Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện yên châu, tỉnh sơn la - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



VI THỊ HUYỀN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được nêu rõ nguồn gốc.

Hà nội, ngày 18 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn

Vi Thị Huyền
Vi Thị Huyền

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
Danh mục các chữ viết tắt ix MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Lý luận về sử dụng đất và sử dụng đất nông nghiệp 3
1.1.1. Khái quát về đất và đất nông nghiệp 3
1.1.2. Vai trò của đất nông nghiệp 3
1.1.3. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 5
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 7
1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 9
1.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
1.3.1. Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất 14
1.3.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
1.3.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 17
1.4. Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21
1.4.1. Những nghiên cứu trên Thế giới 21
1.4.2. Các nghiên cứu ở trong nước 24
1.4.3. Các nghiên cứu trên địa bàn vùng Tây Bắc và tỉnh Sơn La. 27

3.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 60
3.4.1. Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính 60
3.4.2. Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 64
3.4.3. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất 69
3.4.4. Hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất 74
3.4.5. Đánh giá tổng hợp và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng 78
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

3.5. Quan điểm và định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện
Yên Châu 83
3.6. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 86
3.6.1. Giải pháp quy hoạch sử dụng đất 86
3.6.2. Giải pháp kĩ thuật 86
3.6.3. Giải pháp về chính sách và vốn 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 93 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

2.1 Phân cấp đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất khu
vực nghiên cứu 34
2.2 Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất khu
vực nghiên cứu 35
2.3 Phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất

3.3 So sánh GTSX của các LUT giữa 2 tiểu vùng 67
3.4 So sánh GTGT của các LUT giữa 2 tiểu vùng 67

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 BVTV Bảo vệ thực vật
2 CPTG Chi phí trung gian
3 ĐVT Đơn vị tính
4 FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
5 GTGT Giá trị gia tăng
6 GTGT/LĐ Giá trị gia tăng trên ngày công lao động
7 GTSX Giá trị sản xuất
8 GTSX/LĐ Giá trị sản xuất trên ngày công lao động
9 HQĐV Hiệu quả đồng vốn
10 HQKT Hiệu quả kinh tế
11 HQMT Hiệu quả môi trường
12 HQXH Hiệu quả xã hội
13 LĐ Lao động
14 LUT Loại hình sử dụng đất
15 LX - LM Lúa xuân - lúa mùa
16 LM - Đ.tương Lúa mùa - Đậu tương
17 NXB Nhà xuất bản
18 NX - LM Ngô xuân - lúa mùa
19 PC Phân chuồng

cao biên giới và vùng lòng chảo. Yên Châu có tổng diện tích tự nhiên là
85.937ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp với diện tích 24.242,69ha chiếm
28,20%. Điều kiện tự nhiên phong phú thuận lợi cho việc phát triển sản xuất
nông nghiệp, vì vậy việc tìm ra hướng sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, phát huy
được điều kiện thực tế đất đai và phát triển bền vững cho nông nghiệp là việc làm
có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn huyện. Thời gian qua huyện đã thực hiện một số biện pháp để nâng cao hiệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2

quả quản lý sử dụng đất như: Đưa các loại giống mới vào sản xuất nông nghiệp,
giao quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ổn định lâu dài, giao đất giao rừng
đến từng hộ gia đình và cá nhân để khoanh nuôi bảo vệ tái sinh rừng và trồng
rừng Tuy nhiên do trình độ dân trí chưa cao nên khả năng áp dụng khoa học kỹ
thuật trong sản xuất còn nhiều hạn chế, năng suất cây trồng thấp, chưa đánh giá
và đề xuất được các loại hình sử dụng đất có triển vọng nhằm khai thác sử dụng
đất nông nghiệp hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế đất đai và điều kiện kinh
tế - xã hội của địa phương.
Để góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, giúp địa phương có căn cứ
lựa chọn các loại hình sử dụng đất hiệu quả nhất về cả kinh tế, xã hội và môi
trường, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng
đất sản xuất nông nghiệp huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La".
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp từ
đó tìm ra các loại hình sử dụng đất hiệu quả nhất trên địa bàn huyện Yên Châu.
- Đề xuất các giải pháp phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp.
3. Yêu cầu cuả đề tài
- Hiểu rõ đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sử dụng
đất làm cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo trình tự

tăng 5.179.385 ha (gấp 1,25 lần) so với năm 2000. Diện tích đất sản xuất nông
nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối, giai đoạn 2000 - 2010, tăng bình quân
114.000 ha/năm
(Hà Văn Đồng 2013)
.
1.1.2. Vai trò của đất nông nghiệp
Đất đai giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4

của đất đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọng khác nhau. C.Mác đã nhấn
mạnh “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là mẹ” dẫn theo (
Lê Hội,
1996)
. Trong sản xuất nông lâm - nghiệp, đất đai có ý nghĩa vô cùng quan trọng,
điều này được thể hiện rõ nét qua các đặc điểm sau đây:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm
nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá
trình sản xuất. Đất đai được xem là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực
hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản
phẩm của tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng
tăng lên. Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm
bồi bổ, bảo vệ, làm tăng độ màu mỡ của đất thông qua những hoạt động có ý
nghĩa của con người.
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu (Trần
An Phong, 1995). Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất
nông - lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng
tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Việc khai khẩn đất
hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp

1.1.3.1. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người
lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị
trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta
với mục tiêu nâng cao hiệu quả KT-XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực,
thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu.
Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những
mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện
sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ
bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên
đất. Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp
lý”, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất nông nghiệp có
hiệu quả kinh tế cao (FAO, 1990).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp “đầy đủ và hợp lý” là cần thiết vì:
- Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản
trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý góp
phần bảo vệ độ phì đất (Nguyễn Văn Bộ, 2003).
- Sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là tiền đề để sử dụng có hiệu
quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân.
- Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị
trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền
vững (Nguyễn Điền, 2001). Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và
chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu
cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn
liền với điều kiện sinh thái, môi trường. Vì vậy, các phương thức sử dụng đất
nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi

+ Quan điểm bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài.
* Các nội dung và nhiệm vụ sử dụng đất được thể hiện ở những mặt sau:
- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử
dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ
cấu kinh tế sử dụng đất (Lê Văn Bá, 2001).
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô kinh tế sử
dụng đất (Đặng Hữu, 2000).
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế,
tập trung thâm canh (Ngô Thế Dân, 2001).
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.1. Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng )
có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên để
sinh vật tạo nên sinh khối (FAO, 1990). Vì vậy, khi xác định vùng nông nghiệp
hoá cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây trồng vật
nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I.
Theo N.Borlang người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước
phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất, quan trọng nhất, hạn chế năng suất cây trồng
ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu
vốn là độ phì đất (Nguyễn Duy Tính, 1995).
1.1.4.2. Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây
trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản
xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những tác động
thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi

thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm. Ba yếu tố chủ yếu
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là : năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất
và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra”.
- Hệ thống chính sách.
- Sự ổn định chính trị- xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát
triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước.
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực
của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư.
1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con
người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài
nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả
đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đem lại kết quả hữu
ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ
dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt
động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó (Lê Hội, 1996).
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá
của hiệu quả. Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả
phải là chi phí lao động xã hội (Vũ Năng Dũng, 1997). Vì thế, bản chất của hiệu
quả chính là hiệu quả lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh
giữa kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội. Tiêu chuẩn của
hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện tài
nguyên thiên nhiên hữu hạn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước
trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà
hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong
muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động
theo các ngành sản xuất khác nhau. Trên cơ sở thực hiện vấn đề “Tiết kiệm và
phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các
ngành”. Theo quan điểm của C. Mác đó là qui luật “Tiết kiệm”, là “Tăng năng suất
lao động xã hội ”, hay đó là “tăng hiệu quả”. Ông cho rằng: “ Nâng cao năng suất
lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi
xã hội “. Như vậy, theo quan điểm của Mác tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và
nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội (Nguyễn Duy Tính, 1995).
Theo tác giả Vũ Phương Thụy: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí.
Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội. Hiệu quả sản xuất diễn
ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm
sản lượng một loại hàng hoá khác. Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường
giới hạn khả năng năng suất của nó" .
Theo L.M Canirop "Hiệu quả của sản xuất được tính toán và kế hoạch hoá
trên cơ sở những nguyên tắc chung của nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh
kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng".
Tác giả Nguyễn Duy Tính (1995)cho rằng: “Thông thường hiệu quả được
hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có
trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa”. Do
vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp
mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí.
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều
thống nhất ở bản chất của nó. Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra
những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn. So sánh kết
quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó sẽ có hiệu quả kinh tế. Tiêu
chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc
tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương
đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó. Một phương án
đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương
quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư.
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất
đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một
lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng về vật chất của xã hội (Doãn Khánh, 2000).
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và
thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu
biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các
chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho người lao động, xoá
đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của
toàn dân (Trần An Phong, 1995).
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác
định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp. Hiện nay,
việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề
đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.
* Hiệu quả môi trường
Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, hiệu quả môi trường được
các nhà nghiên cứu về môi trường rất quan tâm trong điều kiện hiện nay. Một
hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại
hay có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh
học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm
cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt
hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính

quá trình phát triển, ở nhiều giai đoạn phản ứng của môi trường thường tạo ra
những trở ngại to lớn, có khi không thể vượt qua được. Phát triển nông nghiệp
chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị
phá huỷ gây tác hại đến đời sống xã hội. Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên
nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai. Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp với
môi trường xung quanh. Cụ thể là khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng
đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không? Việc sử dụng hoá chất trong
nông nghiệp có để lại tồn dư hay không?
- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối
quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang
tính xã hội rất sâu sắc. Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân,
đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn (Đường Hồng Dật và cs, 1994). Vì vậy,
khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động
của sản xuất nông nghiệp, đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng
thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn
1.3.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quá
trình sản xuất của xã hội. Tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu
chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển KT-XH khác nhau.
Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa
thống nhất. Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và
tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm
lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu
quả (FAO, 1990).
Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có
thể xem xét ở các mặt sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status