BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
[\
PHẠM VĂN TRIỆU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN HỮU THÀNH
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được nội dung luận văn này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo,
giúp đỡ rất tận tình của PGS.TS. Nguyễn Hữu Thành, sự giúp đỡ, động viên của các
thầy cô giáo trong khoa Quản Lý Đất Đai. Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ
lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Hữu Thành và những ý kiến
đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Quản Lý Đất Đai - Học Viện
Nông Nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn cán b
ộ Ủy ban nhân dân huyện, phòng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, chính
quyền các xã cùng nhân dân huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đã động viên,
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Phạ
m Văn Triệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageiii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc phát triển nông nghiệp của huyện. 31
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageiv
2.3.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng 31
2.3.3 Đánh giá hiệu quả một số loại hình sử dụng đất huyện Nghĩa Hưng. 31
2.3.4. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 32
2.4.1 Phương pháp điều tra thực địa
32
2.4.2 Phương pháp thu thập các số liệu, tài liệu 32
2.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 32
2.4.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến sử dụng
nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 35
3.1.1 Điều ki
ện tự nhiên. 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41
3.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nghĩa Hưng 49
3.2.1 Cơ cấu diện tích các loại đất 49
3.2.2. Các loại sử dụng đất trên địa bàn huyện 52
3.3 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 57
3.3.1 Hiệu quả kinh tế 57
3.3.2 Hiệu quả xã hội 69
3.3.3 Hiệu qu
ả về môi trường 78
3.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng 85
3.4.1 Những căn cứ để xác định định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện 85
3.4.2 Định hướng nâng cao sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả 87
16 SL Sản lượng
17 STT Số thứ tự
18 tr đồng Triệu đồng
19 UNDP Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc
20 WTO Tổ chức thương mại thế giới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagevi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Phân cấp chỉ tiêu độ mặn trong đất 34
3.1 Diện tích các loại đất huyện Nghĩa Hưng qua điều tra 38
3.2 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu giai đoạn 2005-2013 42
3.3 Số lượng lao động phân theo ngành kinh tế 43
3.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng năm 2013 50
3.5 Tình hình biến động diện tích đất từ năm 2005 đến năm 2013 51
3.6 Các loại sử
dụng đất nông nghiệp của tiểu vùng 1 53
3.7 Các loại sử dụng đất nông nghiệp của tiểu vùng 2 54
3.8 Hiệu quả kinh tế các cây trồng vật nuôi tiểu vùng 1 58
3.9 Hiệu quả kinh tế các cây trồng vật nuôi của tiểu vùng 2 60
3.10 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 63
3.11 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 65
3.12 Tổng hợp hiệu qu
ả kinh tế các LUT của huyện Nghĩa Hưng 67
3.13 Mức đầu tư lao động và thu nhập/ngày công lao động của tiểu vùng 1 70
3.14 Mức đầu tư lao động và thu nhập/ngày công lao động của tiểu vùng 2 72
3.15 Tổng hợp hiệu quả xã hội các LUT huyện Nghĩa Hưng 73
3.16 Mức độ chấp nhận của người dân với các loại sử dụng đất nông
nghiệp thô sơ vào buổi bình minh của con người đến nền nông nghiệp đầy ắp các
tiến bộ khoa học kỹ thuật như ngày nay. Đất đai quý giá là vậy nhưng không ít
người thờ ơ đối với thiên nhiên, với đất. Do đó trên phạm vi toàn cầu và ở nước ta
diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu h
ẹp, do bị thoái hoá ô nhiễm, chuyển
mục đích sử dụng. Bởi vậy vấn đề quan trọng là phải xem xét lại mối quan hệ giữa
con người với tài nguyên đất, trên cơ sở những giải pháp điều chỉnh tác động tới đất
và trên quan điểm phát triển bền vững có cân nhắc tất cả các khía cạnh kinh tế, xã
hội và môi trường.
Đứng trước vấn đề trên việc sử
dụng đất nông nghiệp hợp lý tiết kiệm và có
hiệu quả kinh tế cao trên quan điểm bền vững là vấn đề quan trọng mà các nước trên
thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển cũng như Việt Nam đang quan tâm.
Những năm gần đây, nông nghiệp ở nước ta có sự tăng trưởng khá, sức sản
xuất của nông dân dần được giải phóng, tiềm năng đất nông nghi
ệp dần được phát
huy. Bên cạnh đó nước ta đất chật người đông, dân cư sống chủ yếu phụ thuộc vào
kết quả sản xuất nông nghiệp. Đòi hỏi khai thác đất đai hợp lý nhằm phát triển nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triển nông nghiệp bền vững.
Nghĩa Hưng là một huyện đồng bằng ven biển thuộc vùng đồng bằng sông
Hồng. Tại Nghĩa Hưng người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và làm muối
nhưng lại là huyện có quỹ đất đai hạn chế, bình quân diện tích các loại đất trên đầu
người thuộc loại thấp so với bình quân toàn tỉnh. Vì vậy, quan điểm hàng đầu của
huyện là khai thác, sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, phát
huy tối
đa tiềm năng, nguồn lực về đất theo các mục đích khác nhau. Trong những
năm gần đây, sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đã hình thành và góp
phần nâng cao đời sống người nông dân. Tuy nhiên, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ và
chưa được quy hoạch cụ thể; việc nhân rộng các cây trồng, vật nuôi, các kiểu sử
1.1. Khái niệm và một số lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp
1.1.1. Khái niệm về đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1. Đất nông nghiệp
a. Khái niệm về đất
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định
nghĩa về đất. Khái niệm đầu tiên của học giả người Nga Docutraiep năm 1886 cho
rằng: “Đất là một vậ
t thể thiên nhiên độc lập do kết quả quá trình hoạt động tổng
hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời
gian” (Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thế Hùng,1999). Tuy vậy, khái niệm này chưa
đề cập đến khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi
trường xung quanh. Do đó sau này một số học giả khác đ
ã bổ sung các yếu tố: nước
của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về
đất nêu trên.
Theo Phạm Văn Phê (2001) nếu biểu thị định nghĩa về đất dưới dạng công thức
toán học thì ta có thể coi đất là một hàm của một số yếu tố hình thành đất theo thời gian.
Đ = f (Đa, Sv, K, Đh, Nc, Ng)t
Trong đó: Đ: đất; Đa: đá; Sv: sinh v
ật; K: khí hậu; Đh: địa hình; Nc: nước
của đất và nước ngầm; Ng: tác động của con người; t: thời gian;
Ngoài ra, còn có một số học giả khác cũng có những khái niệm về đất như sau:
- Học giả người Anh V.RWiliam đã đưa ra khái niệm “Đất là lớp mặt tơi xốp
của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng”(Nguyễn Ích Tân, 2000).
- Các Mác cho rằng: “Đất đai là tư li
ệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất
của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của
hàng loạt thế hệ người kế tiếp nhau” (Các Mác, 1949).
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo
vệ, phát triển rừng: Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi
trồng thủy sản, đất làm muối và đất sản xuất nông nghiệp khác.
1.1.1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghi
ệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó
giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại đất, vùng đất để trên cơ
sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất. Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp có thể chia thành 3 nhóm:
a. Yếu tố tự nhiên
Theo Vũ Ngọc Hùng (2002) thì yếu tố tự nhiên bao gồm điều kiện khí hậu,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page5
đất trồng, cây trồng, môi trường sinh thái, nguồn nước. Chúng có ảnh hưởng một
cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất (Vũ Ngọc
Hùng, 2002)
- Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và phát
triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ, không khí,
nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, l
ượng mưa và độ ẩm không khí
là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ
địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từ
ng
vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,5
0
các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì có vai trò quan
trọng đối với sự sinh trưở
ng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố sinh
trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí (Hà Thị Thanh Bình, 2002). Độ phì là
một trong những yếu tố quan trọng nhất của đất. Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng
đến quá trình hình thành độ phì của đất. Độ phì nhiêu của đất liên quan tr
ực tiếp đến
năng suất cây trồng. Do vậy, tuỳ theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây
trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng đất cao.
- Yếu tố cây trồng
Cây trồng là yếu tố trung tâm trong quá trình sản xuất nông nghiệp và sử
dụng đất nông nghiệp. Con người hưởng lợi trực tiếp từ nhữ
ng sản phẩm của cây trồng.
Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con
người và cho các hoạt động trao đổi hàng hóa, xuất khẩu.
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất sẽ đem lại những giá
trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và tạo ra sự bền vững cho môi trường
đất. Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không
những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Báo cáo của Viện tài nguyên thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất đai
Châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người. Hoạt động sản xuất nông
nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm
canh tăng vụ đã phá huỷ
cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng
(ESCAP/FAO/UNIDO, 1993).
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ
thuật trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như trình độ của người nông dân
ngày càng được nâng cao, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao,
- Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh
hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói
riêng và ngược l
ại. Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển. Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt
được hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
cao làm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page8
Trong cuốn nguyên lý kinh tế nông nghiệp (1999) khẳng định phát triển nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác
của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, chịu sự ảnh hưởng của rất
nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị
trường, kiến thức và kinh nghiệ
m trong sản xuất và tiêu thụ nông sản (Lê Ngọc
Dương và Trần Công Tá, 1999).
- Cơ chế chính sách
Trong hơn mười năm qua, Việt Nam đã thực hiện chính sách đổi mới trong
nông nghiệp, tập trung vào trọng tâm: làm rõ và giao cho nông dân nhiều quyền đối
với ruộng đất; tự do hóa thương mại trong nước và xuất nhập khẩu; giao quyền
quyết định sản xuất cho nông dân; đổi mới các hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước,
khuyến khích kinh tế tư
nhân. Đồng thời nhà nước tăng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ
tầng, cung cấp tín dụng, chuyển giao khoa học công nghệ. Những chính sách mới đã
khuyến khích mạnh mẽ nhân dân đầu tư vào phát triển sản xuất. Nông nghiệp Việt
Nam đã phát triển nhanh, liên tục trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới. Từ
chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, nay
đã xuất khẩu được
Nam, 2005).
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng Hiến pháp, pháp luật công nhận
quyền sử dụng lâu dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử
dụng lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất. Điều đó đã trở
thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó làm cho người nông
dân yên tâm đầu tư trên đất, s
ử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu
quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thấy,
chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản
xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt
là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá trị hàng hoá cao.
- Khoa h
ọc kỹ thuật
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của xã hội, những thành tựu và
khoa học kỹ thuật ngày càng được ứng dụng nhiều trong các ngành kinh tế nói
chung và nông nghiệp nói riêng. Các máy móc cơ giới liên tục được cải tiến cho
phù hợp hơn với đồng ruộng Việt Nam, các giống cây trồng mới tốt hơn, năng suất
hơn thường xuyên được ứng dụng vào sản xuất. Đi
ều này góp phần không nhỏ vào
việc giải phóng sức lao động cũng như nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng hay
tạo ra những sản phẩm tốt hơn, sạch hơn cho xã hội.
Theo báo cáo của Vũ Thị Thanh Tâm (2007), sản xuất hàng hoá của hộ nông
dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa
học công nghệ vào sản xuất. Vì sản xuất nông nghi
ệp hàng hoá phát triển đòi hỏi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page10
phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm
(Vũ Thị Thanh Tâm, 2007).
đây được hiểu là giá trị sản xuất đầu ra, còn lượng chi phí bỏ ra là giá trị của các
nguồn lực đầu vào.
Ta có thể thấy bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page11
phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng ngày càng cao về nhu cầu đời sống vật chất và
tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Cho nên mỗi cá nhân và tổ chức đều phải
có bổn phận nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Hiện nay, khi nói đến hiệu quả sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông
nghiệp nói riêng, chúng ta thường đề cập đến 3 khía cạnh là kinh tế, xã hội và môi
trường. Sử d
ụng đất có hiệu quả là đảm bảo được cả 3 yếu tố đó.
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là hiệu quả do tổ chức và bố trí sản xuất
hợp lý để đạt được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn, là tiêu chí được quan tâm
hàng đầu, khâu trung tâm để đạt các loại hiệu quả khác. Có khả năng lượng hoá
bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính (Lê Ngọc Dương và Trầ
n Công Tá, 1999).
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh
tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến
khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong hai
yếu tố hiệu quả hay hiệu quả phân bổ mới có điều ki
ện cần chứ chưa phải là điều kiện
đủ cho đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế.
- Hiệu quả xã hội: Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người
với con người, có tác động t
ới mục tiêu kinh tế. Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng
các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng.
Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001) thì hiệu quả xã hội là mối
trường đang là vấn đề được quan tâm hiện nay.
1.1.2.2. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo quan điểm của tổ chức FAO (1990) đư
a ra có ba tiêu chuẩn đánh giá
hiệu quả sử dụng đất bền vững là bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt môi
trường và bền vững về mặt xã hội, nghĩa là định hướng sự thay đổi về kỹ thuật và tổ
chức sản xuất nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu của con người thuộc các
thế hệ hôm nay và mai sau. Đối v
ới sử dụng đất nông nghiệp, tiêu chuẩn đánh giá
hiệu quả cụ thể như sau:
- Mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt ra.
Cụ thể là tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm
hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất
khẩu, đồng thời
đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.
- Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào và theo
nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định.
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
ngành nông nghiệp, đến hệ thố
ng môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những
người sống bằng nông nghiệp. Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page13
quan điểm sử dụng đất bền vững.
a. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
+ Nhu cầu của địa phương về phát tri
- C
0
)
Trong đó, H : hiệu quả
K : kết quả
C : chi phí
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page14
0 và 1 là chỉ số về thời gian
Tùy vào các hệ thống tính toán khác nhau mà các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả
sẽ khác nhau. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế đất nông nghiệp có những
sự khác nhau tùy vào từng hệ thống kinh tế.
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp gồm:
+ Giá trị sản xuất (GTSX)
Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dị
ch vụ được tạo ra trong một thời kỳ
nhất định, thường là 1 năm. GTSX chính là giá trị sản lượng trên một đơn vị diện
tích đất nông nghiệp.
+ Chi phí trung gian (CPTG)
Bao gồm toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra
để thuê và mua các yếu tố đầu vào (trừ khấu hao tài sản cố định) và dịch vụ sử dụng
trong quá trình sản xuất.
+ Giá trị gia tăng (GTGT)
Giá trị
gia tăng được tính theo công thức:
GTGT = GTSX - CPTG
Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất rất quan tâm đến GTGT, đặc biệt
trong các quyết định ngắn hạn. Nó là kết quả của việc đầu tư các chi phí vật chất và lao
cực trong xã hội góp phần ổn định và phát triển đất nước.
+ Thực tế cho thấy, hình thức du canh, du cư không những làm cho cuộc
sống thiếu ổn định mà còn gây nên tình trạng suy thoái môi trường đất, nước Vì
vậy cần sản xuất nông nghiệp một cách bền vữ
ng.
* Hiệu quả môi trường :
Trong sử dụng đất luôn có sự mâu thuẫn giữa những lợi ích vật chất, cá nhân
trước mắt với những lợi ích xã hội, lâu dài. Việc người dân khai thác từ đất nhiều
hơn, trong khi cung cấp cho đất lượng phân hữu cơ ít và tăng các dạng phân hoá
học, thuốc bảo vệ thực vật đều là những nguyên nhân làm tổn hại môi trường. Sử
dụng đất thực s
ự đạt hiệu quả khi nó không có mâu thuẫn trên. Vì vậy, một số tiêu
chí đưa ra khi đánh giá đến hiệu quả môi trường trong sử dụng đất được đưa ra là :
+ Khả năng duy trì và cải thiện độ phì của đất (như khả năng tre phủ đất, giữ
ẩm, trả lại cho đất tàn dư cây trồng )
+ Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật
+ Độ
phì nhiêu của đất.
+ Mức độ nhiễm măn do nước biển xâm nhập
+ Cải tạo, bảo tồn thiên nhiên.
+ Sự thích hợp môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page16
b. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp
- Tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ cho
các mục tiêu phát triển nền kinh tế - xã hội
- Nâng cao thu nhập, tạo ra nhiều lợi ích cho người sử dụng đất
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡ
ng và cải tạo đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page17
bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được. Thế giới đang trải
qua “thập kỷ nhận thức về môi trường” (1971 - 1981) và “thập kỷ hành động” (1981
- 1991). Bảo vệ môi trường trở thành chiến lược toàn cầu và chiến lược của mỗi
quốc gia (Đoàn Công Quỳ, 2001). Mục tiêu của con người trong quá trình sử dụng
đất là sử dụng khoa học và hợp lý (Nguyễn Viết Phổ, Trần An Phong và Dươ
ng
Văn Xanh, 1996). Trong thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức về sử dụng
đất còn hạn chế dẫn tới nhiều vùng đất đai đang bị thoái hóa, ảnh hưởng tới môi
trường sống của con người. Những diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất nông
nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người phải mở mang thêm diện tích đất canh tác
trên các vùng không thích hợp. Hậu quả đã gây ra quá trình thoái hóa rửa trôi và phá ho
ại
đất một cách nghiêm trọng.
Trước những năm 1970, trong nông nghiệp người ta nói đến nhiều giống
mới, năng suất cao, kỹ thuật cao. Nhưng sau năm 1970 một khái niệm mới đã xuất
hiện và ngày càng có tính thuyết phục, đó là khái niệm tính bền vững và tiếp theo là
nông nghiệp bền vững.
Nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những kinh nghiệm
truyền thống mà là phối hợp, lồ
ng ghép những sáng kiến mới từ các nhà khoa học,
từ nông dân hoặc cả hai. Điều trở nên thông thường đối với những người nông dân,
bền vững là việc sử dụng những công nghệ và thiết bị mới vừa được phát kiến,
những mô hình canh tác tổng hợp để giảm giá thành đầu vào. Đó là những công
nghệ về chăn nuôi động vật, những kiến thức về sinh thái để quản lý sâu h
ại và
thiên địch (Cao Liêm và CTV, 1996).
Theo Lê Văn Khoa (1993), để phát triển nông nghiệp bền vững cũng phải