ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NÔNG VĂN HỰU Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP HỢP LÝ XÃ CỐC ĐÁN, HUYỆN NGÂN SƠN
TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Khoa : Quản lý Tài Nguyên
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Hoàng Hữu Chiến
2.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới sử dụng đất nông nghiệp 10
2.2.3. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 13
2.2.4. Sử dụng đất bền vững 16
2.3. Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO 19
2.3.1. Loại hình sử dụng đất 19
2.3.2. Nội dung chính của đánh giá các loại hình sử dụng đất 19
2.4. Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên Thế Giới và
Việt Nam 19
2.4.1. Những nghiên cứu trên Thế Giới 19
2.4.2. Những nghiên cứu của Việt Nam 21
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 23
3.1. Đối tượng nghiên cứu 23
3.2. Phạm vi nghiên cứu 23
3.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.4. Nội dung nghiên cứu 23
3.4.1. Điều tra, nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội xã Cốc Đán . 23
3.4.2. Điều tra, xác định các loại hình sử dụng đất chính của xã Cốc Đán 23
3.4.3. Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chính 23
3.4.4. Xác định các yêu cầu sử dụng của các loại hình sử dụng đất (LUT)
có triển vọng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp 23
3.4.5. Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý
trên cơ sở kết quả nghiên cứu đánh giá LUT của xã Cốc Đán 23
3.5. Phương pháp nghiên cứu 23
3.5.1. Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp 23
3.5.2. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 24
3.5.3. Phương pháp khảo sát thực địa 24
3.5.4. Phương pháp xử lý số liệu điều tra 24
3.5.5. Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 24
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
nghiệp bền vững và cân bằng sinh thái.
Do sức ép của đô thị hoá và sự gia tăng dân số, đất nông nghiệp đang
đứng trước nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng. Con người đã và đang
khai thác quá mức mà chưa có biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai. Hiện nay,
việc sử dụng đất đai hợp lý, xây dựng một nền nông nghiệp sạch, sản xuất ra
nhiều sản phẩm chất lượng đảm bảo môi trường sinh thái ổn định và phát triển
bền vững đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Thực chất của mục tiêu này chính
là vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội và môi trường.
Đứng trước thực trạng trên, nghiên cứu thực trạng, tiềm năng đất đai,
tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá mức độ thích hợp
của các loại hình sử dụng đất đó làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất hợp
lý, hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề có tính chiến lược và
cấp thiết của Quốc gia và của từng địa phương.
Cốc Đán là một xã nông nghiệp nằm ở phía bắc của huyện Ngân Sơn
trong những năm qua, nền sản xuất nông nghiệp của xã đã được chú trọng đầu
tư phát triển. Năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, đời sống vật chất
tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Song trong nền sản xuất nông
nghiệp của xã còn tồn tại nhiều yếu điểm đang làm giảm sút về chất lượng do
2
quá trình khai thác sử dụng không hợp lý: trình độ khoa học kỹ thuật, chính
sách quản lý, tổ chức sản xuất còn hạn chế, tư liệu sản xuất giản đơn, kỹ thuật
canh tác truyền thống, đặc biệt là việc độc canh cây lúa ở một số nơi đã không
phát huy được tiềm năng đất đai mà còn có xu thế làm cho nguồn tài nguyên
đất có xu hướng bị thoái hoá.
Nghiên cứu đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá đúng mức
độ của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng đất hợp lý có hiệu quả cao
theo quan điểm bền vững làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất và
định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của xã là vấn đề cấp thiết.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà
đất mang lại hiệu quả cao. Là cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất, đưa ra những
chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao đời sống nhân dân
trong thời gian tới. 4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
2.1. Một số lý luận về việc sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng
đất nông nghiệp trên Thế Giới
2.1.1. Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1.1. Đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con
người, con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất. Tuy
vậy, không phải ai cũng hiểu đất là gì? Đất sinh ra từ đâu? Tại sao lại phải giữ gìn
bảo vệ nguồn tài nguyên này. Học giả người Nga, Docutraiep cho rằng “Đất là vật
thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp
tầm quan trọng khác nhau. C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của cải
vật chất, còn đất là mẹ” [2]. Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thống
nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật” [7], Luật đất đai năm 2003
khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và
quốc phòng”[11]. Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ
yếu và đặc biệt không thể thay thế, với những đặc điểm:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm
nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá
trình sản xuất. Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các
hoạt động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa
cầu. Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông -
6
lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng
tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Việc khai khẩn
đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất
nông nghiệp tăng lên. Đây là xu hướng vận động cần khuyến khích.
Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang
hóa, nằm trong quỹ đất chưa sử dụng. Vì vậy, cần phải đầu tư lớn sức người
và sức của. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán kỹ để đầu tư
cho công tác này thực sự có hiệu quả.
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng.
Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí
hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị
trường,…) và có chất lượng đất khác nhau. Do vậy, việc sử dụng đất đai phải
gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để nhằm
đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng
đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
còn cho thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh
thái, môi trường. Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn
liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình
sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần
thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
2.1.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế Giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông
nghiệp. Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát
triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì
quốc gia nào cũng thừa nhận. Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ
8
sở nền tảng của sự phát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì
nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh
lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai. Do
đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để
và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa
được coi trọng. Mặt khác, cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội,
công nghệ, khoa học và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò
quan trọng đối với cuộc sống của con người. Nhân loại đã có những bước tiến
kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày. Nhưng do chạy
theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã
gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất. Kết quả
là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình
thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị
phá hoại cấu trúc của tầng đất Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích
đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra
[12]. Theo P.Buringh [18], toàn bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới
Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3-5 tỷ ha. Nhân loại đã làm hư
hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất nông
nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá. Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông
nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở
rộng diện tích đất nông nghiệp [21]. Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm
vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện
trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là
vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm. Để ngăn chặn những suy
thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm
hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài
10
nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của
nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong
sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã
hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững.
2.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết
sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại
vùng đất để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất. Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây:
* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như đất
đai, khí hậu thời tiết, nước, sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông
nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối.
Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù
hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: Trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành
phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất
quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất. Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt
hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất.
tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì
cũng đặt ra yêu cầu đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công
nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng
trưởng nhanh. Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy
trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế [3]. Như vậy
nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình
khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. 12
* Nhân tố kinh tế - xã hội: Bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã hội, dân
số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ
đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất. Sau đây là một số nhân tố chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp. Trong các yếu tố cơ sở
hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp
phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào
cho sản xuất. Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông
nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng. Trong đó thuỷ lợi
và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc
sử dụng đất theo bề rộng và bề sâu. Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp
hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: Là cầu nối giữa người sản
xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này
giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo.
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể
hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao
động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong
sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất. Do vậy, muốn
nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin
khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng.
lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được thể hiện bằng những
chỉ tiêu cụ thể xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai
là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét hiệu
quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là
bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá
hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả
14
mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đó.
Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của
hầu hết các nước trên thế giới [22]. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các
nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông
nghiệp mà còn là sự mong muốn của người dân, những người trực tiếp tham
gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật
nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó
nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh
tranh cao. Đó là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển
nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa vừa mang tính ổn định vừa
đảm bảo sự bền vững.
Ngày nay nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất
hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những
nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét
trên cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [14].
* Hiệu quả kinh tế:
Theo CacMac thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao
động theo các ngành sản xuất khác nhau theo các nhà khoa học Đức (Stenien,
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác
định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp. Hiện nay,
việc đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề
đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.
16
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang
được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả. Điều này
có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi
giải pháp quản lý được coi là hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có
những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường
không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh
học. Có được điều đó mới đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi vùng
lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính
lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương
lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và
môi trường sinh thái.
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vũng phải quan tâm tới cả ba
hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh
tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường,
ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ
không bền vững.
2.2.4. Sử dụng đất bền vững
Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản
lý đất bền vững ” đã đưa ra định nghĩa: “ Quản lý bền vững đất đai bao gồm
tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý
kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất).
quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ). Sản phẩm thu được
cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân.
18
Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy. Về đất đai, hệ thống
sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài,
đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể.
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập
quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ.
- Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ
màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái.
Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới
mức cho phép.
Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng
bền vững.
Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%).
Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn
độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm ).
Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử
dụng đất hiện tại. Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để
giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [5].
Tóm lại: khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được
thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích
mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định. Đối với sản xuất nông
nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng
sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm
theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống
của con người, của các sinh vật.
phương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp theo hướng phát triển hàng hoá. Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ
và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau.
20
Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới
đều nghiên cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo
ra được một số loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn. Viện
lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây
trồng trên đất canh tác. Tạp chí " Farming Japan" của Nhật Bản ra hàng tháng
đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử
dụng đất, điển hình là của Nhật. Nhà Khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã
nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng từ đó
cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ
thuật, kinh tế- xã hội. Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá tiêu chuẩn
hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác là sự phối
hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi,
độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và
tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất đã thúc đẩy kinh tế - xã
hội nông thôn phát triển toàn diện về mọi mặt và nâng cao được hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp [14].
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp
quan trọng nhất là chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số
tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% trong tổng thu nhập nông nghiệp),
Canada tương ứng là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Oxtraylia 1,7 tỉ USD (chiếm
14,5%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9%), Cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ
USD (chiếm 40,1%), Áo là 1,6 tỉ USD (chiếm 35,3%) [14].
Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới
có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển
từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả
Hồng huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Dương của tác giả Vũ Thị Bình (1993) [1]; Đánh
giá kinh tế đất lúa vùng đồng bằng Sông Hồng, Quyền Đình Hà, (1993) [5].