khảo sát quy trình giết mổ và một số bệnh tích đại thể trên gan, phổi heo tại lò mổ tập trung tập sơn, huyện trà cú, tỉnh trà vinh - Pdf 30


KHẢO SÁT QUY TRÌNH GIẾT MỔ VÀ MỘT SỐ BỆNH TÍCH
ĐẠI THỂ TRÊN GAN, PHỔI HEO TẠI LÒ MỔ TẬP TRUNG
TẬP SƠN, HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH THÚ Y
Cần Thơ, Tháng 12/2013
i TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
CHÂU CÔNG ĐÁNG
KHẢO SÁT QUY TRÌNH GIẾT MỔ VÀ MỘT SỐ BỆNH TÍCH
ĐẠI THỂ TRÊN GAN, PHỔI HEO TẠI LÒ MỔ TẬP TRUNG
TẬP SƠN, HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013 Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013
Duyệt Bộ Môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn

Nguyễn Thị Bé Mười
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

iii
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và sinh hoạt dưới mái trường đại học, tôi đã học
rất nhiều bài học trong học tập cũng như trong cuộc sống. Và trong thời gian
học tập đó Cha Mẹ đã luôn bên cạnh, yêu thương tôi dù tôi có nhiều lỗi lầm.
Con xin gửi lời cám ơn chân thành đến Cha Mẹ, Người đã sinh ra con, chăm
sóc, động viên và tạo mọi điều kiện để con có thể học tập tốt nhất.
Trong quá trình hoàn thành luận văn, tôi xin chân thành biết ơn cô Nguyễn
Thị Bé Mười đã luôn nhiệt tình hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tôi thực hiện đề
tài. Xin tri ân các thầy cô Bộ môn Thú y và Chăn nuôi khoa Nông Nghiệp và

2.1.1 Cấu tạo của phổi 2
2.1.2 Chức năng của phổi 3
2.2 Tình trạng bệnh lý của phổi 3
2.2.1 Tình trạng bệnh lý không do viêm 3
2.2.2 Tình trạng bệnh lý do viêm .5
2.3 Cấu tạo và chức năng của gan 8
2.3.1 Cấu tạo của gan 8
2.3.2 Chức năng của gan 9
2.4 Tình trạng bệnh lý của gan 9
2.4.1 Gan xơ .10
v
2.4.2 Gan xuất huyết 11
2.4.3 Gan vàng .11
2.4.4 Gan hoại tử .12
2.4.5 Gan ứ huyết 12
2.5 Yêu cầu kỹ thuật trong xây dựng và nguyên tắc vệ sinh lò mổ 12
2.5.1 Yêu cầu kỹ thuật trong xây dựng 12
2.5.2 Nguyên tắc vệ sinh lò mổ 13
2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .13
2.6.1 Tình hình trong nước .13
2.6.2 Nghiên cứu ngoài nước .14
Chương 3: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 15
3.1 Phương tiện 15
3.1.1 Thời gian - địa điểm .15
3.1.2 Dụng cụ - đối tượng nghiên cứu .15
3.2 Phương pháp nghiên cứu 15
3.2.1 Khảo sát bệnh tích đại thể trên phổi 15
3.2.2 Khảo sát bệnh tích đại thể trên gan 16
Chương 4: Kết quả và thảo luận 17
4.1 Kết quả khảo sát và đánh giá qui trình giết mổ. 17
vii

DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
1
2
3
4

Tỷ lệ bệnh tích trên phổi heo khảo sát
Tỷ lệ bệnh tích đơn thuần trên phổi khảo sát
Tỷ lệ bệnh tích trên gan heo khảo sát
Tỷ lệ bệnh tích đơn thuần trên gan khảo sát



Sơ đồ hiện trạng lò mổ Tập Sơn
Khu nuôi nhốt gia súc
Khu giết mổ gia súc
Khu luộc huyết
Giàn treo dùng để mổ heo
Phổi bình thường
Phổi xuất huyết
Viêm màng phổi
Phổi ứ huyết
Phổi trái bị nhục hóa
Phổi xẹp
Gan xuất huyết
Những đốm xơ xuất hiện trên toàn bộ gan
Gan ứ huyết
Gan hoại tử
Gan vàng

19
20
20
21
21
24
25
25
26
26
27
30

Y huyện Trà Cú, chúng tôi đẫ thực hiện luận văn tốt nghiêp với đề tài: “Khảo sát
quy trình giết mổ và bệnh tích đại thể trên gan, phổi heo tại lò mổ tập trung Tập
Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh”.
Qua thực tế khảo sát bệnh tích trên cơ quan nội tạng tại lò mổ, chúng tôi khảo sát
được 685 con heo trong đó: có 498 phổi có bệnh tích, chiếm tỷ lệ 72,70% so với
tổng số bệnh tích khảo sát và được chia thành 5 dạng bệnh tích đại thể trên phổi.
Gan heo khảo sát được 685 con heo trong đó: 297 gan có bệnh tích, chiếm tỷ lệ
43,36% so với tổng số bệnh tích khảo sát và được chia thành 5 dạng bệnh tích
đại thể.

1

CHƢƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi ở nước ta đã có từ lâu đời, nhiều kinh nghiệm quý báu được tích
lũy, lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đặc biệt là chăn nuôi heo cung cấp lượng thực
phẩm lớn, góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày, tăng dinh dưỡng cho
con người và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm, phân bón
cây trồng…
Tuy vậy ngành chăn nuôi heo đã phát triển nhiều nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc
như: kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, công tác thú y chưa hoàn thiện, quy trình giết
mổ còn hạn chế, dẫn đến chất lượng quầy thịt không đảm bảo. Để góp phần nâng
cao chất lượng của sản phẩm trên cơ sở khoa học đề ra những biện pháp phòng
chống dịch bệnh trong quá trình chăn nuôi nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Khảo sát quy trình giết mổ và bệnh tích đại thể trên gan, phổi heo tại lò mổ tập
trung Tập Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Mục tiêu của đề tài:
- Khảo sát quy trình giết mổ heo tại cơ sở.
- Khảo sát và đánh giá tỷ lệ bệnh tích trên gan, phổi heo tại cơ sở giết mổ từ
đó nhận định tình hình dịch bệnh trên đàn heo tại địa phương.


Thùy tim
Thùy hoành cách mô
Thùy phổi được chia bởi những vách cứng thành tiểu thùy. Quá trình bệnh thường
xảy ra ở tiểu thùy, ranh giới tiểu thùy là ranh giới bệnh tích.
Mỗi lá phổi có 3 mặt:
Mặt ngoài (hay mặt sườn): mặt ngoài phổi áp sát vào thành trong của lồng ngực.
Giữa lớp cơ xương của lồng ngực và mặt ngoài của phổi chỉ có màng phổi. Mặt
ngoài có các vết lõm của xương sườn.
Mặt trung (hay mặt trung thất): có rốn phổi nằm gần phía trên hơn phía dưới, có
các thành phần của phế quản gốc chui vào phổi. Trong rốn phổi có phế quản gốc,
động mạch phổi và tĩnh mạch phổi.
Mặt sau hay đáy phổi (hay mặt hoành): lõm và úp vào vòm cơ hoành, và vòm
hoành, đáy phổi có liên quan với các tạng bụng đặc biệt là mặt trước gan.
3

Hạch phổi gồm có 2 hạch và ở chổ chia đôi khí quản. Một hạch ở phế quản đỉnh của
phổi phải, một hạch ở phế quản đỉnh của phổi trái.
Màng phổi là 2 màng tương mạc bao trong mỗi nang màng phổi. Chúng lót màng
ngực thành vách ngoài của trung thất và bao phủ mặt bên của phổi. Khoảng giữa
màng phổi là khoảng giữa lá thành và lá tạng của màng phổi. Nó được chiếm bởi
một lớp chất lỏng có nhiệm vụ làm ướt và làm trơn hai lớp màng phổi. Khi màng
phổi viêm, chất dịch này tăng lên, lúc đó màng phổi trở nên dày và có thể kết dính
lá thành với lá tạng (Lăng Ngọc Huỳnh, 2000).
2.1.2 Chức năng của phổi
Hô hấp là quá trình trao đổi khí liên tục giữa cơ thể và môi trường xung quanh gồm:
sự tiếp thu, vận chuyển và thải các chất khí. Tham gia vào quá trình này O
2
cần thiết
cho sự biến dưỡng các chất ở mô bào (oxi hóa) và CO
2

phồng không hoàn toàn do màng phổi cứng và dầy, phổi xẹp do sức ép không gây
trở ngại hô hấp trừ khi thể tích phổi giảm quá nhiều.
Đại thể
Phổi có màu hồng tái hoặc đỏ đục giảm kích thước, thể chất dai và chắc bóp không
nghe tiếng lào xào như phổi bình thường. Thường xẹp ở thùy đỉnh, thùy tim, có khi
xẹp hẳn một lá, lá còn lại vẫn bình thường, phổi xẹp chìm trong nước giống như
phổi bị gan hóa và không có dịch lỏng chảy ra từ mặt cắt khi bóp mạnh.
Phổi khí thũng
Nguyên nhân
Do gia súc phải làm việc nặng quá sức.
Do kế phát từ một số bệnh khác (viêm phổi, viêm thanh quản cấp).
Do kế phát từ viêm phổi (cơ chế làm bù của phổi).
Do ô nhiễm môi trường, khí độc trong chuồng trại.
Cơ chế
Do đường hô hấp trên hay phế quản bị hẹp nên không khí từ phế nang đi ra ngoài bị
trở ngại. Do vậy một ít không khí vẫn tích lại trong phế nang. Nhưng cơ thể luôn
cần không khí (nhất là khi vận động, gia súc càng hô hấp mạnh hơn đặc biệt là hít
vào), cho nên mỗi lần hô hấp khí lại tích trong phế nang làm phế nang to ra (515
lần), có sự chèn ép giữa phế nang và phế quản làm đàn tính của phế nang giảm, dẫn
đến cơ thể thiếu oxy, trên lâm sàng thấy gia súc có biểu hiện khó thở, những phế
nang phồng to lại ép phế nang bên cạnh và tiểu phế quản làm cho hiện khí phế càng
lan rộng.
Nếu kích thích bệnh lý cứ tiếp tục và lâu dài làm cho các sợi chun, sợi keo của phế
nang bị thoái hóa làm dãn phế nang, phế nang mất tác dụng hô hấp làm phổi dần
dần teo lại cơ thể càng thiếu oxy làm gia súc thở càng khó khăn hơn.
Do máu phổi ứ lại khiến tim phải co bóp nhiều và mạch làm tim phình to ra, tiếng
tim thứ hai tăng.
Khi phế ngoài phế nang do vách phế nang hay tiểu phế quản bị vỡ, không khí chui
vào tổ chức liên kết giữa các phế nang làm gia súc ngạt thở và chết rất nhanh.


phế quản, viêm phế nang và viêm màng phổi. Vì vậy, thuật ngữ “viêm phổi phế
quản” thường được sử dụng để chỉ bệnh này.
Viêm màng phổi là hiện tượng viêm ở màng của phổi, thường gắn liền với viêm
phổi. Một tác nhân gây bệnh có thể nhiễm vào màng phổi thông qua hệ tuần hoàn,
6

hệ lâm ba, thâm nhiễm từ phía ngoài của xoang ngực, thực quản hoặc từ một ổ
abscess ở trung thất.
Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến viêm phổi:
Nguyên nhân vi khuẩn (Bacterial pneumonia): Salmonella Cholerae suis,
Staphylococcus, Actinobacillus pleuroneumoniae, Streptococcus suis. Viêm phổi
địa phương (enzootic pneumoniae), Mycoplasma hyopneumonia.
Mycoplasma gây viêm phổi từ thùy tim lan ra thùy đỉnh và thùy hoành, đầu tiên là
những chấm đỏ hay xám nhỏ bằng hạt đậu, to dần sau tập trung thành vùng rộng
lớn. Hai bên phổi có bệnh tích đối xứng rõ rệt, có giới hạn rõ rệt giữa vùng viêm và
vùng không viêm. Chổ viêm cứng dần màu đỏ nhạt hoặc xám nhạt, bề mặt bóng
láng, dày đặc, gan hóa, nhục hóa, khi cắt chảy nước màu vàng trắng xám, có bọt,
phổi bóp không xốp như bình thường. Màng phổi bị viêm nặng, khí quản, phế quản
viêm có bọt, có dịch nhầy màu hồng nhạt, khi bóp dịch chảy ra. Hạch lâm ba sưng
to (25 lần bình thường), tụ máu thủy thũng. Thường thấy viêm phổi có mủ cùng các
ổ abscess khi có hiện tượng nhiễm trùng kế phát (Hồ Thị Việt Thu, 2006).
Nguyên nhân virus (Viral pneumoniae): dịch tả heo (hog cholerae), cúm heo (Swine
influenza), giả dại (Auzeski disease), hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (
Porcine reproductive and respiratory syndrome), đậu heo ở thể nặng gây viêm phổi
và viêm cuống phổi (Hồ Thị Việt Thu, 2006).
Nguyên nhân ký sinh trùng (Parasitosis): giun đũa heo (Ascaris suum), giun phổi
heo (Metastrongilus spp), khi nhiễm nặng sẽ gây tình trạng phổi khí thủng ảnh
hưởng đến quá trình trao đổi khí, nếu nhiễm lâu sẽ bị nhục hóa.
Các nguyên nhân khác: vật lý (nhiệt độ môi trường lạnh làm giảm sức đề kháng của
heo), hóa học (khí NH

o
C, từ 2 tuần tuổi trở về sau là 29
o
C – 30
o
C, khi nhiệt độ vượt quá
các ngưỡng trên, chức năng điều hòa của cơ thể bị phá vỡ, ẩm độ và nhiệt độ thấp
làm cho thú bị cảm lạnh (do tăng quá trình thải nhiệt bằng đối lưu), ẩm độ và nhiệt
độ cao làm con vật cảm nóng. Gió lùa gây stress là heo không ngủ đầy đủ (lổ hổng
trên tường, vách ngăn) ảnh hưởng đến khả năng chống bệnh đường hô hấp của heo.
Chăm sóc, quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của heo và sức đề kháng của
heo đối với mầm bệnh (Nguyễn Hoa Lý, 2000).
Biến chứng của viêm phổi:
Viêm phổi nặng phá hủy một phần nhu mô phổi, tuy hồi phục nhưng nhu mô phổi
mất đi cấu trúc và chức năng. Bệnh lâu ngày thành mãn tính, các tế bào lát phế nang
trở thành biểu mô khối đơn. Nếu các sợi huyết nằm lâu trong phế nang (23 tuần) với
số lượng nhiều sau khi hồi phục nó sẽ được hàn gắn bởi các nguyên bào sợi từ các
mô xung quanh làm cho phổi co cụm chắc đặc lại gọi là nhục hóa.
Đa số những trường hợp viêm phổi thì phần phổi phía trước bị bệnh và ảnh hưởng
nặng nhất, đặc trưng là thùy đỉnh và thùy tim của phổi thường thấy bệnh tích gan
hóa và nhục hóa nhất. Do khi hít vào hầu hết các tác nhân bệnh lý tác động trực tiếp
vào hai thùy này (Nguyễn Văn Khanh, 2000).
Sự lây lan
Sự lan truyền bệnh hô hấp từ đàn này sang đàn khác theo 2 đường: lây trực tiếp
chất tiết từ heo bệnh sang heo khỏe và lây gián tiếp qua môi trường, bệnh hô hấp có
thể truyền từ đàn này qua đàn khác bởi không khí (ẩm độ >90% bệnh dễ xảy ra)
(Nguyễn Như Pho, 1995).
Phòng bệnh
Áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, cùng nhập – cùng xuất. Tăng sức đề kháng
của heo, giảm thiểu mầm bệnh trong môi trường, kiểm soát tiểu khí hậu trong

phân biệt bệnh đường hô hấp trên heo. Song song với xếp loại viêm phổi, phải tính
mức độ nặng nhẹ của bệnh tích viêm phổi theo kỹ thuật cho điểm thích hợp trên
từng thùy phổi (Christensen và Mousing, 1992).
2.3 CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA GAN
2.3.1 Cấu tạo của gan
Gan là tuyến tiêu hóa lớn nhất của cơ thể, nằm trong xoang bụng và nằm choàng
qua bên trái mặt phẳng giữa. Gan heo nằm phía bên phải từ xương sườn 7-13, phía
bên trái từ xương sườn 8-10.
Gan được giữ trong xoang bụng nhờ hai dây chằng: dây chằng liềm nối dính gan và
cơ hoành và bao lấy tĩnh mạch chủ sau, dây chằng gan đi từ rãnh cửa của gan đến
đường cong nhỏ dạ dày và tá tràng của ruột non.
Gan tương đối lớn so với trọng lượng cơ thể. Ở heo trưởng thành gan nặng từ
1,52kg. Gan dày ở trung tâm có rìa xung quanh mỏng hơn.
Gan heo được tổ chức liên kết bao bọc chia gan ra thành 4 thùy chính và 1 thùy
phụ: thùy bên trái, thùy trung trái, trùy trung phải, thùy bên phải và thùy phụ, túi
mật nằm giữa thùy trung trái và thùy trung phải.
9

Mặt trên gan rất lồi, sát với đường cong của cơ hoành cách mô. Mặt dưới của gan
rất lõm, tiếp xúc với dạ dày tạo thành một vết tương ứng lớn và sâu. Mặt trong này
cũng liên kết với tá tràng và tụy tạng ở dưới, tại mặt tạng của gan có rãnh cửa là lối
đi của tĩnh mạch cửa, động mạch gan, thần kinh và ống dẫn mật, các hạch gan cũng
thấy quanh cửa này. Hạch lớn nhất dày 23cm.
Gan tiếp nhận máu nuôi dưỡng từ động mạch gan. Tĩnh mạch cửa dẫn máu giàu
chất dinh dưỡng từ dạ dày, lách, ruột để khử độc, cải thiện bổ sung cuối cùng rời
khỏi gan theo tĩnh mạch gan đổ vào tĩnh mạch chủ sau.
Mật được gan sản xuất tập trung vào các đường ống dẫn mật trong các tiểu thùy
gan rồi tập hợp thành các ống to hơn để sau cùng theo ống dẫn mật vào túi mật, rồi
từ túi mật theo các ống chính dẫn mật đổ vào tá tràng của ruột non (Lăng Ngọc
Huỳnh, 2003).

kết sợi được xem như phản ứng trực tiếp đối với chất gây viêm, hàn gắn vết thương
thành mô sẹo sau khi nhu mô gan chết đi.
Xơ gan được hình thành do quá trình phát triển của 3 loại tổn thương và phối hợp
lẫn nhau tạo thành vòng xoắn bệnh làm cho xơ gan ngày càng nặng thêm: tổn
thương tế bào gan, tăng sinh mô liên kết và tái tạo tế bào gan lành.
Các dạng xơ:
Xơ vùng tĩnh mạch cửa: tổ chức liên kết rất dày đặc, có khuynh hướng bao quanh
các tiểu thùy. Cấu trúc tiểu thùy có thể bị biến dạng bởi sự tăng sản của nhu mô.
Đây là tình trạng theo sau thể viêm gan do ngộ độc cấp tính.
Xơ trong tiểu thùy: sự phát triển tràn lan của tổ chức xơ trong tiểu thùy.
Xơ vùng mật: tổ chức sợi bao quanh ống dẫn mật, nếu nhiều tế bào sợi sẽ phát
triển lan rộng vùng khoảng cửa xung quanh tiểu thùy.
Xơ trung tâm tiểu thùy: sự gia tăng mô liên kết sợi ở xung quanh tĩnh mạch trung
tâm đưa đến ứ huyết kinh niên (Nguyễn Hữu Nam, 2001).
Nguyên nhân
Các dạng viêm gan mãn tính cũng gây ra xơ gan.
Gan bị nhiễm ký sinh trùng (giun đũa – Ascaris suum).
Viêm ruột, viêm phúc mạc tĩnh mạch.
Kế phát từ các bệnh truyền nhiễm: phó thương hàn, lao gan, viêm gan siêu vi mãn
tính.
Thức ăn bị nhiễm nấm mốc (Nguyễn Như Pho, 1995).
Cơ chế
Chất độc, ký sinh trùng tích tụ ở gan phá hủy tế bào gan. Sau đó, mô liên kết đến
thay thế. Nhiều trường hợp thể tích gan to lên nhưng chức năng giảm đi.
11

2.4.2 Gan xuất huyết
Nguyên nhân
Thú mắc bệnh truyền nhiễm cấp tính (dịch tả heo, tụ huyết trùng, phó thương
hàn, ), bị trúng độc hóa học và ăn phải cây có độc.

Khi có sự tắc nghẽn lưu thông của mật qua các ống mật, sắc tố mật không vào ruột
được do ống mật bị nghẽn nên mật sẽ hòa tan rất dễ vào các dịch mô và khi áp suất
gia tăng trong các ống, dịch mật sẽ phân tán vào mô xung quanh và các tế bào gan
kế cận làm cho một vùng hay toàn bộ gan có màu vàng. Sắc tố mật vào hệ thống
huyết, bạch huyết đi khắp cơ thể làm cho cơ thể và nước tiểu của thú có màu vàng,
phân màu xám trắng do không có mật (Đỗ Trung Giã, 2008).
2.4.4 Gan hoại tử
Nguyên nhân
Do nhiễm hóa chất As (thạch tín), Cu, P, CCl
4
, chất độc thực vật, độc tố nấm, độc tố
vi khuẩn, virus gây bệnh truyền nhiễm, ứ huyết kéo dài, khẩu phần ăn của thú thiếu
choline, vitamin E và arginine (Đỗ Trung Giã, 2008).
2.4.5 Gan ứ huyết
Nguyên nhân
Thú mắc một số bệnh truyền nhiễm, chết trước khi giết mổ, không được nghỉ ngơi,
bị chèn ép, bị thương trong lúc vận chuyển (Đỗ Trung Giã, 2008).
Cơ chế
Tất cả nguyên nhân làm cản trở máu tuần hoàn về tim phải đều làm ứ huyết ở gan.
Khi máu bị ứ ở gan lâu ngày, gan sẽ bị thiếu oxy kéo dài dẫn đến hoại tử tế bào gan
quanh tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy, tổ chức xơ phát triển. Tình trạng này kéo dài,
gan sẽ bị thoái hóa mỡ, xơ hóa, gan trở nên to, cứng, bờ sắc (Đỗ Trung Giã, 2008).
2.5 Yêu cầu kỹ thuật trong xây dựng và nguyên tắc vệ sinh lò mổ
2.5.1 Yêu cầu kỹ thuật trong xây dựng
Địa điểm thoáng mát, cao ráo, sạch sẽ, cách mạch nước ngầm > 4 m, có cổng xuất
– nhập riêng, xung quanh trồng cây, có tường cao 2m, sâu 1m.
Sàn phải làm bằng nhiên liệu không thấm nước dễ sát trùng, có độ dốc thích hợp từ
1,5 -2
o
, làm bằng bê tông phải khía để không trơn, khía không quá sâu khó làm vệ

con hoặc bệnh viêm phế quản địa phương của heo con. Sau 1963, sau khi xác định
bệnh này không phải do virus gây ra và các lứa tuổi đều mắc bệnh. Bệnh chủ yếu là
mãn tính, lây lan rất mạnh, phát hiện rõ ở heo con và gây thiệt hại lớn cho ngành
chăn nuôi (Nguyễn Lương, 1993).
Qua khảo sát bệnh tích trên phổi heo tại lò mổ Vissan, Thành phố Hồ Chí Minh cho
thấy bệnh tích trên phổi chiếm tỷ lệ cao 68.72%, trong đó phổi heo có bệnh mãn
tính chiếm 18.73% (Nguyễn Văn Khanh, 1994).
Những heo khỏe không mắc bệnh đường hô hấp có mức tăng trọng hơn những heo
bị mắc bệnh đường hô hấp từ 50-100g/ngày (Trương Văn Dung, 1996).
14

Kết quả xét ngiệm về mặt vi khuẩn học của 53 mẫu phổi và hạch phổi ở một số tỉnh
phía bắc đã phân lập được 1 chủng Bordetella, 6 chủng Haemophilus, 1 chủng
Actinobacillus và 8 chủng Streptococcus (Cù Hữu Phú và ctv, 2005).
2.6.2 Nghiên cứu ngoài nước
Đối với những heo mắc bệnh viêm phế quản đơn giản thì giảm tăng trọng hằng
ngày là 6gram còn đối với heo mắc bệnh viêm phế quản phức tạp thì mức giảm tăng
trọng là 38gram/ngày (Christensen and Mousing, 1994).
Nhiều đàn heo ở đan mạch khi khảo sát tại lò mổ bị bệnh viêm màng phổi mãn tính
có liên quan đến Actinobacillus pleuropneumoniae (Chiristensen et al, 1981),
(Mousing et al, 1989).
Rối loạn hô hấp gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi heo công nghiệp (Kliebenstein et
al, 1982-1983).
Mười phần trăm bệnh tích trên phổi làm giảm 37g tăng trọng hằng ngày (Straw et
al, 1989).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status