sản nào cũng đều là hoạt
động kiếm lợi nhuận. Khi ngân hàng đầu t tiền của nó vào một thơng vụ, hoặc
cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng vay, nó trở thành là chủ nợ, các đối tợng
kia là ngời vay nợ. Vì thế, các khoản đầu t trở thành tài sản có của ngân hàng.
Nó đầu t càng nhiều, càng sinh lãi nhiều từ vốn đã huy động. Song ngân hàng
cũng có rất nhiều cách để đầu t tiền của nó. Sự đa dạng của tài sản có chính là
phản ánh sự đa dạng trong loại hình đầu t của ngân hàng. Trên thế giới, tài sản
có của một NHTM bao gồm: dự trữ tiền mặt, đầu t vào chứng khoán, cho vay và
đầu t vào các loại tài sản khác.
1.1.2.1. Dự trữ tiền mặt
Đây là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng để
đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thờng xuyên của khách hàng. NHTM
phải duy trì một bộ phận vốn bằng tiền mặt để thực hiện nghiệp vụ dự trữ. Mức
dự trữ này cao hay thấp tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng, mối
quan hệ thanh toán bằng tiền mặt và chuyển khoản, thời vụ của ngân hàng
không sinh lãi. Tuy nhiên, ngân hàng buộc phải làm vậy để đảm bảo an toàn
cho những hoạt động kinh doanh khác của nó. Dự trữ tiền mặt đợc coi là khoản
đầu t cho sự an toàn. Hiện nay, NHTM các nớc trên thế giới chia dự trữ làm ba
phần:
a) Tiền mặt tại kho của ngân hàng:
Các NHTM bao giờ cũng giữ một khoản dự trữ tiền mặt nhất định tại kho
của mình vào mỗi ngày để đề phòng những chi trả bất ngờ cho dân vào đầu
ngày hôm sau. Năng lực quản lý tài sản có cao hay thấp, hiệu quả hay không
của các NHTM thể hiện ở chỗ nó tồn tại bao nhiêu dự trữ d thừa (ER) mỗi ngày.
b) Tiền mặt ký gửi tại NHTƯ:
Dự trữ tiền mặt ký gửi tại kho của NHTƯ bao gồm cả một bộ phận của dự
trữ bắt buộc. Các ngân hàng phải ký gửi một phần tiền mặt tại NHTƯ dới dạng
ký gửi không lãi (hoặc lãi rất thấp) nhằm phục vụ cho việc thanh toán bù trừ
hoặc chuyển nhợng liên ngân hàng những tờ séc mà nó và các ngân hàng khác
6
- Trái phiếu của chính quyền địa phơng.
b) Các chứng khoán khác:
Gồm các chứng khoán do công ty phát ra và chứng khoán của nớc ngoài.
1.1.2.3. Nghiệp vụ cho vay
Cho vay của NHTM, nói rộng ra là tín dụng của NHTM, là một lĩnh vực
phức tạp và thờng xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi trờng kinh
7
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
tế. Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp nh:
bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc.
Đây là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có
lãi suất thu đợc từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí
kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí
rủi ro đầu t khác. Nghiệp vu tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
* Căn cứ vào thời gian cho vay:
- Cho vay ngắn hạn: thời gian nhỏ hơn hoặc bằng một năm. Mục đích
là để bù đắp cho nhu cầu về vốn lu động của khách hàng. Các NHTM có thể
cho khách hàng vay để lu thông phân phối sản phẩm, dự trữ hàng hoá...
- Cho vay trung hạn: là khoản cho vay có thời hạn 1<t<5 năm. Mục
đích là để sửa chữa lớn và quy mô vừa, để áp dụng các sáng kiến cải tiến kỹ
thuật, thay đổi sản phẩm cung cấp trên thị trờng...
- Cho vay dài hạn:t >5 năm, mục đích để đầu t xây dựng cơ bản, hiện
đại sản xuất sẵn có, phát triển sản xuất theo chiều rộng hoặc chiều sâu.
* Căn cứ vào tài sản thế chấp:
- Cho vay có tài sản thế chấp: NHTM căn cứ vào giá trị của tài sản đợc
khách hàng kê khai làm tài sản thế chấp, bảo đảm cho tiền vay.
+.Cho vay thế chấp: Tài sản thế chấp vẫn thuộc quyền sở hữu, quyền sử
dụng của khách hàng nhng không đợc quyền nhợng bán, cho thuê tài sản đó.
+.Cho vay cầm cố: Tài sản thế chấp thuộc quyền quản ký của ngân hàng.
ngân hàng hay ở hai ngân hàng khác nhau thông qua các công cụ nh séc, lệnh
chi, thẻ chi trả...
- Dịch vụ thu hộ và chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng. Việc chi hộ ngân hàng chỉ tiến hành khi có lệnh của chủ tài
khoản.
- Dịch vụ chi lơng cho các doanh nghiệp có nhu cầu. Đến tháng, doanh
nghiệp chỉ cần gửi bảng lơng qua ngân hàng, theo đó, ngân hàng sẽ ghi nợ vào
tài khoản doanh nghiệp đó và chi lơng cho những ngời có tên trong danh sách
tiền lơng.
- Dịch vụ chuyển tiền từ địa phơng này sang địa phơng khác.
- Dịch vụ khấu trừ tự động cũng là dịch vụ với khách hàng là cá nhân.
Theo đó, nếu khách hàng cho phép, ngân hàng sẽ tự động ghi nợ tài khoản của
khách hàng để thanh toán các hoá đơn đòi tiền do các đơn vị dịch vụ gửi đến
nh: trả tiền điện, nớc, điện thoại, thuê nhà...Đây là những khoản chi thờng
xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian
và phiền toái khi đi thanh toán các khoản này.
Tóm lại, thực hiện nghiệp vụ trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho
các ngân hàng những khoản thu nhập khá quan trọng. Nó đã giúp các ngân hàng
9
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
phát triển toàn diện. Lợi nhuận của ngân hàng không chỉ ở đầu t cho vay, mà
gần phân nửa các dịch vụ trung gian, hơn nữa lại là lĩnh vực ít rủi ro.
Ngoài ra, NHTM còn có một số dịch vụ khác nữa nh : T vấn cho đầu t,
môi giới trong việc mua bán ngoại tệ, chứng khoán,bất động sản, quản lý hộ tài
sản, làm trung gian giải ngân, đánh giá,thẩm định các dự án...
1.2. Chức năng của NHTM
1.2.1. Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một trong những chức năng chủ yếu của các NHTM. Nó đợc
thực hiện thông qua một số hoạt động tín dụng và đầu t của các NHTM. Sức
phổ biến.
1.2.3. Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trng của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trung gian tín dụng là hoạt động cầu
nối giữa cung và cầu về vốn trong xã hội. Để thực hiện chức năng này, NHTM
huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể
trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay. Mặt khác, trên cơ sở vốn đã
huy động đợc, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh,
tiêu dùng... của các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của
guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Ngày nay, quan niệm
trung gian tín dụng trở nên biến hoá hơn. Sự phát triển của thị trờng tài chính
làm xuất hiện những khía cạnh khác của chức năng này. Ngân hàng có thể đứng
ra làm trung gian giữa công ty (khi phát hành cổ phiếu) với các nhà đầu t;
chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trờng chứng khoán; đảm nhận việc mua bán
trái phiếu công ty...Theo cách này, ngân hàng làm trung gian giữa ngời đầu t và
ngời cần vay vốn trên thị trờng. Các NHTM thực hiện chức năng này để kiếm
lời bằng việc đặt một lãi suất cao hơn cho các món vay so với món lãi mà họ
phải thanh toán cho ngời cho vay (ngờigửi tiền). Tác dụng của trung gian tài
chính là giảm thiểu những chi phí thông tin và chi phí giao dịch trong nền kinh
tế. Đây là một nguồn tài chính quan trọng hơn nhiều cho các công ty so với thị
trờng chứng khoán.
Chức năng trung gian tín dụng của các NHTM đợc hình thành từ rất sớm.
Ngày nay, NHTM, thông qua chức năng này, đã và đang thực hiện vai trò xã hội
của mình, làm cho sản phẩm trong nớc tăng lên, vốn đầu t mở rộng, từ đó góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
1.2.4. Chức năng làm dịch vụ tài chính và dịch vụ khác
11
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
Ngân hàng có những điều kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin,
trợ khác nhau: ứng tiền trớc, tài khoản mở, uỷ thác, nhờ thu, và th tín dụng, tín
dụng chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, mua bán séc du lịch. Ngày nay, các
12
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
NHTM đã đi từ việc tài trợ các hợp đồng thơng mại riêng biệt đến cung cấp các
giải pháp tổng hợp đối với các nhu cầu thơng mại, bao gồm sự kết hợp cho vay
của ngân hàng với các nguồn bảo trợ từ các cơ quan xuất khẩu của chính phủ,
công ty thuê mua tài chính quốc tế và các nguồn tài trợ phi ngân hàng khác,
cùng với bảo hiểm rủi ro chính trị và kinh tế. Kinh doanh đối ngoại của ngân
hàng trở nên đa dạng, tinh vi hơn, đồ sộ hơn, thể hiện ở các hoạh động: kinh
doanh ngoại hối, chứng khoán, thanh toán quốc tế, tín dụng hợp vốn, đồng tài
trợ, hùn vốn, đại lý, uỷ thác...Tuy nhiên, hoạt động này cũng đòi hỏi ngân hàng
phải có năng lực tài chính vững mạnh, trình độ quản lý kinh doanh có uy tín, kỹ
thuật công nghệ ngân hàng hiện đại, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn
cao.
1.3. Vai trò của NHTM
Vai trò của NHTM chính là sự vận dụng các chức năng của nó vào hoạt
động thực tiễn. Tuy nhiên, vai trò của NHTM thay đổi cùng với sự phát triển
kinh tế xã hội và phụ thuộc vào hoạt động chủ quan của các cơ quan quản lý.
1.3.1. Vai trò thực thi chính sách tiền tệ
Các NHTM là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của các công cụ chính
sách tiền tệ nh lãi suất, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu thị trờng mở, hạn mức tín
dụng... Đồng thời các NHTM đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các
tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực phi ngân hàng và đến nền kinh tế.
Ngợc lại, qua NHTM tình hình sản lợng, gía cả, công việc làm, nhu cầu tiền
mặt, tổng cung tiền tệ, lãi suất, tỷ giá của nền kinh tế đợc phản hồi về cho
NHTW để chính phủ và NHTW có những chính sách điều tiết thích hợp với tình
hình cụ thể. Vai trò điều tiết kinh tế vi mô của NHTM đợc thể hiện qua việc tiếp
nhận, thu hút khối lợng tiền mặt trong nền kinh tế vào NHTM, đồng thời cung
chất, các loại tiền gửi có kỳ hạn này có dạng nh một khoản tiền vay của ngân
hàng nhng không thể hiện bằng một phiếu khoán. Nó là một ngoại lệ của qui
tắc khả dụng, bởi vì ngân hàng chỉ phải hoàn lại số tiền ký thác vào ngày đáo
hạn ghi trên hợp đồng. Khi chúng ta gửi tiền vào ngân hàng, theo tài khoản tiền
gửi có kỳ hạn, điều ngân hàng cần biết trớc tiên là chúng ta gửi tiền với thời
gian bao lâu, thông thờng định kỳ có thể là một tháng, ba tháng, sáu tháng, chín
tháng, một năm hoặc hơn nữa.
Tên gọi có kỳ hạn có nghĩa là khoản tiền đợc gửi sẽ có thời gian tối
thiểu theo thoả thuận giữa ngân hàng và thân chủ và không đợc rút ra trớc thời
hạn đã định nói trên. Nếu vì lý do đặc biệt phải rút tiền ra trớc hạn kỳ, các
NHTM có một trong ba cách xử lý:
1.Từ chối: Họ đã từng có quyền làm nh vậy trớc đây, bởi vì việc gửi tiền
của chúng ta là một hợp đồng cho vay với thời hạn đã thống nhất, khi chúng ta
14
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
đòi lại trớc thời hạn, điều đó sẽ gây thiệt hại cho công việc của ngân hàng. Tuy
nhiên, thông thờng ngân hàng áp dụng hai cách mềm dẻo hơn là:
2. Yêu cầu chúng ta phảI báo trớc, ít nhất một khoảng thời gian nào đó về
ý định rút tiền. Trớc những năm 80, khoảng thời gian tối thiểu phải báo trớc này
là 30 ngày
3. Với những yêu cầu rút tiền đột xuất nh vậy, khoản lãi suất mà ngân
hàng trả cho tiền gửi của chúng ta sẽ rất thấp, do chúng ta phải chịu lãi suất
phạt vì đã làm ảnh hởng đến kế hoạch của ngân hàng.
Xuất phát từ loại hình tiền có kỳ hạn, một khái niệm đợc hình thành đó là
thời gian đáo hạn hay đến hạn thanh toán của các loại chứng th tiền gửi.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng tại tài khoản có kỳ hạn 3 tháng rồi nhận
một cuốn passbook (quyển sổ) do ngân hàng cấp, hoặc dùng tiền mua một trái
phiếu tiết kiệm (savings bond) cũng của chính ngân hàng đó phát ra với thời
hạn thanh toán sau 3 tháng. Hai việc làm này tính chất không khác nhau, ngoại
hoặc sản xuất có tính lâu dài hơn với lợi tức ổn định hơn. Theo điều tra về tình
hình lãi suất mà các NHTM trả cho các loại tiền gửi có kỳ hạn khác nhau ở Hoa
Kỳ năm 1996, cho thấy lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn chỉ ổn định ở mức cao
với những loại dài hạn, không ổn định với những loại ngắn hạn, vì tiền gửi ngắn
quá không khác nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. Trong từng thời điểm một,
khoảng cách giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn cũng khá rộng. Sự khác biệt rõ
ràng ấy là chính sách của các NHTM trong việc kích thích các khoản gửi có kỳ
hạn với thời gian càng dài càng tốt.
Nhìn một cách khái quát trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm
1996, ở các nớc phát triển, tiền gửi có kỳ hạn của nhân dân và vốn cổ phần của
các NHTM đều giảm liên tục, tuy có chậm. Ngợc lại, các loại tài sản nợ khác
lại tăng lên theo thời gian. Hiện tợng trên gợi ra đôi điều suy nghĩ, phán đoán.
Phải chăng các chủ NHTM đã và đang có khuynh hớng vay và sử dụng nhiều
hơn vốn của thị trờng tiền tệ để hoạt động kinh doanh. Bởi vì rất dễ hiểu là việc
hạn chế vốn cổ phần sẽ làm tăng nhanh lợi nhuận ròng (ROE) và việc giảm tỷ lệ
tiền gửi có kỳ hạn trong tài sản nợ là phơng thức quản lý đi từ thụ động với tình
huống sang chủ động thiết kế điều kiện kinh doanh. Nó phản ánh quan niệm
mới trong quản lý nợ của các NHTM song song với quá trình phát triển chung
của nền kinh tế và với thị trờng tiền tệ -tài chính nói riêng. Tuy nhiên, bức tranh
trên chỉ mô tả hoạt động tạo vốn của NHTM ở các nớc phát triển. Còn ở những
nớc đang phát triển, tình hình huy động tiền gửi có kỳ hạn ở các NHTM có
nhiều khác biệt.
Nghiệp vụ huy động tiền gửi ở các NHTM hiện đang rất phổ biến, nhất là
tiền gửi có kỳ hạn, bởi tính u việt về lãi suất và kỳ hạn của nó. Tuy nhiên, môi
trờng hoạt động của các NHTM ở các nớc khác nhau là khác biệt. Điều đó tạo
nên dấu ấn riêng của từng NHTM trong nghiệp vụ này.
2.2. phân loại tiền gửi có kỳ hạn
Vào những năm 80, tiền gửi không kỳ hạn là bộ phận lớn nhất trong cung
ứng tiền M1; 90%cung ứng tiền M1 ở Mỹ là séc và 10% là tiền mặt. Tuy nhiên,
16
thành nên những khoản vốn huy động khổng lồ. Ngời gửi có thể đợc phép viết
séc để thanh toán hoặc trao đổi trực tiếp với đối tác. Các đối tác kinh doanh này
có thể dùng phiếu nợ trên để mua, bán tiếp hoặc đem đến NHTM đổi thành tiền
mặt. ở Việt Nam, trong những năm gần đây, do nhu cầu cạnh tranh giữa các
ngân hàng, hầu hết các NHTM đều đa ra các hình thức tiền gửi tiết kiệm có thời
17
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng với lãi suất cao hơn loại tiền gửi không kỳ hạn và
lãi suất tiết kiệm theo thời gian thực gửi ngắn từ 1 đến 29 ngày, từ 30 đến 59
ngày.
b) Chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn:
Đây là loại chứng th nh chứng th tiết kiệm (Saving certificates)- một loại
giấy chứng nhận tiền gửi có kỳ hạn (certificates of deposits- CDs). Theo qui
định của các NHTƯ ở các nớc đã phát triển, loại chứng chỉ này có giá trị không
lớn hơn 100.000 USD, gọi là các chứng chỉ có kỳ hạn loại nhỏ. Đó là những tờ
giấy chứng nhận có hai mặt (nh công trái ở Việt Nam) trên đó ghi rõ nơi phát
hành, ngày phát hành, đơn vị phát hành, số tiền mặt đã gửi vào, lãi suất (%),
ngày hoàn vốn và lãi hay ngày đáo hạn. Giống nh các loại tiền gửi có kỳ hạn
khác do NHTM phát ra, loại chứng th này có thể dùng để giao dịch, thế chấp
hoặc đem bán nh một loại tài sản, nhng không đợc rút tiền mặt ra trớc ngày đáo
hạn. Nếu nhất thiết phải rút ra trớc hạn, chúng ta phải chịu lãi suất phạt do
NHTM áp đặt.
ở các nớc đã phát triển, ngời ta phân chia chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn
thành loại lớn và loại nhỏ, nhằm tách những loại tiền khác nhau về mặt thanh
khoản. Tuy nhiên, ở các nớc đang phát triển, nh Việt Nam, thì không có sự phân
chia này, do thị trờng tiền tệ cha phát triển ở mức hoàn chỉnh. Các chứng chỉ
tiền gửi này nhìn chung thuộc loại tiền gửi kỳ hạn ngắn hạn do NHTM công bố
phát hành cho các đối tợng muốn gửi tiền vào ngân hàng.Và thay vì nhận một
cuốn sổ tiền gửi có kỳ hạn, họ sẽ nhận loại chứng th này. ở nớc ta, loại chứng
bằng hình thức này thờng chiếm xấp xỉ 10% đến 15% tổng tài sản nợ của
NHTM.
c) Trái phiếu đôla - euro:
Đôla - euro là một loại chứng th thờng do các ngân hàng ngoại thơng,
ngân hàng xuất nhập khẩu phát ra. Loại phiếu nợ này cũng giống nh chứng chỉ
tiền gửi có kỳ hạn, cũng có hai mặt ghi chú rõ ràng tên ngân hàng đã phát hành
ra nó, nơi phát hành, ngày phát hành, lãi suất, ngày đến hạn và số tiền USD trên
bề mặt...Rất nhiều cá nhân, nhà kinh doanh, hộ gia đình và chính phủ trong và
ngoài nớc hiện nay sở hữu USD và họ muốn sinh lời từ tài khoản này. Tuy
nhiên, vì lý do nào đó, họ không muốn chuyển đổi USD thành dollars để hởng
lãi, và đến hạn cũng đợc hoàn trả bằng USD. Cũng giống nh CDs hay tín
phiếu .thời gian đáo hạn của loại trái phiếu này thờng rất ngắn, từ vài tuần đến
3 tháng. Trong các thị trờng tài chính lớn, loại trái phiếu này (nh tín phiếu ở
Việt Nam) đợc xem không khác gì USD. Do đó, các ngân hàng ngoại thơng rất
thích huy động loại tiền gửi có kỳ hạn này để có vốn cho các thơng vụ kinh
doanh với nớc ngoài. Tại Việt Nam, chỉ có ngân hàng ngoại thơng, ngân hàng
xuất nhập khẩu mới đợc phép huy động tiền gửi bằng loại trái phiếu EURO-
Dollars này.
2.2.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn loại trung hạn
19
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
Việc phân chia tiền gửi có kỳ hạn thành ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn
chỉ mang ý nghĩa tơng đối. ở mỗi NHTM, vào từng thời điểm khác nhau, ngời
ta có thể quan niệm tiền gửi kỳ hạn cũng khác nhau. Một cách khái quát, các
loại tiền gửi có kỳ hạn loại trung hạn có thời gian đáo hạn từ 6 tháng, 9 tháng,
và nhỏ hơn 12 tháng. Gồm các loại sau:
-Tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn: 6 tháng, 9 tháng.
-Tiền gửi tiết kiệm theo thời gian thực gửi: từ 90-179 ngày, từ 180- 269
ngày, từ 270- 329 ngày, từ 330- 359 ngày.
Loại tiền gửi tiết kiệm có sổ, giống nh tiền gửi tiết kiệm loại trung hạn, ng-
ời gửi đợc nhận một cuốn passbook làm chứng th xác nhận việc gửi tiền vào
ngân hàng và phải trực tiếp mang đến ngân hàng khi có nhu cầu rút tiền hoặc
gửi thêm. Các tiền gửi tiết kiệm dài hạn thờng có thời gian đáo hạn từ 1 đến 3
năm. ở Việt Nam, các NHTM cũng có các loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài
đợc tính theo thời gian thực gửi từ 360- 390 ngày.
b) Trái phiếu tiết kiệm:
Đây là loại hình tiền gửi có kỳ hạn bằng cách dùng tiền mặt để mua các
phiếu nợ tiết kiệm do kho bạc, chính phủ, chính quyền địa phơng hay công ty,
NHTM phát ra. Tuỳ theo mức độ phát triển phát triển của mỗi quốc gia, loại trái
phiếu tiết kiệm này rất đa dạng về tên gọi và chủng loại. Trớc hết, ngời ta gọi nó
là trái phiếu tiết kiệm với mục đích để phân biệt nó với các loại trái phiếu thông
thờng khác về mục tiêu phát hành và lãi suất. Mục tiêu phát hành của loại trái
phiếu này là nhằm vào huy động những đồng tiền để dành và tiết kiệm của nhân
dân, cho nên loại vốn này, sau khi huy động, phải đợc dùng vào việc có ích cho
xã hội và phải tuyệt đối an toàn. Tiếp theo là lãi suất. Lãi suất loại trái phiếu
này thờng cao hơn các loại trái phiếu đầu t khác nhằm thể hiện sự u đãi những
đồng tiền xuất phát từ sự dành dụm của nhân dân lao động. Thời gian đáo hạn
của loại trái phiếu này thờng là một năm trở lên đến hàng chục năm. Trái phiếu
tiết kiệm do NHTM phát hành đợc gọi chung là trái phiếu tiết kiệm. Trái phiếu
tiết kiệm do kho bạc phát ra gọi là trái phiếu tiết kiệm kho bạc. Trái phiếu tiết
kiệm do chính quyền Trung ơng hay địa phơng phát ra vì mục đích huy động
vốn cho công trình xây dựng cơ bản lâu hoàn vốn có thể gọi là trái phiếu đô thị
hay trái phiếu nhà nớc (công trái Việt Nam). Các phiếu nợ này, thông qua
NHTM, đợc đa đến với công chúng và ngời dân, vì mục tiêu sinh lời cũng nh ý
thức phát triển cộng đồng, đã bỏ khoản tiền d thừa của mình ra mua trái phiếu
tiết kiệm này. Đó là hình thức huy động tiền gửi có kỳ hạn lâu dài rất phổ biến
của NHTM hiện nay.
c) Trái phiếu euro-dollars loại lớn:
Loại trái phiếu này cũng giống nh loại phiếu nợ mà chúng ta đã đề cập ở
năm này qua năm khác, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, lu chuyển vốn
liên tục và liên tiếp đa sản phẩm ra thị trờng. Các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh cũng nh những ngời nông dân, có khi bận rộn cũng có khi nông nhàn, tuy
chu kỳ sản xuất của hai đối tợng này không giống nhau. Các doanh nghiệp khi
tiến hành hoạt động của mình, họ phải trích lập các quỹ nh :quỹ khấu hao, quỹ
khen thởng, các quỹ dự phòng rủi ro cha bù đắp, các khoản lợi nhuận cha chia,
22
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
thu nhập doanh nghiệp cha chi... Số tiền này trong một khoảng thời gian nhất
định đợc coi là d thừa và nhàn rỗi. Nếu họ đem số tiền này cất vào tủ chờ đến
ngày thanh toán, nó sẽ không đem lại lợi nhuận. Mặt khác, nếu các doanh
nghiệp đem số tiền nhàn rỗi tạm thời này gửi vào các NHTM dới dạng tiền gửi
có kỳ hạn khác nhau. Song thông thờng là các loại tiền gửi kỳ hạn ngắn và trung
hạn.
2.2.2.2. Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, NHTM
Giống nh các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, và các
NHTM trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình cũng có các khoản tiền
nhàn rỗi tại một thời điểm xác định. Các NHTM, tổ chức tín dụng, tổ chức tài
chính, sau khi đã huy động đợc vốn mà không cho vay đợc, hoặc không có
nguồn cho vay hiệu quả, họ sẽ bù đắp việc phải trả lãi trên đồng vốn huy động
đợc, bằng cách đem số tiền đó gửi vào NHTM khác dới hình thức tiền gửi có kỳ
hạn. ở Việt Nam, loại tiền gửi có kỳ hạn hiện cũng đang khá phổ biến do các
NHTM ứ đọng vốn, không cho vay đợc.
2.2.2.3. Tiền gửi có kỳ hạn của dân c
Đây là loại huy động phổ biến ở các NHTM từ xa đến nay, các khoản tiền
tiết kiệm của dân chúng gửi với các nghiệp vụ của nó đã trở nên quen thuộc và
rộng rãi, hơn nữa, đời sống nhân dân đợc cải thiện, thu nhập dân c tơng đối ổn
định. Vì thế, việc đem khoản tiền cha sử dụng hoặc để dành của mình gửi vào
NHTM để lấy lãi đã không còn xa lạ với mọi tầng lớp dân c. Dân chúng gửi tiền
2.2.4. Căn cứ theo mục đích gửi tiền
2.2.4.1. Tiền gửi có kỳ hạn nhằm mục tiêu an toàn
Các NHTM giờ đây đã trở thành nơi gửi tiền lý tởng và tuyệt đối an toàn
với mọi tầng lớp dân c, mọi thành phần kinh tế trong xã hội. Thay vì giữ bên
mình một khoản tiền không nhỏ, vừa lo sợ mất cắp, vì h hỏng, hao mòn lại phải
vận chuyển... Các khách hàng quyết định gửi tiền của mình vào ngân hàng, vốn
mục đích chính là an toàn, sau là thu lợi nhuận.
2.2.4.2. Tiền gửi có kỳ hạn nhằm mục tiêu sinh lời
Đây là điểm khác biệt lớn giữa tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ
hạn. Trớc đây, tiền gửi không kỳ hạn không đợc hởng lãi. Hiện nay, tuy tiền gửi
không kỳ hạn có hởng lãi nhng lãi suất rất thấp. Vì thế, nếu khách hàng muốn
có một chút lợi nhuận trên số tiền d thừa của mình, họ sẽ gửi tiền vào tài khoản
tiền gửi có kỳ hạn.Tiền gửi có kỳ hạn càng dài, càng đợc hởng lãi suất cao hơn.
Mặt khác, NHTM còn đa ra các loại tiền gửi có kỳ hạn với lãi suất thoả thuận,
có thể cao hơn các loại chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn khác nhằm thu hút nguồn
vốn đầu t của nhân dân và nền kinh tế. Vì vậy để đảm bảo mục tiêu sinh lời lớn,
khách hàng cần cân nhắc các mức lãi suất cạnh tranh khác nhau, với các khoảng
24
Trơng Thị Thu Linh Chuyên đề tốt nghiệp
thời gian đáo hạn phù hợp. Điều đó, đòi hỏi các NHTM phải đa ra các loại tiền
gửi có kỳ hạn rất linh hoạt đa dạng.
2.2.4.3. Tiền gửi có kỳ hạn nhằm mục tiêu thanh khoản
Dựa vào nhu cầu thanh toán của chính mình, các khách hàng sẽ xem xét
nên gửi vào ngân hàng theo loại tiền gửi có kỳ hạn nào, thời gian đáo hạn bao
lâu , có khả năng chuyển thành tiền mặt nh thế nào. Trớc đây , khi khách hàng
gửi tiền vào tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, muốn chuyển tiền sang tài khoản sử
dụng séc để chi tiêu cho công việc vào đó, anh ta phải đến ngân hàng làm thủ
tục. Trong trờng hợp tiền gửi có kỳ hạn cha đến hạn, anh ta phải chịu mất ít lãi
suất phạt, và bị khấu trừ vào lãi suất đợc hởng vì đã chuyển tiền trớc thời hạn