BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*** PHẠM THỊ THANH HẰNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH BÓN
CHO CÂY LÚA XUÂN TRÊN ĐẤT PHÙ SA SÔNG HỒNG
TẠI HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN THÀNH HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
người luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện
bản luận văn này.
Hà Nội, ngày .01 tháng .03 năm 2015
Tác giả Phạm Thị Thanh Hằng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng biểu vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Vai trò của phân bón đối với độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng 3
1.1.1 Vai trò của đạm đối với độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng 3
1.1.2 Vai trò của lân đối với độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng 4
1.1.3 Vai trò của kali đối với độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng 5
1.1.4 Cơ sở khoa học của phân bón vi sinh vật cải tạo đất và làm dinh dưỡng
cho cây trồng 7
2.2.2 Đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh đối với sinh trưởng, phát triển
và năng suất của cây lúa nước vụ xuân năm 2014 31
2.2.3 Ảnh hưởng của phân bón vi sinh vật đến một số tính chất sinh hóa học
đất (phân tích so sánh trước và sau thí nghiệm) 32
2.2.4 Hiệu quả kinh tế và môi trường của phân hữu cơ vi sinh 32
2.2.5 Đề xuất bón phân hợp lý cho cây lúa nước trên đất phù sa sồng Hồng tại
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 32
2.3.2 Chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất lúa 33
2.3.3 Các chỉ tiêu vi sinh vật đất 35
2.3.4 Các chỉ tiêu hóa học đất 35
2.3.5 Xử lý số liệu thí nghiệm 36
2.3.6 Hiệu quả kinh tế 36
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất lúa
của huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 37
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 37
3.1.2 Tình hình sản xuất lúa của huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 54
3.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng cây lúa 58
3.2.1 Chất lượng của phân hữu cơ vi sinh bón cho cây lúa 58
3.2.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến chiều cao cây lúa 59
3.2.3 Ảnh hưởng của phân HCVS đến tỷ lệ đẻ nhánh cây lúa 61
3.2.4 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ sâu bệnh 65
3.2.5 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất lúa 67
3.3 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến tính chất sinh hóa học đất 70
KH : Kế hoạch
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
VK : Vi khuẩn
VKTSHK :Vi khuẩn tổng số hảo khí
VKTSYK : Vi khuẩn tổng số yếm khí
VKCĐN : Vi khuẩn cố định đạm
VSV : Vi sinh vật
VSVCĐN : Vi sinh vất cố định đạm
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TNHH : Thu nhập hỗn hợp
XKTS : Xạ khuẩn tổng số Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Tên bảng Trang
1.1 Tác dụng của phân vi sinh đến khả năng kháng bệnh ở khoai tây 28
1.2 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật đối với một số cây trồng. 29
1.3 Hiệu quả phân hữu cơ tái chế đến sinh trưởng phát triển của lúa 30
3.1 Đặc điểm khí hậu thời tiết Huyện Tiên Du 39
3.14 Hiệu quả kinh tế của phân HCVS đối với lúa xuân trên đất phù sa sông
Hồng huyện Tiên Du - Bắc Ninh 76
3.15 So sánh năng suất thực thu của các công thức thí nghiệm 77
3.16 Đánh giá của người dân về việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh bón cho cây
trồng tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 79Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
3.1 Sơ đồ huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh 37
3.2 Ảnh hưởng của phân HCVS đến chiều cao lúa xuân trên đất phù sa sông
Hồng huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 61
3.3 Ảnh hưởng của phân HCVS đến số dảnh lúa xuân trên đất phù sa sông
Hồng huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 64
3.4 Ảnh hưởng của phân HCVS đến năng suất thực thu lúa xuân trên đất phù
sa sông Hồng huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 70
- Đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng phát triển,
năng suất lúa và khả năng thay thế phân hóa học của loại phân này bón cho cây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
lúa nước trên đất phù sa sông Hồng huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất công thức bón phân hợp lý cho cây lúa nước nhằm tăng hiệu
quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Triển khai thí nghiệm đồng ruộng với các công thức khác nhau: phân
hoá học, phân hữu cơ vi sinh đa chức năng, phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh bón
cho cây lúa nước giống Q5 vụ xuân năm 2014.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của phân hữu cơ vi sinh trên
đất phù sa sông Hồng huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vai trò của phân bón đối với độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng
1.1.1. Vai trò của đạm đối với độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng
Đạm là chất dinh dưỡng cần thiết và rất quan trọng đối với cây. Đạm là
yếu tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin, các
enzim và nhiều loại vitamin trong cây, làm cho cây ra nhiều nhánh phân cành, ra
lá nhiều, lá cây có kích thước to, màu xanh, lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng
vóng dẫn đến hiện tượng đổ non, khả năng chống chịu kém và sẽ làm giảm năng
suất một cách rõ rệt.
1.1.2. Vai trò của lân đối với độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng
Lân là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là thành phần chủ yếu của nhân
tế bào. Cây lúa hút lân mạnh hơn so với các loại cây trồng cạn. Cùng với đạm,
lân xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và tăng số nhánh đẻ, đồng thời cũng làm cho
lúa trỗ bông và chín sớm. Thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng cây lúa hút lân mạnh
nhất. Lúa thiếu lân, lá có màu xanh đậm, bản lá nhỏ, hẹp, lá dài ra và mềm yếu,
rìa mép lá có màu vàng tía, lúa đẻ ít, thời kỳ trỗ bông và chín đều chậm lại và
kéo dài. Do trỗ bông muộn nên hạt lép nhiều độ dinh dưỡng hạt gạo thấp. Đặc
biệt, lúa thiếu lân ở thời kỳ làm đòng thì giảm năng suất một cách rõ rệt.
Sự thiếu lân xảy ra phổ biến ở đất có pH thấp hay cao: Đất axít latosol, đất
phèn, đất đá vôi, đất kiềm. Đất ando có khả năng cố định cao phân bón, cần
lượng lân nhiều hơn bình thường.
Khi cây lúa được cung cấp lân thỏa đáng sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ phát
triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo điều kiện sinh trưởng và phát triển, thúc
đẩy sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa.
Khi nghiên cứu hiệu ứng của photphorit bón cho lúa ở miền Bắc Việt Nam,
Lê Văn Căn (1964) cho rằng: Cây lúa hút lân ở thời kỳ đầu chủ yếu đáp ứng cho
quá trình sinh trưởng sinh dưỡng, đặc biệt là quá trình đẻ nhánh. Tương tự kết
luận của Lê Văn Căn (1964), Suichi Yoskida (1985) cho rằng hiệu suất của lân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
đối với hạt ở giai đoạn đầu cao hơn giai đoạn cuối, việc bón phân lân đáp ứng
được giai đoạn đầu của lúa.
Nghiên cứu của Hà Thị Thanh Bình và cs (2010) về ảnh hưởng của kỹ
thuật bón lân đến sinh trưởng, năng suất lúa mùa trên nền đất vùi rơm rạ cho kết
luận sau: bón phân lân sớm trước khi cấy 10 ngày, ruộng lúa sinh trưởng tốt hơn
và cho năng suất cao hơn so với trường hợp bón ngay khi cấy. Trên đất phù sa
số Kali cây hút được vận chuyển về bông, số còn lại nằm trong các bộ phận khác
của cây.
Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước tưới đến diễn biến kali trong
đất, nước và cây, Ngô Thanh Sơn và cs (2010) kết luận: Hàm lượng kali
trong nước giai đoạn đẻ nhánh là cao nhất do sau quá trình bón lót, phân kali
tan hoàn toàn trong nước và trong giai đoạn này, cây còn nhỏ nên chưa sử
dụng nhiều kali cho quá trình sinh trưởng và phát triển. Các giai đoạn tiếp
theo, từ đẻ nhánh đến trỗ, diễn biến kali trong nước có xu hướng giảm dần
theo thời gian, giai đoạn làm đòng, nhu cầu và sự hấp thụ dinh dưỡng của
lúa trong đó có kali là mạnh nhất. Do vậy, nếu bón kali quá nhiều trong giai
đoạn đẻ nhánh sẽ làm giảm hiệu quả của phân kali.
Đinh Thế Lộc và Vũ Văn Liết (2004) thì cho rằng: Kali không phải là chất
tạo thành bất kỳ một chất hữu cơ nào của cây lúa, nhưng nó rất quan trọng cho
hơn 40 Enzym hoạt động. Kali đóng vai trò trong hoạt động sinh lý của cây như
đóng mở khí khổng, tăng khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất
thuận, tăng khả năng chống chịu bệnh và giúp lúa đẻ nhánh thuận lợi, tăng kính
thước hạt, tăng khối lượng hạt. Thiếu Kali cây lúa sẽ còi cọc, đẻ nhánh kém hơn,
lá ngắn và có màu xanh tối, bông nhỏ và dài .
Sự thiếu Kali xảy ra có giới hạn ở lúa đất thấp. Mặt khác cũng xảy ra trên
đất thoát nước kém, một phần do những chất độc được tạo ra trong đất khử cao
làm chậm sự hấp thụ Kali và và một phần vì Kali trong đất ít được giải phóng ở
điều kiện thoát nước kém.
Đối với chất lượng hạt lúa, nếu thiếu Kali hạt giống sẽ không bình thường,
dị dạng cao, phôi và rìa hạt bị đen, tỷ lệ nảy mầm của hạt kém, sức sống của hạt
giảm nhanh trong quá trình bảo quản.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Theo Suichi Yoshida (1985) , đất trũng ít Kali, hàm lượng Kali thấp hoặc
thiếu Kali thường đi với ngộ độc sắt. Thường trong đất đỏ, chua phèn, trên đất
Hiệu lực của xử lý vi khuẩn nốt sần thay đổi rất nhiều từ không có hiệu lực
đến có hiệu lực rất cao, làm tăng từ 30-50% năng suất. Rhizobium là một chi vi
khuẩn Gram âm sống trong đất có vai trò cố định đạm. Vi khuẩn này xâm chiếm
tế bào rễ của cây taọ thành các nốt rễ, ở đây chúng biến đổi nito trong khí quyển
thành ammoniac và sau đó cung cấp các hợp chất nito hữu cơ như glutamin hoặc
ureide cho cây.
Trong đất còn có các loại vi sinh vật sống tự do có thể cố định được N
trong đất, có hai nhóm vi sinh vật: vi sinh vật yếm khí Clostridium
Pasteurianum, Clostridium butylicum, Clostridium acrtobutylium; vi sinh hảo
khí: Azotobacter Chroococum, Azotobacter agile, Azotobacter vinelandi.
Vi sinh vật phân giải lân là tập hợp các vi sinh vật có khả năng chuyển hoá
hợp chất photpho khó tiêu thành dễ tiêu đối với cây trồng. Các loài vi sinh vật
phân giải lân có thể kể đến: Pseudomonas, Flavo bacterium, Bacillus, Fusarium,
Penicillium, Aspergilus … thông qua các hoạt động sống của chúng tạo ra các
chất có thể hoà tan photpho.
Sử dụng phân hữu cơ vi sinh đã có những đóng góp nhất định để giải quyết
vấn đề bón phân tổng hợp cân đối cho cây trồng, tiến tới nền nông nghiệp ổn
định và bền vững và chắc chắn rằng sẽ đưa ra nhiều tiến bộ kỹ thuật có hiệu quả
sử dụng trong nhiều năm tới.
Phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm sinh học có tác dụng nâng cao năng suất
và chất lượng nông sản, giảm chi phí, tiết kiệm phân bón vô cơ và góp phần tạo
cân bằng sinh thái. Phân bón hữu cơ vi sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo
vệ môi trường và xây dựng nền nông nghiệp sạch, bền vững, do vậy nghiên cứu
sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh trong nông nghiệp đã và đang được nhiều nước
trên thế giới quan tâm phát triển.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Đạm đóng vai trò quan trọng đối với các loại cây trồng, đặc biệt đối với lúa,
đạm có tính chất quyết định tới năng suất của cây. Nhiều nhà khoa học trên thế
giới đã nghiên cứu cho thấy: nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên tục từ
đầu thời kỳ sinh trưởng cho tới lúc chín.
Theo S.Yoshida (1985), lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định
tới 74% năng suất. Bón nhiều đạm cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tập trung, tăng số
bông/m
2
, số hạt/bông, nhưng làm trọng lượng nghìn hạt ít thay đổi.
Theo Coooke (1975), Dillay (1988), năng suất của các giống lúa tăng dần
theo lượng đạm bón. Trên đất có hàm lượng nitơ tổng số và nitơ trung bình, nếu
bón 100-150 kg N/ ha có thể tăng năng suất từ 10,34 lên 38,92 tạ/ ha.
Ngoài nhu cầu về đạm, lân cũng đóng vai trò quan trọng đối với sinh
trưởng và phát triển của cây lúa.
1.2.3. Kết quả nghiên cứu sử dụng phân lân cho lúa
Theo Hog (1985), khi cây lúa được cung cấp lân thoả đáng tạo điều kiện
cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu điều kiện bất thuận, tạo điều
kiện cho cây sinh trưởng, phát triển, thúc đẩy sự chín của hạt và cuối cùng là
tăng năng suất lúa.
Theo Yoshida và Hayakawa 1970, phân lân rất cần cho cây lúa vào giai
đoạn đầu của sự phát triển. Thiếu lân cây sẽ còi cọc, sự trao đổi đạm kém, đặc
biệt là bộ rễ kém phát triển. Hiệu suất của lân ở giai đoạn đầu cao hơn giai đoạn
cuối và sản lượng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu đáp ứng cho quá trình phát
triển dinh dưỡng đặc biệt là quá trình đẻ nhánh. Do vậy phải chú ý bón lân sớm
ở giai đoạn đầu cho lúa.
Ở Ấn Độ bón phân lân với mức 60 kg P
2
0
5
/ha có thể tăng năng suất lúa lên
học sử dụng cho 1 ha tương đương 65 kg (N + P
2
0
5
+ K
2
0).
Cả hai nước lớn Trung Quốc và ấn Độ có truyền thống sử dụng phân sinh
học, sau nhiều năm gần đây cũng rút ra kết luận: Dinh dưỡng từ phân hữu cơ
không đáp ứng đủ nhu cầu cho cây trồng đạt năng suất cao, mà phải dùng phân
hoá học bổ sung với số lượng lớn.
Kinh nghiệm trên thế giới cũng như ở nước ta trong những năm gần đây
cho thấy nếu chỉ sử dụng các loại phân sinh học (phân chuồng, phân xanh,
phân vi sinh…) thì không thể nâng cao nhanh chóng năng suất và tổng sản
lượng cây trồng. Nhưng nếu chỉ sử dụng phân hoá học thì năng suất cây trồng
tăng đến giới hạn nhất định, nếu sử dụng không đúng lại gây ô nhiễm môi
trường. Vì vậy khái niệm “quản lý tổng hợp dinh dưỡng cây trồng” ra đời để
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
duy trì và nâng cao độ phì nhiêu đất, nâng cao năng suất một cách ổn định và
an toàn môi trường.
Năm 1929, phân vi khuẩn nốt sần đã được áp dụng ở Liên Xô cũ với diện
tích xử lý đạt 20 vạn ha, năm 1937 tăng lên 78 vạn ha. Năm 1949 hơn 1 triệu ha
và sau đó diện tích ngày càng rộng hơn.
Từ những năm 50 của thế kỷ XX, các chế phẩm vi sinh vật đã được sử dụng
khá rộng rãi trên thế giới và ngày càng phát triển về số lượng và chủng loại.
Theo giáo sư Hamotova (Tiệp Khắc cũ), bón phân vi khuẩn nốt sần cho cây đậu
tương có tác dụng làm tăng năng suất hạt 30-45% so với không bón.
Theo giáo sư Musustin (Liên Xô cũ), bón phân vi sinh vật có tác dụng làm
vi sinh vật yếm khí Clostridium Pasteurianum, Clostridium butylicum,
Clostridium acrtobutylium; vi sinh hảo khí: Azotobacter Chroococum,
Azotobacter agile, Azotobacter vinelandi.
Ngoài ra người ta còn thấy vi khuẩn lam sống trong ruộng lúa cũng có khả
năng cố định đạm. Có tất cả 1400 loài vi khuẩn lam, trong đó có rất nhiều loài có
khả năng cố định đạm. Năm 1938, Frith tìm hiểu nguyên nhân tại sao trong vùng
đất chuyên trồng lúa nhiều năm không bón phân ở ấn Độ mà cây lúa vẫn phát triển
cho thu hoạch tốt. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong đất ruộng ở đây đã tích luỹ
được một lượng đạm đáng kể do các vi tảo tổng hợp. Trong những số vi khuẩn lam
phân lập được có hai chủng thuộc chi Anabaena có khả năng cố định nitơ tốt.
Trong những thập kỷ gần đây, nghiên cứu về sự cố định nitơ của vi khuẩn
lam được tăng lên nhanh chóng và mở rộng trên nhiều địa bàn khác nhau. Việc
sử dụng vi khuẩn lam cố định nitơ làm nguồn phân bón cho ruộng lúa cũng như
các hoạt động trong việc cố định nitơ trong các địa phương, lãnh thổ khác nhau
đã giành được sự chú ý của các nhà khoa học, đặc biệt ở các nước trồng lúa
Châu á như Nhật Bản, ấn Độ, Trung Quốc và nhiều nước khác trên thế giới.
Nhật Bản đã sớm điều tra phân lập các loài vi khuẩn lam để nhiễm trở lại
ruộng lúa. Kết quả cho thấy đã tăng năng suất ở các điểm nghiên cứu từ 2,7-28%
sau 4 năm. Theo tính toán này thì lây nhiễm vi khuẩn lam cố định đạm có thể
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
thay thế cho 60 kg đạm sunphat/1ha.
Ở Ai Cập lây nhiễm vi khuẩn lam cố định đạm tự do làm tăng năng suất lúa
từ 20-30%, ởTrung Quốc tăng 10-20% trên diện rộng.
Bằng việc lây nhiễm vi khuẩn lam cố định đạm tự do vào ruộng lúa tại viện
nghiên cứu lúa quốc tế IRRI cho thấy vi khuẩn lam đã cố định nitơ tự do khoảng
40-48 kg N/1ha.
Ngoài việc nâng cao hàm lượng nitơ trong đất trồng lúa có lây nhiễm vi
khuẩn lam, người ta còn thấy vi khuẩn lam cố định đạm tự do còn sản sinh ra
Sử dụng vi sinh vật phân giải lân làm tăng hiệu quả sử dụng phân vô cơ
lên 15-30%. Tuy nhiên tuỳ theo từng loại đất mà phản ứng của cây trồng đối
với vi sinh vật phân giải lân có khác nhau. Năng suất cây trồng tăng hơn đối
chứng ở vùng đất chua khoảng 9-27%. Một số thử nghiệm khi bón quặng
photphat cho thấy sử dụng vi sinh vật phân giải lân có thể tiết kiệm khoảng
50 kg P
2
O
5
/ha/vụ. Các tác giả khi nghiên cứu về vi sinh vật phân giải lân
cũng đã khẳng định khi sử dụng có thể thay thế 1/2 lượng lân vô cơ bón
quặng photphat mà năng suất cây trồng vẫn không giảm.
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1. Kêt quả nghiên cứu sử dụng phân bón đối với độ phì nhiêu đất và
dinh dưỡng cây trồng
Thập niên 70 công tác nghiên cứu đã tập trung một số việc: nghiên cứu tính
chất vật lý của một số loại đất, nghiên cứu sự cân đối giữa lân, đạm, kali trong
đất lúa đối với một số giống khác nhau, nghiên cứu về hoá học đất, vi sinh vật.
Nghiên cứu sử dụng các loại phân bón: than bùn, phân xanh, các loại phân lân,
tiếp tục nghiên cứu cải tạo đất bạc màu, đất chua mặn, đất mặn…nghiên cứu độ
phì nhiêu và phân hạng đất lúa.
Công tác nghiên cứu từ sau năm 1975: Chương trình 02-11: Xây dựng và
áp dụng các biện pháp nâng cao độ màu mỡ của đất, sử dụng có hiệu quả đất và
phân bón theo các vùng trong toàn quốc. Kết quả đã cải tạo và nâng cao độ phì
nhiêu của 1 triệu ha đất xám bạc màu và nhiều diện tích đất lầy úng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
Độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng được nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu từ lâu. Từ chương trình cấp nhà nước 02-11 (1981-1985) đến đề