phân tích và đánh giá hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện châu phú an giang - Pdf 30



i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
 NGUYỄN BẢO TOÀN

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHI NHÁNH HUYỆN
CHÂU PHÚ - AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201

Tháng 12/2014
iii

LỜI CẢM TẠ

Để thực hiện được luận văn này tôi xin cảm ơn quý thầy cô khoa Kinh tế
và Quản trị kinh doanh cũng như quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận
tình dạy dỗ trong suốt thời gian tôi theo học tại trường.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Tri Nam Khang đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Xin được cảm ơn Ban lãnh đạo, các cô, chú, anh, chị làm việc tại ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Châu
Phú – An Giang đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành
luận văn này.
Chân thành cảm ơn các bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ.

Cần Thơ, ngày 11 tháng 11 năm 2014

Nguyễn Bảo Toàn iv

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ
luận văn cùng cấp nào khác.

Cần Thơ, ngày 11 tháng 11 năm 2014



MỤC LỤC
Trang

LỜI CẢM TẠ i
TRANG CAM KẾT iv
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian 2
1.3.2 Thời gian 2
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1 Tổng quan về NHTM 5
2.1.2 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 7
2.1.3 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động của ngân hàng 10
2.1.4 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng 11
2.1.5 Chi phí cho nguồn vốn của Ngân hàng 12
2.1.6 Nâng cao hiệu quả huy động vốn 14

4.2.1 Tình hình huy động vốn theo kì hạn của Agribank Châu Phú giai đoạn
2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 36
4.2.2 Tình hình huy động vốn theo loại tiền của Agribank Châu Phú giai đoạn
2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 43
4.2.3 Tình hình huy động vốn theo thành phần kinh tế của Agribank Châu Phú
giai đoạn 2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 46 viii

4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA AGRIBANK CHÂU PHÚ 49
4.4 HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA AGRIBANK CHÂU PHÚ 50
4.4.1 Phân tích hiệu quả huy động vốn 50
CHƯƠNG 5 58
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN
HUY ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN HUYỆN CHÂU PHÚ – AN GIANG 58
5.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH VỐN HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG
VỐN HUY ĐỘNG CỦA AGRIBANK CHÂU PHÚ 58
5.1.1 Kết quả đạt được 58
5.1.2 Hạn chế 59
5.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG
VỐN CŨNG NHƯ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN HUY ĐỘNG CỦA
AGRIBANK CHÂU PHÚ 59
5.2.1 Giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn 59
5.2.2 Giải pháp nâng cao khả năng sử dụng vốn 61
CHƯƠNG 6 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
6.1 KẾT LUẬN 62

Bảng 4.11: Tỷ lệ lợi nhuận ròng/vốn huy động 51
Bảng 4.12: Chi phí trả lãi bình quân 52
Bảng 4.13: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn giai đoạn 2011 –
2013 53
x

DANH SÁCH HÌNH
Trang

Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Agribank huyện Châu Phú 24
Hình 3.2 Tình hình thu nhập giai đoạn 2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 201430
Hình 3.3 Chi phí hoạt động giai đoạn 2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 31
Hình 3.4 Lợi nhuận trước thuế 2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 32
Hình 4.1 Tình hình nguồn vốn 2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 35
Hình 4.2 Tình hình huy động vốn theo kì hạn 39
Hình 4.3 Tỷ trọng các loại tiền gửi theo kì hạn giai đoạn 2011 – 2013 tại
Agribank Châu Phú 40
Hình 4.5 Vốn huy động theo thành phần kinh tế 48
xi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

6T-2013 : Sáu tháng năm 2013
6T-2014 : Sáu tháng năm 2014

thiết nhất mà các ngân hàng phải có là nguồn vốn. Một ngân hàng không thể
hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ của nó hoàn toàn phụ
thuộc vào vốn đi vay. Ngược lại, một ngân hàng với nguồn vốn huy động dồi
dào sẽ hoàn toàn tự quyết trong hoạt động kinh doanh của mình, tự nắm bắt
được các cơ hội kinh doanh. Nguồn vốn huy động dồi dào cũng giúp ngân
hàng đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và thu được
lợi nhuận cao vì mục tiêu an toàn và hiệu quả. Vậy nguồn vốn huy động là cơ
sở để ngân hàng tạo ra thế chủ động trong kinh doanh.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực tài chính
tiền tệ nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng như hiện nay, để có được
nguồn vốn lớn và dồi dào đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải có những
chính sách huy động hợp lý, nhằm từ đó thu hút được lượng vốn cần thiết
trong nền kinh tế để phục vụ cho hoạt động của mình. Chính sách huy động
vốn của ngân hàng có thể hiểu đó là những công cụ, cách thức và phương
pháp, và chương trình cụ thể nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ
chức nhằm tăng lượng tiền gửi vào ngân hàng. Mỗi ngân hàng đều có chính
sách huy động vốn riêng của mình tuỳ thuộc và nhu cầu và mục đích hoạt
động kinh doanh. Tuy nhiên thì không phải lúc nào và bao giờ ngân hàng cũng
có thể thực hiện được theo đúng như yêu cầu của mình đã đặt ra, bởi lẽ hoạt
động ngân hàng có liên quan trực tiếp tới hoạt động nền kinh tế. Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (tên giao dịch quốc tế là
Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development, viết tắt là Agribank
thành lập năm 1988 là một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam cả về
vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách
hàng. Agribank đã không ngừng phát triển và khẳng định vị trí của mình trong
ngành ngân hàng. Nhờ lượng vốn đã huy động được trong xã hội Agribank đã
cung cấp một lượng vốn lớn cho hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn
cho việc sản xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi. Trong thời gian tới để
Nông thôn chi nhánh huyện Châu Phú – An (Quốc lộ 91 thị trấn Cái Dầu,
Huyện Châu Phú, tỉnh An Giang).
1.3.2 Thời gian
Thông tin và số liệu dùng cho nghiên cứu là thông tin số liệu trong 3 năm
2011 - 2013 và 6 tháng đầu năm 2014.
Đề tài nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014.
3

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung phân tích các số liệu về hoạt động huy động vốn
của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Châu
Phú – An Giang nhằm đánh giá tình hình, thấy được thực trạng và hiệu quả
của hoạt động huy động vốn.
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Võ Thị Ngọc Ánh (2013), ”Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh
TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai”, luận văn tốt nghiệp, trường Đại Học Kỹ Thuật Công
Nghệ TP.HCM. Luận văn phân tích tình hình huy động vốn cũng như chi phí
vốn huy động tại ngân hàng. Đánh gía hoạt động huy động vốn và giải thích
các nguyên nhân ảnh hướng đến công tác huy động vốn tại ngân hàng và đề ra
các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động huy động vốn.
Nguyễn Thị Kim Cương (2013), ”Phân tích và đánh giá hiệu quả của
công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP phát triển nhà Đồng Bằng Sông
Cửu Long chi nhánh Cần Thơ”, luận văn tốt nghiệp, trường Đại Học Cần Thơ.
Luận văn phân tích tình hình huy động vốn, bên cạnh đó cũng đánh giá công
tác huy động vốn. Ngoài ra, luận văn còn phân tích chi phí huy động vốn và
một số chỉ tiêu liên quan phản ánh độ ổn định của ngồn vốn.

5

CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Tổng quan về NHTM
2.1.1.1 Khái niệm về NHTM
Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009, trang 8) đã phát biểu khái niệm về ngân
hàng như sau: “Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại ngân hàng giao dịch
trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách
nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung
cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối
tượng nói trên.
2.1.1.2 Bản chất của ngân hàng thương mại
Bản chất của NHTM được thể hiện qua các khía cạnh sau:
- NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt và là một tổ chức tín
dụng hoạt động kinh doanh trong ngành dịch vụ tài chính ngân hàng.
- Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh.
- Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng (Nguyễn Đăng Dờn, 2009).
2.1.1.3 Chức năng của NHTM
Nhìn chung NHTM có ba chức năng cơ bản :
- Chức năng trung gian tài chính: bao gồm trung gian tín dụng và trung
gian thanh toán giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
- Chức năng tạo tiền: là chức năng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối
tiền tệ cho nền kinh tế.

+ Phát hành thẻ tín dụng;
+ Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân
hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;
+ Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước
chấp thuận.
- Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
- Cung ứng các phương tiện thanh toán.
- Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây:
+ Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy
nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ
và chi hộ;
+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác
sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
7

2.1.2 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
Theo Thái Văn Đại (2003, trang 1 – 9) thì nguồn vốn của ngân hàng
được chia theo các khoản mục trên phần nguồn vốn của bảng cân đối kế toán:
2.1.2.1 Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu hay còn gọi là vốn tự có của ngân hàng là nguồn vốn do
chính chủ sở hữu ngân hàng đóng góp và phần lợi nhuận được tạo ra trong quá
trình kinh doanh của ngân hàng. Nếu nhìn từ góc độ quản lý thì vốn chủ sở
hữu là thước đo sự lành mạnh của các ngân hàng thương mại. Vốn chủ sở hữu
thể hiện trên bảng cân đối kế toán bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các
quỹ dự trữ và lợi nhuận chưa phân phối hay còn gọi là lợi nhuận giữ lại.
- Vốn điều lệ: Vốn điều lệ là số vốn ban đầu được ghi trong điều lệ hoạt
động của các NHTM khi đi vào hoạt động. Vốn điều lệ của ngân hàng là do

trả cho người gửi tiền cả gốc và lãi khi đến hạn. Tiền gửi của khách hàng tại
ngân hàng được chia theo nhóm khách hàng tổ chức và khách hàng cá nhân.
Tiền gửi của khách hàng là các tổ chức kinh tế: Tiền gửi từ nhóm khách
hàng này chủ yếu là tiền gửi từ các doanh nghiệp hoặc từ các đơn vị kinh tế
khác. Nhóm khách hàng này gửi tiền ở ngân hàng để thuận tiện cho việc kinh
doanh và giao dịch của họ.
+ Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch)
Tiền gửi không kì hạn là loại tiền gửi mà khi gửi vào, khách hàng gửi
tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho ngân hàng.
+ Tiền gửi theo kì hạn
Tiền gửi theo kì hạn hay còn gọi là tiền gửi định kì là loại tiền gửi mà khi
khách hàng gửi tiền vào ngân hàng có sự về thỏa thuận với ngân hàng để chọn
một loại thời hạn gửi tiền thích hợp để gửi và thỏa thuận với ngân hàng thời
điển rút tiền ra.
Tiền gửi của nhóm khách hàng cá nhân: Khi các cá nhân hoặc các hộ gia
đình có những tích lũy vốn để dành cho tương lai, chưa biết sử dụng đầu tư
vào đâu nhưng để đảm bảo an toàn và có chút sinh lời thì việc lựa chọn tối ưu
là gửi vào các NHTM. Các NHTM đưa ra nhiều hình thức tiền gửi để huy
động động số vốn nhàn rỗi này. Hiện nay, tiền gửi của nhóm khách hàng cá
nhân có thể phân thành những nhóm tiền gửi sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân gửi vào
tài khoản tiền gửi tiết kiệm, có xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi
theo quy định của ngân hàng nhận gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy
định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
Đây là hình thức huy động tiền gửi theo kiểu truyền thống của ngân
hàng. Đối với ngân hàng hình thức huy động tiết kiệm tạo cho ngân hàng
nguồn vốn ổn định. Mặc dù món tiền gửi từ cá nhân thường là nhỏ nhưng do
ngân hàng huy động được từ số đông nên đem lại cho ngân hàng nguồn vốn
lớn để kinh doanh.
Theo phân loại truyền thống thì tiền gửi tiết kiệm có thể chia thành tiết

phát hành các loại giấy tờ có giá khi đã có kế hoạch về nguồn vốn cụ thể.
2.1.2.4 Nguồn vốn đi vay và vốn khác
Nguồn vốn đi vay: Trong những trường hợp cần vốn gấp với số lượng
lớn hoặc cần thiết để bù đắp thiếu hụt tạm thời thì buộc ngân hàng thương mại
phải đi vay của các ngân hàng khác hoặc của ngân hàng Trung ương.
- Vay của các tổ chức tín dụng trong nước: Tình trạng thiếu vốn hay thừa
vốn của một ngân hàng ở một thời điểm nào đó là hiện tượng hết sức bình
thường. Vì có lúc nguồn vốn huy động vào ít, không đáp ứng được như cầu
thanh khoản của ngân hàng thì buộc ngân hàng phải đi vay các ngân hàng
khác.
10

- Vay của Ngân hàng Trung ương: Trong vai trò là người điều hành
chính sách tiền tệ của quốc gia, Ngân hàng Trung ương cũng thực hiện nghĩa
vụ cho vay đối với các ngân hàng trung gian nhằm mục đích điều tiết lượng
cung ứng tiền. Vì vậy, khi có nhu cầu, các NHTM sẽ được Ngân hàng Trung
ương cho vay vốn.
Nguồn vốn hình thành trong thanh toán: Từ việc tổ chức thực hiện thanh
toán cho doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng cũng có thể tận dụng được bộ
phận vốn đáng kể từ những qui định ký quĩ trong thanh toán.
Nguồn vốn khác: Ngoài các nguồn vốn trên, ngân hàng còn có thể tận
dụng các nguồn tài trợ của chính phủ hoặc của nước ngoài để đầu tư tài trợ các
dự án phát triển, văn hóa, xã hội.
2.1.3 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động của ngân hàng
Theo Nguyễn Minh Kiều (2006, trang 36 – 37) đã viết thì nghiệp vụ huy
động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là
nghiệp vụ rất quan trọng đối với từng đối tượng như sau:

dụng mức lãi suất rất thấp. Để có được nguồn vốn dồi dào, ngân hàng cần thiết
phải mở rộng đối tượng sử dụng tài khoản, một mặt ngân hàng có thể tranh thủ
nguồn vốn giá phí rẻ, mặt khác đảm bảo tính ổn định tổng thể của các loại
nguồn vốn.
- Tài khoản tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn: Tài khoản được khách hàng
mở ra nhằm mục đích hưởng lãi, dó đó thể hiện tính ổn định về thời gian tại
ngân hàng và đòi hỏi một mức trả lãi cao cho người mở tài khoản. Đây là bộ
phận nguồn vốn có thời hạn ổn định, giúp cho ngân hàng có thể tận dụng tối
đa vào cho vay và thực hiện các khoản đầu tư khác mà không cần phải dự trữ
quá nhiều.
- Các chứng từ có giá: Trường hợp các ngân hàng thương mại cần có
nguồn vốn lớn và ổn định trong thời gian dài thì các ngân hàng có thể phát
hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu. Bộ phận vốn được tạo ra từ
những công cụ huy động này có tính ổn định cao nhưng chi phí cũng lớn. Bộ
phận vốn này kết hợp với bộ phận vốn tiền gửi thanh toán tạo thành nguồn vốn
kinh doanh quan trọng nhất của ngân hàng.
- Vốn vay trên thị trường tiền tệ: Kinh tế này càng phát triển đa dạng,
nhu cầu vay vốn từ nền kinh tế ngày càng nhiều. Nhu cầu tín dụng đó đòi hỏi
ngân hàng cần thiết phải có sự bổ sung những nguồn vốn mới ngoài các nguồn
vốn truyền thống bị hạn chế về khả năng mở rộng huy động do cạnh tranh.
Một trong những nguồn vốn đó là nguồn vốn mà các ngân hàng vay trên thị
trường tiền tệ. Đây là nơi các ngân hàng có thể vay mượn với số lượng lớn,
cấp thiết, thông qua bất kỳ công cụ nào sau đây:
+ Vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng: Đây là khoản vay được thực
hiện bằng cách thỏa thuận lẫn nhau giữa các ngân hàng hoặc các tổ chức tín
dụng để đảm bảo mức dự trữ tiền gửi theo quy định và đáp ứng nhu cầu thanh
khoản cấp thiết.
+ Bán lại các giấy tờ có giá: Khi ngân hàng đang nắm giữ các giấy tờ có
giá do chính phủ phát hành hoặc do công ty phát hành, ngân hàng có thể bán


Tổng chi phí lãi
x 100%
Tổng nguồn vốn huy động
Cách tính có ưu điểm đối với ngân hàng trong việc theo dõi động thái
của chi phí nguồn vốn theo thời gian và mức chi phí lãi suất bình quân cung
cấp một chuẩn mực tương đối cho việc ra quyết định nên cho vay và đầu tư
vào lĩnh vực nào để có hiệu quả. Tuy nhiên, cách tính toán như trên chưa phải
cách tính toán hoàn hảo bởi vì nó chỉ mới dừng lại ở mức độ xem xét giá của
nguồn vốn, nghĩa là vẫn còn nhiều chi phí khác phải chi ra để có nguồn vốn
vẫn chưa được đề cập đến như:
+ Tiền lương và chi phí quản lý gián tiếp.
+ Tiền dự trữ bắt buộc theo quy định.
+ Chi phí bảo hiểm tiền gửi.
13

Như vậy, lãi suất đầu vào là chi phí nguồn vốn huy động và chi phí cho
công tác huy động có thể tính như sau:
Lãi suất đầu vào

=
Tổng chi phí lãi suất + chi phí phi lãi suất
Tổng nguồn vốn khả dụng
2.1.5.2 Cách tính theo phương pháp chi phí vốn biên tế
Cách tính chi phí vốn bình quân lịch sử tuy có ưu điểm là đơn giản
nhưng chỉ nhìn về quá khứ để xem xét chi phí và tỷ suất sinh lợi tối thiểu đã
thực hiện của ngân hàng. Trong khi đó, phần lớn các quyết định kinh doanh
của ngân hàng là cho hiện tại và tương lai.

- Thứ 4: Tập hợp chi phí lãi và phi lãi suất của tất cả nguồn vốn và với
tổng nguồn vốn huy động (Thái Văn Đại và Nguyễn Thanh Nguyệt, 2004).
2.1.6 Nâng cao hiệu quả huy động vốn
Theo bài viết của Đường Thị Thanh Hải đăng trên Tạp chí Tài chính số 5
(2014) bàn về nâng cao hiệu quả huy động vốn đã viết: Để huy động được
nguồn vốn đảm bảo chất lượng và số lượng vốn luôn là vấn đề được quan tâm
hàng đầu trong quá trình hoạt động của các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Tuy
nhiên, trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, việc huy động vốn trong
nền kinh tế đang gặp phải không ít khó khăn và thách thức
Nâng cao hiệu quả huy động vốn
Để huy động được nguồn vốn đảm bảo chất lượng và số lượng luôn là
vấn đề được quan tâm hàng đầu của các tổ chức tín dụng, ngân hàng.
Bốn nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn:
 Thứ nhất, nguồn vốn huy động có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô
hoạt động của hệ thống ngân hàng. Nguồn vốn khả dụng của ngân hàng có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, hoạt động bảo lãnh
hay trong hoạt động thanh toán của ngân hàng. So với các ngân hàng nhỏ thì
các ngân hàng lớn có các khoản mục về đầu tư, cho vay đa dạng hơn, phạm vi
và khối lượng tín dụng cũng lớn hơn. Ngược lại, các ngân hàng nhỏ bị giới
hạn bởi phạm vi hoạt động trong một khu vực nhỏ.
 Thứ hai, nguồn vốn huy động giúp ngân hàng chủ động trong kinh
doanh. Trong cơ cấu vốn của ngân hàng thì ngoài phần vốn tự có thì còn có
vốn huy động, vốn vay và các nguồn vốn khác. Một ngân hàng không thể chỉ
hoạt động với nguồn vốn tự có và vốn đi vay, vì vốn tự có của ngân hàng chỉ
chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu vốn của ngân hàng, còn vốn đi vay
thì ngân hàng phải phụ thuộc vào đối tượng cho vay về thời hạn, số lượng và
các chi phí khác. Nếu ngân hàng có lượng vốn lớn sẽ hoàn toàn chủ động
trong hoạt động của mình.
 Thứ ba, nguồn vốn huy động giúp ngân hàng nâng cao vị thế của mình
trên thị trường. Để đảm bảo việc thu hút khách hàng đến quan hệ giao dịch với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status