BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
******************
NGUYỄN VĂN DŨNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
******************
NGUYỄN VĂN DŨNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Châu Thu
Hà Nội, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Dũng
LỜI CẢM ƠN
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 11
1.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
12
1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 15
1.2.4 Quan điểm sử dụng đất bền vững 18
1.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của
FAO 23
1.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và
Việt Nam 24
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới 24
1.4.2 Những nghiên cứu trong nước 26
1.5 Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong tương lai 28
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
2.3.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến
sử dụng đất đai 32
2.3.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp 32
2.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 32
2.3.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Thủy Nguyên 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp thu thập các số liệu, tài liệu 33
2.4.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 34
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 34
2.4.4 Các phương pháp khác 35
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Thủy Nguyên 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 41
TNHH Thu nhập hốn hợp
RRA Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia.
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất
trồng cây hàng năm ở Việt Nam 10
Bảng 4.1. Tình hình biến động dân số giai đoạn 2005 - 2012 42
Bảng 4.2. Tình hình biến động các loại đất chính giai đoạn 2000 - 2012 42
Bảng 4.3. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2012 43
Bảng 4.4. Giá trị sản xuất ngành nông lâm ngư nghiệp 44
Bảng 4.5. Hiện trạng các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 50
Bảng 4.6. Hiện trạng các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 50
Bảng 4.7. Hiện trạng các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 51
Bảng 4.8. Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất ở vùng 1 52
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất ở vùng 2 54
Bảng 4.10. Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất ở vùng 3 56
Bảng 4.11. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 58
Bảng 4.12. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 60
Bảng 4.13. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 60
Bảng 4.14. Mức độ sử dụng phân bón cho một số loại cây trồng
trên địa bàn huyện Thủy Nguyên 62
Bảng 4.15. Định hướng các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 69
Bảng 4.16. Định hướng các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 71
Bảng 4.17. Định hướng các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 71
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không
chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt
động kinh tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản
xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông - lâm nghiệp. Chính vì
các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng đất hợp lý có hiệu quả cao theo
quan điểm bền vững làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất và
định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Thủy Nguyên là vấn đề
có tính chiến lược và cấp thiết.
Trước tình hình đó, huyện Thủy Nguyên cần đánh giá thực trạng sử
dụng đất nông nghiệp và định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất
nông nghiệp cho một sự phát triển bền vững để đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, đô thị hóa.
Xuất phát từ thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đào Châu
Thu tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá thực trạng và định hướng sử
dụng đất nông nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Thủy Nguyên - thành
phố Hải Phòng”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được thực trạng sử dụng đất nông nghiệp bền vững trên địa
bàn Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2012. Trên cơ sở đó
đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài sẽ góp phần giúp cho việc nhìn nhận một cách
2
có hệ thống một số vấn đề cơ bản như: khái niệm, tính chất, vai trò, ý nghĩa
cũng như các quan điểm khai thác sử dụng hợp lý và quản lý tài nguyên đất.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để hoạch
định các chính sách và giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên đất của
huyện Thủy Nguyên. Là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến đất đai của các huyện có điều kiện tương đồng trên địa bàn thành
phố Hải Phòng.
3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp và tình hình sử dụng đất
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản
xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói
đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành
nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích
khác nhau của các ngành. Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu
cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu
không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là
chính).
Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào
mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và
nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm
đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản,
đất làm muối và đất nông nghiệp khác”.
1.1.1.2 Vai trò đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết
định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền
đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản
xuất có tầm quan trọng khác nhau. C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha
của cải vật chất, còn đất là mẹ” [4]. Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà n-
ước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật” [15], Luật đất đai
2003 khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu
sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là
địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội,
5
an ninh và quốc phòng”[10]. Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư
liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế, với những đặc điểm:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm
nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá
trình sản xuất. Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các
hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất -
văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây
dựng trên nền tảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm
nghiệp. Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện
quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
1.1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này có
nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố
trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm
nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao
độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả
của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất
thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi
phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn
nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ
thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực,
thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm
sản cho xuất khẩu [11].
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền
vững. Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lương, có
7
nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ
hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với
điều kiện sinh thái, môi trường. Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông
lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích
trước mắt và lâu dài.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình
sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần
thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
tích đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu á lại có tỷ
lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt khác,
châu á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số
đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, ấn Độ, Indonexia. ở Châu á, đất đồi núi
chiếm 35% tổng diện tích. Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung
là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng
trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông
Nam á. Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước
đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt
nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại.
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do
khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu
cầu về lương thực thực phẩm cho loài người. Tuy nhiên, do dân số ngày một
tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm.
Đông Nam á là một khu vực đặc biệt. Từ số liệu của UNDP năm 1995
[14] cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện
tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu
người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN.
9
1.1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào
sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm
về nông nghiệp [19]. Theo kết quả kiểm đất đai năm 2007, Việt Nam có tổng
diện tích tự nhiên là 33.115.039,62 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ
có 9.420.276,14 ha, dân số là 85.154,9 nghìn người, bình quân diện tích đất
sản xuất nông nghiệp là 1106,25 m
2
/ người.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho
xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được
chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích
10
đất chưa sử dụng. Đây là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn
để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục cho các mục đích khác
nhau. So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông
nghiệp rất thấp. Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân
diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp và manh mún là một
trở ngại to lớn. Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp
lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách
khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao
trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
1.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp.
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp.
Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3-5 tỷ ha. Nhân loại đã làm
hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất
nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá. Để giải quyết nhu cầu về sản
phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây
trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [31]. Việc điều tra, nghiên cứu đất
đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất,
đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử
dụng đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm. Để
ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con
người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý
đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn
duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu
thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3
lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường trên quan
điểm quản lý sử dụng đất bền vững.
11
rừng và thực vật thuỷ sinh, lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong
việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước
cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thuỷ sản [31].
*Biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai,
cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản
xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Theo tác giả Đường
Hồng Dật, (1995) [6] thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể
hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết,về
điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo. Lựa
chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù
hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Theo Frank Ellis và Douglass C.North [25], ở các nước phát triển, khi có
tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì
cũng đặt ra yêu cầu đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công
nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng
trưởng nhanh. Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy
trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế [8]. Như vậy
nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình
khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
* Nhân tố kinh tế - xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã
hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách các yếu tố này có ý nghĩa
quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất. Sau đây là một
số nhân tố chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp. Trong các yếu tố cơ
sở hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó
13
góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố
đầu vào cho sản xuất. Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc,
dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng.
là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý. Trong đó
đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng. Vậy hiệu
quả sử dụng đất là gì?
Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có
nghĩa là lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội.
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng
hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”.(Dẫn theo Vũ
Phương Thuỵ [25]).
Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ [26], hiệu quả chính là kết quả cũng
như yêu cầu của việc làm mang lại.
Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá
trình sử dụng đất. Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại
lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những
chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất
đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét
kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả
đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi
đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá
kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản
phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá
hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của
15
hầu hết các nước trên thế giới [33]. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các
nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông
nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham
gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật
nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó