BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN QUẢNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA CÁC NÔNG – LÂM TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của riêng tôi và được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Cao Việt Hà. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố; trường hợp sử dụng các
tài liệu, số liệu, kết quả tham khảo thì được nêu rõ nguồn gốc cụ thể.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình. Học viên Nguyễn Văn Quảng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy, cô, các anh, chị, các em và các bạn,
cùng gia đình. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn
chân thành tới:
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Các khái niệm về công tác quản lý sử dụng đất đai và Cơ sở pháp lý về việc
giao, cho thuê đất. 3
1.1.1. Các khái niệm về công tác quản lý sử dụng đất: 3
1.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất 5
1.2. Chinh sách đất đai của các nước trên thế giói. 9
1.2.1. Chính sách đất đai ở Thái Lan 9
1.2.2. Chính sách đất đai ở Trung Quốc. 11
1.2.3. Chính sách đất đai ở Inđônêxia. 12
1.2.4. Chính sách đất đai ở Nhật Bản. 12
1.2.5. Chính sách ở Philippin. 13
1.3. Chính sách giao đất của Việt Nam qua các thời kỳ 14
1.3.1. Chính sách giao đất nông – lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới (Từ năm
1968 – 1980) 14
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1986. 15
1.3.3. Chính sách giao đất nông – lâm nghiệp trong thời kỳ đổi mới (1986 đến
nay) 16
1.4. Thực trạng quản lý sử dụng đất của các Nông lâm trường ở Việt Nam 22
1.4.1. Đối với công ty nông nghiêp: 23
1.4.2. Công ty Lâm nghiệp: 24
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Page v
3.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các
nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh Lào Cai. 73
3.4.1. Giải pháp về chính sách pháp luật 73
3.4.2 Giải pháp về quy hoạch sử dụng đất 73
3.4.3. Giải pháp về đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất 73
3.4.4. Giải pháp về công tác giao đất 74
3.4.5. Giải pháp về giải quyết tranh chấp, lấn chiếm 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3.2 Tổng sản phẩm (theo giá thực tế) phân theo khu vực kinh tế 41
3.3 Giá trị sản xuất theo giá so sánh và chỉ số phát triển khu vực kinh tế
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 43
3.4 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế 44
3.5 Dân số trung bình phân theo khu vực của tỉnh Lào Cai qua các năm 47
3.6 Hiện trạng đất nông nghiệp năm 2013 55
3.7 Tình hình sử dụng đất Nông lâm trường sau thực hiện sắp xếp,
chuyển đổi 59
3.8 Tổng hợp thực trạng quản lý, sử dụng đất tại các Nông lâm trường
hiện nay. 61
3.9 Diện tích sử dụng theo mục đích sử dụng của các nông, lâm trường 62
3.10 Các hình thức giao đất Nông, lâm trường 64
3.11 Các hình thức sử dụng đất Nông lâm trường 65
3.12 Các hình thức giao khoán sử dụng đất Nông lâm trường. 66
3.13 Diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các
nông lâm trường 68
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình
Trang 2.1 Sơ dồ quy trình điều tra hiệu quả sử dụng đất của các nông lâm
trường trên địa bàn tỉnh Lào Cai. 32
3.1 Sơ đồ hành chính tỉnh Lào Cai 34
nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp,
đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống
con người.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, những thay đổi về các mối quan
hệ trong quản lý và sử dụng đất đai là một trong những vấn đề được quan tâm nhất,
vì đất đai có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của mỗi cá nhân và cộng đồng, lợi ích
giữa các cộng đồng; trên phương diện vĩ mô, đất đai có tác động một cách trực tiếp
và sâu sắc đến phát triển kinh tế, xã hội và ổn định chính trị của mỗi quốc gia.
Phát triển Nông, Lâm trường là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát
triển của đất nước, là xuất phát điểm cho sự phát triển vững mạnh ở Nông thôn và là
tiền đề không thể thiếu để sử dụng có hiệu quả các mối quan hệ hợp tác với nước
ngoài. Đây là một trong những thách thức lớn của nước ta. Trong những năm qua,
thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI ( tháng 12/1996); Nghị quyết 10 của Bộ chính trị; Nghị quyết lần thứ 5 của
Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) và những văn bản tiếp theo của Đảng
và Nhà nước. Các Nông, Lâm trường đã có những thay đổi quan trọng cả về tổ
chức, nội dung và phương thức hoạt động; đóng góp tích cực vào sự phát triển
của nông nghiệp nông thôn nước ta và đã xuất hiện một số mô hình tiêu biểu về
đổi mới tổ chức quản lý. Tuy vậy, hiện nay nhiều Nông, Lâm trường còn hoạt
động kém hiệu quả.
Vấn đề quản lý và sử dụng đất Nông, lâm trường còn tồn tại nhiều tiêu cực,
đó là bỏ hoang không sử dụng trong thời gian dài, sử dụng không đúng mục đích, bị
lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê trái phép, gây lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
tới sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Do vây, việc quản lý và sử dụng hợp lý
qũy đất giao cho nông, lâm trường là hết sực cần thiết.
Từ thực tiễn trên, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài "Đánh giá tình hình quản
lý và sử dụng đất của các nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh Lào Cai"
+ Khái niệm đất:
Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời,
hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời
gian. Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha, km
2
) và độ
phì nhiêu, màu mỡ.
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao
gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định
đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu,
địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và
những biến đổi của đất do các hoạt động của con người.(FAO, 1994).
Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông - lâm
nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố
khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Nhưng đất đai
là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian.
(Nguyễn Đình Bồng, 2001)
+ Vấn đề sử dụng đất
Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng.
Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “ những hoạt động của con người có liên quan
trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng”. (Từ điển
tiếng Việt, 2002).
Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước,
phân hoá học ), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ ) cho
phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế,
lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi
việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
tác quản lý.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và
các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp Luật đất đai và pháp luật
liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định một số nội
dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tập trung và phân cấp quản lý;
vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công và tư nhân; quản lý các tài
liệu địa chính; quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp về
chuyên gia tư vấn và kỹ thuật; hợp tác quốc tế.(Bách khoa tri thức, 2000)
1.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất
1.1.2.1. Giao đất
+ Khái niệm giao đất:
Giao đất là một nội dung của Quản lý Nhà nước đối với đất đai, là hoạt động
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chuyển giao đất trên thực tế là quyền sử
dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất. Căn cứ vào nhu cầu sử
dụng đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy định của pháp luật. Nhà nước
trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng. Đây không phải là người sử dụng đất bất
kỳ mà phải đảm bảo những điều kiện phù hợp với mục đích được giao ví dụ như
công chức nhà nước không thể được giao đất sản xuất nông nghiệp …Những quy
định của pháp luật trong lĩnh vực giao đất rất chặt chẽ và cụ thể, bao gồm những
quy định chung và những quy định cụ thể cho từng cơ quan. Nhũng quy định chung
là các quy định mà mỗi cơ quan Nhà nước khi giao đất phải triệt để tuân theo: các
nguyên tắc, các căn cứ, trình tự, thủ tục, về giao đất. Những quy định về thẩm
quyền cụ thể nhằm giới hạn phạm vi các quyền hạn về giao đất thực hiện các thẩm
quyền này thống nhất và hợp lý, vừa không phân tán, thả nổi cho cấp dưới vừa
không tâp trung, quan liêu ở cấp trên làm cho mỗi cơ quan thấy được trách nhiệm
của mình trong lĩnh vực giao đất. (Từ điển Tiếng việt, 2002).
Theo khoản 7 điều 3 luật đất đai 2013 quy định: “Nhà nước giao quyền sử
- Xác lập mối quan hệ giữa nhà nước với người sử dụng đất, làm căn cứ
pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luât;
- Làm cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng
đất theo pháp luật phù hợp với sự vận động vốn có của quan hệ đất đai trong
thực tiễn cuộc sống . (Từ điển Tiếng việt, 2002).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
1.1.2.2. Cho thuê đất:
+ Khái niệm cho thuê đất:
Cho thuê đất cũng là một hình thức thực hiện quyền định đoạt đất đai của
Nhà nước, thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật. Theo kinh nghiệm của nhà nước trên thế giới thì cho thuê đất đã tạo cho người
sử dụng đất một động lực đầu tư có hiệu quả vào đất đai. (Luật đất đai, 2013).
Cho thuê đất ở đây chúng ta phải phân biệt với cho thuê quyền sử dụng đất
Quyền cho thuê đất của Nhà nước được phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu Nhà
nước về đất đai. Nhà nước có quyền định đoạt số phận pháp lý đối với đất đai thông
qua nhiều hình thức, trong đó có quyền cho thuê đất. Bởi vậy, theo pháp luật đất đai
Nhà nước có quyền cho thuê đất để sử dụng vào mọi mục đích sản xuất kinh doanh
cho tất cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất. Việc cho thuê đất được thực hiện
bằng một quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, quyền cho
thuê đất của Nhà nước là một quyền năng rộng rãi, Nhà nước có quyền cho thuê đối
với mọi đối tượng để sử dụng vào mọi mục đích mà không bị khống chế bởi không
gian, thời gian và diện tích sử dụng.
Theo khoản 8 điều 3 luật đất đai 2013 quy định: “Nhà nước cho thuê quyền
sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định
trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng
cho thuê quyền sử dụng đất. (Luật đất đai, 2013).
- Theo pháp luật hiện hành thì cho thuê đất được thực hiện với hai hình thức:
- Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt.
- Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất,
chuyển mục đích sử dụng đất
Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong các văn bản sau:
- Đối với tổ chức thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư;
- Đối với các dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét
duyệt hoặc không phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì phải thể hiện nhu cầu sử
dụng đất trong đơn xin giao đất, thuê đất có văn bản của Sở Tài nguyên và Môi
trường thẩm định về nhu cầu sử dụng đất;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
- Đối với hộ gia đình, cá nhân thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn xin
giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và phải có xác nhận của Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất;
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân thì nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án
đầu tư thì phải có văn bản của Phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm định về nhu
cầu sử dụng đất;
- Đối với cộng đồng dân cư thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn xin
giao đất và phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về
nhu cầu sử dụng đất.
- Đối với cơ sở tôn giáo thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong báo cáo kinh
tế kỹ thuật xây dựng công trình tôn giáo.
1.1.2.4. Cơ sở pháp lý của giao đất, cho thuê đất
Các văn bản pháp lý liên quan đến công tác giao đất, cho thuê đất :
- Luật đất đai năm 2013 số : 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 của
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nghị định Số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ
từ dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp, miền ở phía
trên nguồn nước thì hạn chế và giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác nhưng
mà trước đây những người dân đã chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người
dân một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi. Đến năm 1976 đã có 600126 hộ
nông dân có đất được cấp giấy chứng nhân quyền hưởng hoa lợi. Cùng với chương
trình này, đến năm 1975 Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia Thái Lan đã thực hiện
chương trình làng lâm nghiệp nhằm giải quyết cho những hộ gia đình được ở trên
đất rừng, quá trình thực hiện chương trình này đã thành lập được 98 làng lâm
nghiệp với 1 triệu hộ gia đình tham gia. Đi cùng với chương trình này là việc thành
lập các hợp tác xã nông, lâm nghiệp hoạt động dưới sự bảo trở của ban chỉ đạo hợp
tác xã. Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn cho các hợp tác
xã yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả đầu tư trên đất được
giao đó. Thái Lan tiến hành giao được trên 200.000 ha đất gắn liền với rừng cho
cộng đồng dân cư sống gần rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ
0.8 ha đến 8 ha.
Bước sang thời kỳ những năm 90, Chính Phủ Thái lan tiếp tục chính sách
ruộng đất theo dự án mới. Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hóa và giải
quyết việc làm. Dự án này có sự thỏa thuận giữa Chính Phủ, chủ đất và nông dân
giới đầu tư nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng ruộng
đất. Theo dự án này Chính Phủ Giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư
trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo.(Bộ Tài
nguyên và môi trường, 2012)
1.2.2. Chính sách đất đai ở Trung Quốc.
Đất canh tác được Nhà Nước bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt việc
chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang đất khác. Mỗi hộ nông dân chỉ được
dùng một nơi làm đất nông nghiệp sang đất khác. Mỗi hộ nông dân chỉ được dùng
nông dân ở gần rừng được nhận khoán 2.500 m
2
đất để trồng cây, hai năm đầu được
phép trồng cây nông nghiệp trên diện tích đó và được quyền hưởng toàn bộ sản
phẩm, không phải nộp thuế. Quá trình sản xuất của nông dân được hỗ trợ giống,
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dưới hình thức cho vay. Sau khi thu hoạch người
nông dân phải hoàn trả lại giống đã vay, còn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chỉ
phải trả 70%, nếu mất mùa thì không phải trả vốn vay đó. Bên cạnh đó, thông qua
các hoạt động khuyến nông khuyến lâm Nhà Nước còn tổ chức hướng dẫn kỹ thuật,
tập huấn làm nghề cho người dân, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng tại nơi họ sinh
sống. Từ đó, việc quản lý rừng ở Inđônêxia bước đầu thu được những kết quả đáng
kể. (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2012)
1.2.4. Chính sách đất đai ở Nhật Bản.
Cũng như một số nước khác thuộc khu vực Châu Á, Nhật Bản đã ban hành
luật cải cách ruộng đất lần thứ nhất vào tháng 12 năm 1945, nhằm mục đích xác
định quyền sở hữu ruộng đất cho người dân, bên cạnh đó buộc địa chủ chuyển
nhượng ruộng đất cho người dân, bên cạnh đó buộc đại chủ chuyển nhượng ruộng
đất nếu có trên 5 ha. Quá trình cải cách ruộng đất lần thứ nhất tại Nhật Bản ban đầu
đã mang lại kết quả đáng kể, song lúc đó vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với đất
đai chưa được chặt chẽ. Do vậy, Nhật Bản tiến hành cải cách ruộng đất lần thứ hai
nhằm xác lập vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với việc thực hiện chuyển nhượng
quyền sở hữu ruộng đất là thuộc thẩm quyền của Chính Phủ, xác lập quyền sở hữu
ruộng đất của nông dân nhằm giảm địa tô.
Như vậy, qua hai lần cải cách ruộng đất bằng những chính sách cụ thể đã làm
thay đổi quan hệ sở hữu cũng như kết cấu sở hữu ruộng đất ở Nhật Bản đó là: Nhà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
nước đã khẳng định được vai trò kiểm soát đối với việc quản lý và sử dụng đất đai,
người dân thực sự đã làm chủ đất để yên tâm đầu tư phát triển sản xuất. (Bộ Tài
1968 – 1980)
Để thực hiện xây dựng Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội và thống nhất đất
nước, bảo vệ thành quả cách mạng đã mang lại cho nhân dân miền Bắc, Đảng ta chủ
trương đưa nhân dân vào làm ăn tập thể, đồng thời thành lập các trạm trại nông
nghiệp, các Nông trường quốc doanh và hợp tác xã, xây dựng vùng kinh tế mới nông,
lâm nghiệp, tổ chức định canh, định cư cho đồng bào dân tộc miền núi vùng cao.
Chính sách giao đất trong giai đoạn này được thể hiện rõ nét qua các văn bản sau:
- Thông báo số 18 TB – TW ngày 23/10/1968 của Ban bí thư trung ương
Đảng đề cập đến vấn đề: “Nhà nước cần giao cho hợp tác xã sử dụng một số đất
hoang hoặc rừng cây để kinh doanh nghề rừng, hợp tác xã được hưởng lợi tùy theo
công sức bỏ ra”.
- Thực hiện chủ trương đó, ngày 12/11/1968, hội đồng Chính Phủ ban hành
quyết định 179/CP nhằm: “Đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng và giao đất lâm
nghiệp cho hợp tác xã kinh doanh”.
- Ngày 3/10/1979, hội đồng Chính Phủ ban hành quyết định số 272/CP quy
định “Chính sách đối với hợp tác xã mở rộng diện tích sản xuất nông, lâm ngư
nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện chương trình định canh định cư”.
Trong giai đoạn này hầu hết ruộng đất của xã viên được đưa vào hợp tác xã
để thống nhất sử dụng, hàng năm xã viên được hưởng một phần hoa lợi tính trên số
ruộng đất mà họ góp vào hợp tác xã. Tuy nhiên, mỗi xã viên được phép để lại một
phần diện tích đất để trồng rau, trồng cây ăn quả, chăn nuôi. Nhưng không vượt quá
5% diện tích bình quân của mỗi người trong xã. Khi đã chia xong rồi là ổn định, số
người giảm trong hộ không phải trả ra, số người tăng không được chia thêm.
Do không giống nhau về trình độ quản lý, điều kiện kinh doanh nghề rừng,
sự quan tâm chỉ đạo không thống nhất ( chỗ tốt, chỗ xấu ), nên trong giai đoạn này
đã hình thành ba loại hình hợp tác xã sau.
- Loại hình hợp tác xã đã thực sự đưa rừng và đất rừng vào sản xuất dạng tự
doanh, loại hình này đã thực sự coi trọng nghề rừng, có đầu tư thích đáng cho nghề
rừng như (phân bón, giống cây trồng, lao động…). Song loại hình này còn quá ít
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
các hình thức như: cải tiến việc quản lý các hợp tác xã nhằm đảm bảo việc phát
triển sản xuất, nâng cao hiểu quả kinh tế, bên cạnh đó thực hiện hình thức khoán sản