CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI ........................................................................................................2
NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN).......................................................................................2
I.Tiểu sử : ...............................................................................................................................................2
II. Hoàn cảnh ra đời:..............................................................................................................................2
III. Tư tưởng chủ đạo:...........................................................................................................................3
IV. Một vài ví dụ thực tế minh họa cho lý thuyết thương mại mới:.....................................................4
LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH QUỐC GIA................................................................5
V.MICHAEL EUGENE PORTER......................................................................................................16
LÝ THUYẾT KHÔNG GIAN TIỀN TỆ TỐI ƯU..................................................................................21
(R.MUNDELL VÀ R.McKINNON).......................................................................................................21
I/ Tiểu sử :............................................................................................................................................21
III/ Sự vận dụng vào thực tế:...............................................................................................................22
IV/ Đánh giá:........................................................................................................................................23
Các Dự Báo Về Tác Động Của Đồng Tiền Chung Châu Âu Với Thị Trường Tài Chính Quốc Tế...23
Các Kết Quả Và Cột Mốc................................................................28
CHỦ NGHĨA CHIẾT TRUNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ.......................................................29
I.Một số lý thuyết về đầu tư quốc tế:...................................................................................................29
II.Chủ nghĩa triết chung trong hoạt động đầu tư:................................................................................32
ĐÁNH GIÁ CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ...................................................................34
1.Những thành công:..........................................................................................................................34
2.Những vấn đề cần tiếp tục giải quyết:.............................................................................................34
1 | P a g e
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI
NEW TRADE THEORY (PAUL KRUGMAN)
I. Tiểu sử :
Paul Robin Krugman ( sinh ngày 28 tháng 2 năm
1953) là một nhà kinh tế Mỹ , giáo sư kinh tế và vấn
đề quốc tế tại Woodrow Wilson School of Public và

2 | P a g e
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mô hình Heckscher-Ohlin ngự trị tư duy kinh tế quốc tế trong suốt nửa thế kỉ, và giải thích được
hầu hết các mối quan hệ thương mại quốc tế. Thế nhưng càng ngày, người ta càng thấy có những đặc
điểm trong thương mại quốc tế mà mô hình này không thể giải thích.
Một trong những đặc điểm đó là quan hệ thương mại nội ngành (intra-industry trade). Ví dụ, Mỹ
xuất khẩu xe hơi sang Nhật và châu Âu nhưng cũng nhập khẩu xe hơi từ Nhật và châu Âu. Theo lý
thuyết lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành này không thể xảy ra vì với một mặt hàng,
chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế sang nơi không có lợi thế sản xuất mặt hàng đó, như
nước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, mà thôi. Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy.
Lý thuyết lợi thế so sánh cũng không giải thích được tại sao một số nền kinh tế như Đài Loan và
Hàn Quốc lại thành công trong việc chuyển từ xuất khẩu quần áo, giày dép vào những năm 1960 sang
xuất khẩu máy tính, ôtô đến Mỹ và châu Âu như ngày nay.
Việc này gây nhiều bối rối cho các nhà kinh tế học và đã có một số mô hình ra đời nhằm giải thích
cho quan hệ thương mại này.
Năm 1976, trong một lần dự tiết giảng của Robert Solow, một nhà kinh tế từng được giải Nobel, Paul
Krugman được biết tới khái niệm cạnh tranh độc quyền - là sự cạnh tranh xảy ra khi những nhà sản
xuất có được vị thế độc quyền với những nhãn hiệu hay sản phẩm nhất định.
Ý tưởng vận dụng khái niệm cạnh tranh độc quyền trong thương mại quốc tế chợt nảy ra trong đầu
Paul Krugman. Sau này ông kể lại: “Chỉ trong vài giờ sau đấy, tôi biết ngay tôi đã có chìa khóa để
cầm trong tay cả sự nghiệp của mình. Tôi còn nhớ rõ tôi thức cả đêm trong phấn khích”.
Thế nhưng ý tưởng của ông không dễ dàng được chấp nhận, bài viết của ông bị nhiều tạp chí
chuyên ngành có uy tín từ chối và vấp phải sự thờ ơ của đồng nghiệp. Mãi tới năm 1979, Krugman
mới có thể đăng bài viết của mình trên Tạp chí Kinh tế Quốc tế. Bài viết ngắn, chỉ 10 trang nhưng
ngay lập tức gây được sự chú ý đặc biệt trong ngành và Paul Krugman trở thành cha đẻ trường phái
“Lý thuyết thương mại mới” khi mới 26 tuổi.
III. Tư tưởng chủ đạo:
Lý thuyết này giải thích quan hệ thương mại nội ngành dựa trên giả định về lợi thế nhờ quy mô,
theo đó việc sản xuất trên quy mô lớn làm giảm chi phí sản xuất. Lý thuyết này được xây dựng nhằm
đưa ra cách giải thích khác về cơ cấu và mô thức của nền thương mại thế giới.Nó được xây dựng trên

Do hai đặc tính này - lợi thế quy mô của nhà sản xuất và sự ưa thích đa dạng nhãn hiệu của người
tiêu dùng - mà người sản xuất sẽ dần dần trở thành độc quyền đối với nhãn hiệu sản phẩm của mình,
kể cả khi phải chịu sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu khác.
Mô hình của Paul Krugman giải thích tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa những
nước có lợi thế tương đối về công nghệ và nhân tố sản xuất tương tự nhau. Ví dụ Mỹ và châu Âu cùng
có lợi thế tương đối về vốn và công nghệ nhưng Mỹ vẫn xuất khẩu xe Ford và nhập xe BMW từ châu
Âu. Sở dĩ điều này xảy ra vì sự ưa thích tính đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng cho phép cả hai
hãng Ford và BMW có lợi thế tương đối trong sản xuất những nhãn hiệu của mình.
IV. Một vài ví dụ thực tế minh họa cho lý thuyết thương mại mới:
1. Cụ thể ở Việt Nam,ta sẽ xét trong thị trường viễn thông. Trong thị trường viễn thông Việt
Nam,các doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực này là Vinaphone,Mobiphone và Viettel. Đây là 3
ông lớn của làng viễn thông Việt Nam. Bắt đầu tham gia vào thị trường viễn thông vào năm 1993,thời
điểm này cước sử dụng dịch vụ điện thoại di động còn rất cao- vì thời điểm này số lượng khách hang
còn thấp,người dân VN còn khá dè dặt với hình thức mới mẻ này. Hai anh em Vinaphone và
Mobiphone cùng được ra đời từ tập đoàn viễn thông quốc gia VNPT được hậu thuẫn rất lớn từ chính
phủ,cùng với Viettel Telecom-tập đoàn viễn thông quân đội. Từ những năm 2000,số lượng người
dùng dịch vụ di động tăng lên đáng kể,cùng với đó là sự vào cuộc mạnh mẽ của các mạng di động nhỏ
như S-phone,HT-mobile,Vietnammobile,EVN telecom,Beeline…các ông lớn bắt đầu sử dụng lợi thế
4 | P a g e
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh tế của mình-đó là công nghệ thiết bị sẵn có,số lượng khách hàng lớn ( sản lượng lớn) để dựng
nên các rào cản thâm nhập với các công ty “đến sau” bằng các hình thức giảm giá cước liên
tục,khuyến mãi lớn…cùng với các dịch vụ gia tăng khác dựa trên cơ sở hạ tầng sẵn có mà vẫn đảm
bảo lợi nhuận cao. Còn các mạng nhỏ liên tục gặp khó khăn lớn và gần như không thể cạnh tranh nổi.
Các mạng nhỏ đến sau với nguồn khách hàng hạn hẹp,đầu tư ban đầu lớn thì không thể hạ giá thành
sản phẩm được.
Đây là một ví dụ rất điển hình cho lý thuyết người đi trước của Krugman.
Ngoài ra,chúng ta có thể thấy hiện nay có nhiều quốc gia đủ khả năng thành lập các nhà máy sản
xuất máy bay,nhưng thực tế chỉ có một số hãng máy bay có thể sản xuất như Boeing,Airbus. Đây
cũng là do tính kinh tế của quy mô bởi sản xuất máy bay cần đầu tư công nghệ cao,nghiên cứu cẩn

trọng nhất, phải nỗ lực tạo ra một môi trường hỗ trợ nâng cao năng suất. Hàm ý mỗi chính phủ
cần có vai trò tối thiểu trong một số lĩnh vực và có vai trò chủ động trong những lĩnh vực
khác.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT
- Michael Poter đã nghiên cứu nhiều nước khác nhau và trong mỗi nước, ông xem xét kỹ
lưỡng cạnh tranh trong nhiều ngành công nghiệp. Nghiên cứu dựa trên chỉ một vài quốc gia
hay nhóm nhỏ các ngành có rủi ro nhầm lẫn những cái cá biệt đối với những nguyên lý tổng
quát. Ông đã chọn ra mười nước để nghiên cứu với nhiều đặc trưng và thể chế khác nhau.
Bao gồm: Đan Mạch, Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh
Quốc, Hoa Kỳ.
- Công trình của ông bao gồm các phần chính:
o Phần 1: Trình bày tổng quan lý thuyết, cung cấp những nguyên lý của chiến lược cạnh
tranh.
o Phần 2: phân tích lịch sử phát triển của bốn ngành công nghiệp tiêu biểu được lựa
chọn từ nhiều ngành công nghiệp đã nghiên cứu.
o Phần 3: Áp dụng các lý thuyết vào các quốc gia.
o Phần 4: phát triển một số những hàm ý của lý thuyết đối với chiến lược của công ty và
chính sách của chính phủ.
o Phần 5: minh họa việc sử dụng lý thuyết để xác định những vấn đề sẽ điều chỉnh sự
phát triển trong tương lại của mỗi nền kinh tế quốc gia.
III. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH QUỐC GIA
1. Sức cạnh tranh là gì?
6 | P a g e
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Một số người coi sức cạnh tranh quốc gia là một hiện tượng kinh tế vĩ mô liên quan tới các
biến số như tỉ giá hối đoái, lãi suất và mức thâm hụt ngân sách chính phủ. Nhiều nước vẫn
hưởng mức sống tăng lên gnanh chóng bất chấp thâm hụt ngân sách.
- Một số nước coi sức cạnh tranh là một hàm số của lao động giá rẻ và dồi dào. Việt Nam là
một ví dụ điển hình cho quan điểm này. Các nước như Đức, Thụy Sĩ và Thụy Điển trở nên
giàu có bất chấp mức lương trả cho công nhân cao và thiếu nguồn lao động trong muộn thời

trong những lĩnh vực cụ thể và những hàm ý cho cả doanh nghiệp và chính phủ.
3. Sự thay đổi trong cạnh tranh:
- Sự phát triển của cộng nghệ:
o Ngày càng có nhiều ngành công nghiệp khác biệt với những ngành lý lý thuyết lợi thế
ó sánh đã dựa vào. Sự thay đổi công nghệ diễn ra khắp nơi và liên tục.
7 | P a g e
Website: Email : Tel : 0918.775.368
o Công nghệ đã mang tới cho các quốc gia và doanh nghiệp sức mạnh đề vượt qua sự
khan hiếm các yếu tố sản xuất thông qua những quy trình và sản phẩm mới.
o Trong nhiều ngành công nghiệp, việc tiếp cận với các yếu tố sản xuất dồi dào không
có vài trò quan trọng bằng công nghệ và kỹ năng sử dụng chúng hiệu quả. Ví dụ, lao
động giá rẻ ở Việt Nam là một lợi thế, chừng nào khoa học công nghệ còn gặp khó
khăn với những ngành sản xuất thủ công. Tuy nhiên, tới một thời điểm, công nghệ sản
xuất được cải tiến, điều đó làm giảm đi lợi thế về lao động giá rẻ của Việt Nam.
- Vốn yếu tố sản xuất tương đương:
o Hầu hết các hoạt động thương mại trên thế giới diễn ra ở những quốc gia tiên tiến với
vốn yếu tố sản xuất tương đương.
o Nhiều quốc gia cũng đã có những cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc cạnh tranh trong
hầu hết các ngành công nghiệp. Những lợi thế về nhân tố sản xuất thuận lợi ở các
quốc gia tiên tiến đã dần bị thu hẹp.
- Toàn cầu hóa:
o Các doanh nghiệp cạnh tranh với những chiến lược toàn cầu. Họ hình thành các liên
minh với những doanh nghiệp từ các quốc gia khác để có thể tiếp cận với điểm mạnh
của những doanh nghiệp đó.
o Sự toàn cầu hóa các ngành công nghiệp tách rời daonh nghiệp ra khỏi vốn yếu tố sản
xuất của riêng một quốc gia. Các yếu tố sản xuất như nguyên liệu thô, phụ kiện đều
tương tự nhau, có sẵn trên toàn cầu.
o Chính địa điểm và cách sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất có ý nghĩa quyết định
hơn bản thân các yếu tố trong thành công quốc tế.
4. Lợi thế tạm thời:

1. Nhân tố sản xuất
Mỗi quốc gia đều sở hữu nhân tố sản xuất. Đây là nhân tổ cần thiết cho cạnh tranh trong
bất kỳ một ngành nghề nào. Tuy nhiên mỗi quốc gia có một đặc điểm khác nhau, có
9 | P a g e
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nguồn dự trữ nhân tố sản xuất khác nhau. Điều đó tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi
quốc gia.
Trong một quốc gia, những nhân tổ quan trọng nhất đói với lợi thế cạnh tranh trong hầu
hết các ngành nghề, đặc biệt là những ngành nghề cần thiết cho việc tăng năng suất lao
động trong các nền kinh tế tiên tiến, không phải được thừa hưởng mà phải được tạo ra,
thong qua các quá trình khác nhau giữa các quốc gia và các ngành nghề.
Nhân tổ sản xuất có thể chia làm 5 loại:
- Tài nguyên nhân lực : số lượng, tay nghề, chi phí nhân sự (bao gồm quản lý) tính cả giờ
làm việc chuẩn và qui tắc đạo đức trong khi làm việc. Nguồn nhân lực có thể được chia ra
thành nhiều loại, như kỹ thuật viên chế tạo công cụ, kỹ sư điện có bằng Tiến sỹ, thảo
chương viên viết các chương trình ứng dụng, v.v…
- Tài nguyên vật ch ấ t : sự phong phú, chất lượng, khả năng sử dụng, và chi phí về đất đai,
nước, khoáng sản hay sản lượng gỗ tiềm năng, nguồn thuỷ điện, ngư trường đánh bắt cá
và các nhân tố vật chất khác.
- Tài nguyên kiến th ức: kiến thức về thị trường, kỹ thuật và khoa học liên quan đến hàng
hóa và dịch vụ. Tài nguyên kiến thức đến từ các trường đại học, các viện nghiên cứu
thống kê của chính phủ, các tài liệu khoa học và thương mại, các bảng báo cáo và cơ sở
dữ liệu nghiên cứu thị trường, các hiệp hội thương mại và các nguồn khác.
- Nguồn vốn : tiền vốn và chi chi phí vốn có sẵn để tài trợ cho các ngành nghề. Vốn không
phải đồng nhất mà hình thành từ nhiều hình thức khác nhau như những khoản nợ không
bảo đảm (unsecured debts), những khoản nợ bảo đảm (secured debts), các cổ phiếu và
chứng khoán "nguy cơ" (rủi ro cao, lãi cao), và đầu tư vốn (venture capital). Tổng nguồn
vốn trong một đất nước, và những hình thức triển khai vốn, tuỳ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm
của quốc gia và cơ cấu thị trường vốn của quốc gia đó, cả hai đều thay đổi tuỳ theo mỗi
quốc gia. Sự toàn cầu hoá thị trường vốn và lượng vốn lớn luân chuyển giữa các quốc gia

mại, và từ cá nhân trong việc tạo ra nhân tố, cũng như các đầu tư nhà nước hay cá nhân, là
đặc tính của những ngành nghề quốc gia thành công trên thế giới.
Ví dụ như ở Nhật, tạo ra nhân tố có khuynh hướng thường do cá nhân, trong
khi ở Thuỵ Điển, tạo ra nhân tố thường do vai trò của công chúng hơn. Ở Ý, thông
thường tạo ra nhân tố thông qua việc chuyển giao kiến thức trong các thế hệ gia đình.
Thường thấy trong một quốc gia, đặc tính của cơ chế tổ chức việc tạo ra nhân tố, thông
thường một phần là chức năng của các giá trị xã hội, chính trị và lịch sử, theo một cách
nào đó, thường giới hạn phạm vi các ngành nghề mà trong đó quốc gia có thể cạnh
tranh.
Lợi thế cạnh tranh có thể đến từ một vài bất lợi về nhân tố
Trong các cuộc cạnh tranh thực sự, sự phong phú hay chi phí thấp của một nhân tố
thường dẫn đến sự triển khai kém hiệu quả. Trái lại, nhân tố bất lợi trong các nhân tố cơ
bản, ví dụ như thiếu hụt về tiền lương, thiếu nguyên vật liệu trong nước, hay thời tiết khắc
nghiệt, lại thúc đẩy việc đổi mới. Sự gia tăng ổn định về tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia
cũng có thể có cùng hiệu quả. Kết quả là lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trở nên
nâng cao và bền vững hơn. Một bất lợi theo khái niệm nghĩa hẹp của cạnh tranh có thể trở
thành một lợi thế trong một khái niệm năng động hơn.
2. Nhu cầu thị trường
Trong một ngành nghề, nhân tố quyết định quan trọng thứ hai về lợi thế cạnh tranh
quốc gia là những điều kiện về nhu cầu nội địa về sản phẩm hay dịch vụ của ngành nghề
đó.
11 | P a g e
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có ba đặc điểm chính quan trọng của nhu cầu nội địa: cấu thành nhu cầu nội địa, kích cỡ và
cách thức phát triển nhu cầu nội địa, và cơ chế mà sở thích nội địa của mỗi quốc gia
chuyển giao ra thị trường nước ngoài. Sự quan trọng của hai điều sau còn tuỳ thuộc vào điều
trước. Chất lượng của nhu cầu nội địa quan trọng hơn số lượng của nhu cầu nội địa trong
việc quyết định lợi thế cạnh tranh.
Cấu trúc phân đoạn của nhu cầu:
Đầu tiên là cấu trúc phân đoạn của nhu cầu nội địa hay sự phân phối nhu cầu đối với nhiều

đẩy đổi mới hoặc trong quá trình sản xuất các sản phẩm và các quá trình có thể được nhập từ
12 | P a g e
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nước ngoài. Nhiều kỹ thuật, nếu chỉ ứng dụng rất hẹp trong một lĩnh vực, thì cũng được
nhập từ nước ngoài. Ví dụ, trong rất nhiều ngành khác nhau của Thụy Sĩ và Đức, như máy
trợ thính và máy chế biến chất dẻo, các doanh nghiệp đã thành công trong việc thiết lập các
chi nhánh ở Mỹ để xâm nhập phần nào vào lĩnh vực điện tử và phần mềm. Ở đây, kiến thức
rộng của họ về công nghiệp tiêu dùng (user industry) quan trọng hơn nếu thiếu chuyên môn
trong các kỹ thuật cung ứng. Việc bù đắp phần thiếu của một ngành nghề cung ứng. Sẽ bù
đắp được thiếu hụt của ngành nghề cung ứng quan trọng nếu quốc gia có công nghiệp tiêu
dùng phát triển cao và được các khách hàng thích sử dụng sản phẩm công nghiệp cung ứng.
4. Yếu tố, chiến lược và đối thủ của công ty:
Yếu tố quyết định thứ tư của lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành nghề là bối
cảnh mà doanh nghiệp được tạo dựng, tổ chức và quản lý cũng như tính chất của đối thủ cạnh
tranh trong nước. Mục tiêu, chiến lược, và cách thức tổ chức doanh nghiệp trong các ngành
nghề biến đổi đa dạng giữa các quốc gia. Lợi thế quốc gia có được là nhờ họ biết lựa chọn các
yếu tố trên và kết hợp với nguồn lợi thế cạnh tranh trong một ngành nghề đặc thù nào đó. Mô
hình cấu trúc của đối thủ địa phương cũng có một vai trò to lớn trong tiến trình cải cách và
triển vọng cuối cùng cho sự thành công mang tính quốc tế. Cách thức doanh nghiệp được quản
lý và cách thức họ chọn để cạnh tranh bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh quốc gia. Các doanh nghiệp
trong một quốc gia không thể hiện được tính đồng nhất nhưng bối cảnh chung của toàn bộ
quốc gia thì lại rất đáng chú ý.
Ví dụ ở Ý, rất nhiều các doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế thành công là những doanh
nghiệp vừa và nhỏ của tư nhân và được điều hành như một gia đình nhiều thế hệ. Ở Đức, bộ
phận lãnh đạo cao nhất của các doanh nghiệp là những cá nhân có kiến thức nền tảng về kỹ
thuật, và các doanh nghiệp tổ chức và quản trị theo kiểu phân chia cấp bậc. Nỗ lực để giải
thích tại sao một hệ thống quản trị quốc gia lại đạt đến một trình độ cao là một quá trình lâu
dài. Sự chú ý được hướng vào Mỹ trong khi những thập niên tám mươi nó được hướng vào
Nhật.Không có một hệ thống quản trị nào lại thích hợp cho tòan cầu. Các quốc gia sẽ có
khuynh hướng thành công trong những ngành nghề mà việc thực hiên quản trị và cách thức tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status