Sử dụng truyện cười trong dạy học luyện câu và chính tả ở tiểu học - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY HỌC
“ LUYỆN CÂU ” VÀ “ CHÍNH TẢ ” Ở TIỂU HỌC

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Lê Thị Thanh Thủy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Phượng
Lớp: K61A
X B
Hà Nội – 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến GS.TS Lê
Phương Nga - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và khích lệ tác giả
hoàn thành luận văn từ lúc hình thành ý tưởng nghiên cứu cho đến lúc hoàn
thiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu
học đã truyền đạt những kiến thức qúy báu và cần thiết trong suốt thời gian
em học tập tại trường và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận
văn một cách tốt nhất.
Xin cảm ơn các anh/chị các khóa cao học trước, các bạn học trong lớp
cao học K22 và các bạn sinh viên trong khoa đã quan tâm, động viên em
trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu. Cảm ơn các quý
thầy cô đang tham gia giảng dạy ở Trường Tiểu học Ứng Hòe, Huyện Ninh
Giang, tỉnh Hải Dương đã chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy
truyện cười với em, để em có thêm những thông tin, những tư liệu cần thiết
hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu của mình.
Cuối cùng xin cảm ơn bạn bè và gia đình ba mẹ đã động viên ủng hộ, giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập
để hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 9 năm 2014

tình tiết bất ngờ hay những tình tiết kết thúc đột ngột …chính vì thế đã tạo
nên niềm say mê, hứng thú học tập cho các em học sinh Tiểu học.
Theo các nhà tâm lí học, phát triển trí tuệ, nhân cách cho trẻ không có
nghĩa là nhồi nhét kiến thức kinh điển hay thuần tuý mà trước hết phải tạo cho
trẻ sự tò mò để kích thích trí tưởng tượng nhằm tạo điều kiện để em nảy nở
cảm xúc, tự do phát triển tâm hồn, tư duy. Vậy nên việc sử dụng truyện cười
vào làm ngữ liệu dạy học trong các phân môn của môn Tiếng
Việt ngoài việc phù hợp với tâm lí lứa tuổi, sự nhận thức của học sinh Tiểu
học thì nó còn đem đến cho học sinh tiếng cười nhẹ nhàng, thú vị, sinh động.
Đồng thời phát triển cho các em về nhiều mặt như trí tuệ, ngôn ngữ, óc hài
hước, lòng nhân hậu,… kích thích các em sự hiếu kỳ, tìm tòi đọc các loại sách
nhiều hơn để cảm nhận cái hay, cái thú vị của cuộc sống thông qua những câu
chuyện vui, truyện cười. Song song với điều đó là phát triển về nhân cách,
đạo đức, hình thành lối sống phù hợp cho học sinh.
1.2. Hiện nay, qua thực tiễn dạy học chúng tôi thấy trong chương trình
sách giáo khoa có số lượng truyện cười được dùng làm ngữ liệu dạy môn
Tiếng Việt còn rất ít, có phần hạn chế, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho các em
trong việc học. Hơn nữa các ngữ liệu truyện cười được đưa vào chương trình
sách giáo khoa cũng chưa khai thác hết tác dụng việc dạy học các phân môn
của môn Tiếng Việt. Trong sách giáo khoa Tiếng Việt, trước hết truyện cười
được dạy như một đối tượng cần tiếp nhận trong các bài học làm giàu vốn từ
và một số bài tập đọc. Vì thế việc tìm hiểu sử dụng truyện cười và điều chỉnh,
bổ sung hệ thống truyện cười để làm ngữ liệu cho việc dạy học Tiếng Việt ở
tiểu học là vấn đề cấp thiết và có tính thực tiễn cao cần được nghiên cứu cụ
thể và áp dụng vào thực tế.
Đã có không ít công trình nghiên cứu về truyện cười, song phần lớn các
công trình này còn dừng lại ở việc sưu tầm, để đọc giải trí, mua vui. Cũng có
một số công trình nghiên cứu truyện cười nhưng ở mức khái quát, hay lại đi
sâu vào nghiên cứu truyện cười được sử dụng chủ yếu trong trường học ở cấp
THCS, còn thiếu nghiên cứu đi sâu vào truyện cười trong dạy học ở Tiểu học

phản diện trong đời sống hằng ngày.
Bên cạnh các thể loại khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, câu đố,
truyện ngụ ngôn, . . . được sử dụng trong dạy học Tiếng Việt Tiểu học, thì thể
loại truyện cười, truyện gây cười, truyện vui được các nhà nghiên cứu ít chú ý
hơn. Những công trình nghiên cứu chủ yếu thường mang tính sưu tầm, tuyển
chọn và biên soạn, phân loại tùy theo mục đích của người biên soạn, Từ
những công trình đã được nghiên cứu về truyện cười, có thể kể ra một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
1/ Công trình nghiên cứu đồng tác giả, Đinh Gia Khánh - Chu Xuân
Diên - Võ Quang Nhơn(2006), Văn học dân gian Việt Nam(tái bản), Nxb
Giáo dục Hoàng Tiến Tựu (1997) đã liệt kê một số truyện cười dân gian khá
thú vị và đưa vào trong tác phẩm để người đọc tiếp cận.
2/ Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân
gian Hoàng Tiến Tựu (1997), tác giả không những liệt kê trình bày một
truyện cười dân gian của nước ta từ xưa đến nay, mà đã đưa ra một số phương
pháp giảng dạy cũng như nghiên cứu văn học dân gian. Giúp cho người đọc
không những tiếp cận được một số tác phẩm truyện cười Việt Nam mà còn
định hướng những phương pháp nghiên cứu truyện cười cho phù hợp với từng
nội dung, mục đích nghiên cứu khác nhau.
3/ Bình giảng truyện dân gian, Vũ NGọc Khánh (1999), Nxb Giáo dục
Hà Nội, tác giả đã nêu bật lên được những ý nghĩa, hàm ý của những yếu tố
gây cười trong truyện cười dân gian. Kinh nghiệm giảng dạy truyện cười từ
những bài giảng mà tác giả đã sưu tầm, tổng hợp và trình bày trong đề tài
nghiên cứu của tác giả.
4/ Bình giảng thơ ca - truyện dân gian, Nxb Giáo dục Nguyễn Xuân
Kính(1999), công trình nghiên cứu không những nêu giá trị của thơ ca mà còn
khẳng định được ý nghĩ của những cốt truyện, trong đó có truyện cười của
dân gian Việt Nam từ xưa tới nay.Tác giả đã tổng hợp những kinh nghiệm
giảng dạy của các thầy cô ở các trường để xây dựng nên công trình nghiên
cứu cho mình. Tác giả đã nêu bật ý nghĩa quan trọng của những cốt truyện

trí một cách linh hoạt, tài đối đáp của Trạng Quỳnh trong các tình huống. Nó
làm nổi bật lên được nụ cười hóm hỉnh, mỉa mai xã hội xưa, các vị quan xưa
thông qua tiếng cười đả kích.
9/Truyện cười dân gian Việt Nam - Truyện tiếu lâm và các Trạng, Chí
Vĩnh(2003), Nxb Thanh Hóa Lữ - Huy Nguyên (2001), tác giả nghiên cứu đã
sưu tầm có hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam, đã phân tích ý nghĩa của
truyện cười và truyện cười tiếu lâm theo nghĩa rộng và hẹp. Tác giả đã nêu
lên được ý nghĩa của truyện cười, những đóng góp của truyện cười trong lý
luận và thực tiễn. Dù vậy nhưng công trình nghiên cứu hầu như chỉ tập trung
vào truyện cười trong văn hóa dân gian Việt Nam ở xã hội trước là chính,
chưa nghiên cứu, sưu tầm những truyện cười trong xã hội hiện nay.
10/ Truyện Tiếu lâm Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Triều Nguyên
(2004), công trình đã tập trung nghiên cứu hệ thống truyện tiếu lâm Việt
Nam, những truyện gây cười và tạo nên tiếng cười thoải mái. Tiếng cười
trong truyện tiếu lâm tập trung vào những câu chuyện hài ước, thú vị, sự
thông minh dí dỏm của các nhân vật.Đóng góp của công trình nghiên cứu là
đã sưu tầm có hệ thống truyện Tiếu lâm, có chọn lọc một cách khoa học thể
loại truyện Tiếu luân từ các công trình nghiên cứu trước.
11/ Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt, Nxb Giáo dục
(2004), công trình nghiên cứu đã nêu bật lên tính nghệ thuật, sự thú vị, ý
nghĩa tiềm ẩn trong nghệ thuật chơi chữ của văn chương người Việt qua các
giai đoạn lịch sử giai đoạn trước. Những câu truyện cười thể hiện được ý
nghĩa đả kích, trí thông minh của người Việt thông qua ngôn ngữ, qua giao
tiếp của văn hóa người xưa.
12/ Trong luận án tiến sĩ “Ngữ liệu văn học dân gian trong dạy học Tiếng
Việt”, tác giả Nguyễn Văn Tứ, Học viên Trường Đại học Sư phạm Hà nội (2012)
đã đề cập một phần về truyện cười nhưng hướng vào cách giảng dạy ở trường
THCS và THPT hơn là tập trung vào tiểu học để nghiên cứu. Trong công trình
nghiên cứu ấy, tác giả đã chú trọng nghiên cứu và làm sáng tỏ giá trị, vai trò của
văn học dân gian trong việc dạy học Tiếng Việt ở THCS và THPT.

Các truyện vui lần đầu tiên được đưa vào dạy học cũng làm nên bộ mặt mới
cho nó, đem đến cho học sinh những tiếng cười nhẹ nhàng, góp phần hình
thành ở các em trí thông minh, óc hài hước và lòng nhân hậu. Việc làm này
chẳng những khiến cho bộ sách trở nên hấp dẫn với các em mà còn giúp học
sinh phát triển về nhiều mặt. Đây cũng là minh chứng cho thấy đội ngũ các nhà
biên soạn đã có sự chú trọng nhiều hơn đến đặc điểm tâm – sinh lí và nhận thức
của đối tượng học sinh tiểu học, đến đặc trưng của bậc học. Tính khoa học, sư
phạm của chương trình, vì thế cũng đã được khẳng định, nâng cao.
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trong việc cung cấp thêm hệ thống
ngữ liệu truyện cười vào trong chương trình dạy học, một số công trình
nghiên cứu trước đó đã từng bước bổ sung vào ngân hàng truyện cười những
cốt truyện với nội dung phù hợp với lứa tuổi, cung cấp thêm những tài liệu
tham khảo rất có giá trị trong thử nghiệm và biên soạn chính thức sách Tiếng
Việt Tiểu học. Các tác giả nghiên cứu đã đi sâu vào chủ thể tiếp nhận truyện
cười, kiến thức đạt được khi các em tiếp nhận truyện cười trong chương trình
môn học so với các chương trình dạy học giai đoạn trước, góp phần làm căn
cứ khoa học và tài liệu tham khảo trong quá trình biên soạn sách Tiếng Việt
Tiểu học. Với công trình nghiên cứu của mình trong giai đoạn hiện nay,
chúng tôi sẽ nghiên cứu để bổ sung thêm vào hệ thống tri thức khoa học trong
việc dạy và học truyện cười Tiếng Việt Tiểu học đối với các em, làm rõ hơn
giá trị của truyện cười và bổ sung có hệ thống một số truyện cười cần thiết
trong việc dạy và học Tiếng Việt Tiểu học khi vấn đề tranh cãi xung quanh đề
án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015
đang được Bộ Giáo dục trình Quốc hội xem xét phê chuẩn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở
thực tiễn của việc sử dụng truyện cười trong dạy học “luyện câu” và “chính
tả” ở Tiểu học. Từ đó xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu để dạy
học tốt hơn phần luyện câu và phân môn chính tả của môn Tiếng Việt ở Tiểu
học trong thời gian tới.

6.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng truyện cười
trong “luyện câu” và “chính tả” của môn Tiếng Việt.
6.2.Công trình nghiên cứu nhằm bổ sung thêm ngữ liệu truyện cười để
phục vụ tốt hơn cho công tác dạy và học luyện câu và chính tả trong môn
Tiếng Việt ở Tiểu học.
7. Các phương pháp sử dụng
Phương pháp đọc, tra cứu tài liệu: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên
quan đến truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Phương pháp thống kê: Thống kê các truyện gây cười trong sách
Tiếng Việt Tiểu học, các công trình nghiên cứu đi trước và nhiều cách đánh
giá, nhận xét.
Phương pháp khảo sát - điều tra: Khảo sát thực trạng về khả năng sử
dụng truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng
phương pháp lôgic học, nhằm giúp tác giả phân tích đúng đắn cả về trình tự
sắp xếp, cách nghiên cứu khoa học và tiết kiệm được thời gian.
8. Đóng góp của luận văn
8.1. Về lí luận
Làm rõ thêm cơ sở lí luận của việc sử dụng truyện cười trong dạy học
“luyện câu” và “chính tả”ở Tiểu học.
Làm rõ thêm cơ sở lí thuyết về ngữ liệu trong dạy học truyện cười.
8.2. Về thực tiễn
Từ những cơ sở lý luận, nhằm bổ sung một số ngữ liệu truyện cười theo mục
tiêu dạy học môn Tiếng Việt Tiểu học, làm tài liệu tham khảo cho giáo viên,
học sinh và những người quan tâm, yêu thích truyện cười. Góp phần giúp
nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả việc dạy - học môn Tiếng Việt nói
chung và phần luyện câu và phần môn chính tả nói riêng.
9. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Sử dụng truyện cười trong dạy học
“luyện câu” và “chính tả” ở Tiểu học”. Đề tài này nghiên cứu nghiêng về cơ

I. Cơ sở lí luận
1. Giới thuyết về truyện cười
1.1. Khái niệm truyện cười
Theo tác giả Đỗ Bình Trị thì“Truyện cười là truyện kể về hiện tượng
buồn cười, thể hiện ở hoạt động của người và vật (bao gồm cả hoạt động nói
năng) nhằm gây cười”, Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn hóa dân
gian, trang 6, Nxb Khoa học - 1999.
“Truyện cười nói một cách đơn giản là những truyện làm cho người ta
cười, có thể là cười mỉm, nhưng thường là cười giòn giã. Có thể là cười một
cách vui vẻ, nhẹ nhàng, nhưng thường cười mà phẫn nộ, khinh ghét”, Giáo
trình Văn học dân gian Việt Nam, trang 13, Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb
Giáo dục – 2001.
“Truyện cười là loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong
cuộc sống, nhằm tạo ra những tiếng cười vui hoặc phê phán những thói hư,
tật xấu trong xã hội”. Sách giáo khoa Ngữ văn 6, trang 15, tập 1, Nguyễn
Khắc Phi chủ biên, Nxb Giáo dục - 2002.
Danh từ “truyện cười” được giới nghiên cứu nước ta dùng làm thuật
ngữ chuyên môn để chỉ tất cả các hình thức truyện kể có tác dụng gây cười và
lấy tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để khen, chê và mua vui, giải trí (như
truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện tiếu lâm,. . . .).
Tóm lại, có thể hiểu truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn cười
trong cuộc sống, nhằm tào ra tiếng cười vui vẻ, cũng có thể là tiếng cười phê
phán của con người.
1.2. Một số đặc trưng cơ bản của truyện cười
a. Nghệ thuật dựng truyện cười
Nói đến đặc trưng của truyện cười trước hết phải nói đến nghệ thuật
dựng truyện. Trong tổ chức cốt truyện, vai trò của tưởng tượng, hư cấu hết
sức quan trọng.
Truyện cười trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học đều chứa đựng yếu
tố tưởng tượng và hư cấu, những đặc điểm đó thường mang tính nhẹ nhàng,

theo cảm nhận của lứa tuổi các em. Tuy những cái đáng cười hầu như có sẵn
trong đời sống xã hội, chỉ cần phát hiện và nêu bật, thể hiện nó nhằm gây
cười, tạo sự thú vị, niềm say mê cho các em. Những truyện cười hấp dẫn và
có giá trị đều là kết quả sáng tạo của người có tài năng,
b. Xây dựng nhân vật trong truyện cười
Nghệ thuật xây dựng truyện gắn liền với nghệ thuật xây dựng nhân vật
trong cốt truyện. Hầu hết các câu truyện thường ngắn và rất ngắn, nhưng dù
ngắn đến mấy thì truyện cười cũng được xây dựng ít nhất hai nhân vật trở lên,
hầu như không có một nhân vật. Trong đó thường có một nhân vật phản diện,
một nhân vật chính diện; một nhân vật đại diện cho điều tốt, một nhân vật đại
diện cho điều xấu Các nhân vật trong truyện thường linh hoạt, nhưng có
một nhân vật thông minh hơn, nhanh nhẹn hơn và thường ứng xử linh hoạt để
tạo ra tiếng cười.
Ví dụ: Truyện Người lái xe đãng trí. Tiếng Việt lớp 5 hay truyện Mua
kính Tiếng Việt lớp 2,…
c. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
Nói chung, ngôn ngữ được sử dụng trong truyện cười rất đơn giản, dễ
đọc, dễ hiểu theo mức độ cảm nhận của học sinh. Nếu có chổ nào tác giả dùng
từ mập mờ, lấp lửng thì đó là dụng ý của tác giả để kích thích sự tư duy, sự
phán đoán, sự tìm hiểu của các em.
Nghệ thuật trong diễn đạt ngôn từ, ngôn ngữ thường mang tính sống
động, các hành động được mô tả trong cốt truyện thường có tính liên tưởng
cho các em học sinh Tiểu học, khi các em tiếp nhận truyện cười, bên cạnh
việc tiếp nhận ngôn từ còn có những suy nghĩ liên tưởng tích cực đến thực tế
cuộc sống trước các tình huống, hành động mà cốt truyện nêu lên. Nghệ thuật
sử dụng ngôn từ diễn đạt thường mang tính sinh động, trừu tượng và giúp cho
mỗi em khi đọc truyện sẽ có liên tưởng đến những họa cảnh sinh động khác
nhau, trong đời sống hằng ngày từ thực tế của đời sống.
1.3. Phân biệt truyện cười, truyện vui với chuyện vui
+ Truyện cười:

đến địa chủ cường hào, thầy đồ (Ví dụ truyện Điều ước của vua Mi – đát,
nội dung cốt truyện mang tính đã kích Vua Mi – đát vì bản tính tham lam, đã
làm vua trị vì một đất nước rồi mà còn mong muốn mọi vật chạm vào đều hóa
thành vàng, và chính nhà vua phải trả giá với lòng tham vô hạn của mình,
cuối cùng đành phải xin thần Đi-ô-ni-đốt lấy lại điều ước đó để trở lại cuộc
sống bình thường).
+ Truyện vui:
Là những truyện có nội dung vui vẻ, tạo hứng thú với người đọc, không
có những tình tiết phê phán hay đã kích mà tập trung, nhấn mạnh đến những
tình huống vui vẻ, hài ước. Nội dung truyện vui kích thích sự vui thú của
người đọc, làm cho người đọc sảng khoái. Nhân vật của truyện vui thường
nhiều, có nhiều tình tiết và họa cảnh, qua đó làm nổi lên những điều thú vị,
vui vẻ. Trong nội dung truyện vui, có thể tập trung nhiều tình huống và hành
động diễn ra theo thời gian dài hơn, có nhiều hành động, tình hướng xẩy ra
xen kẽ hoặc cùng nhau xẩy ra, đem đến niềm vui cho người tiếp cận thông
qua những tình huống, hành động trong truyện.
Truyện vui được người viết ghi chép lại trong những câu chuyện thú vị
hằng ngày hoặc sáng tác ra nó và nó sẽ bất di bất dịch khi các bản thảo của nó
được xuất bản, công bố đến người đọc những cốt truyện thú vị đó.
* Xét về hình thức: Truyện vui thường có nhiều tình tiết hơn truyện cười,
mỗi tình tiết thường tạo cho người đọc sự bất ngờ và thú vị, hấp dẫn. Có
nhiều nhân vật trong cốt truyện cùng tham gia trong xây dựng nhiều tình tiết

Trích đoạn Xõy dựng ngõn hàng truyện cười làm ngữ liệu để dạy quy tắc viết hoa Sử dụng ngõn hàng truyện cười làm ngữ liệu dạy học cỏc tri thức, kĩ năng “luyện cõu” và “chớnh tả”ở Tiểu học Ba chõn bốn cẳng: Chạy rất vội, rất nhanh. Sử dụng tổ hợp bài tập dạy học cỏc tri thức, kĩ năng Tiếng Việt 1 Mục đớch và nhiệm vụ, nội dung, tổ chức thực hiện và đỏnh giỏ Củng cố, dặn dò :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status