BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ MINH HẠNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG
CÂY TRỒNG THÍCH HỢP TẠI THÀNH PHỐ THÁI BÌNH,
TỈNH THÁI BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN ÍCH TÂN HÀ NỘI - 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất kì
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được làm rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
cho tôi trong thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng chân thành cám ơn các phòng ban chức năng tại thành phố Thái
Bình như phòng Trồng trọt, phòng Kinh tế, Thống kê, Tài nguyên và Môi trường…,
Ủy ban nhân dân và các hộ gia đình thuộc các xã, phường tại thành phố Thái Bình
đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, anh chị em, bạn bè,
đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Hạnh Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
2.3.1. Phương pháp chọn điểm 39
2.3.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu 40
2.3.3. Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 40
2.3.4. Tính toán, xử lý số liệu 43
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại thành phố Thái Bình 44
3.1.1. Vị trí địa lý 44
3.1.2. Địa hình. 45
3.1.3. Khí hậu 45
3.1.4. Thổ nhưỡng 46
3.1.5. Thủy văn 47
3.1.6. Điều kiện kinh tế, xã hội 49
3.2. Hiện trạng sử dụng đất tại thành phố Thái Bình 54
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên 54
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 55
3.3. Đánh giá thực trạng hệ thống cây trồng và các biện pháp kỹ thuật canh
tác đang áp dụng tại thành phố 57
3.3.1. Diện tích, sản lượng, năng suất một số cây trồng tại thành phố 57
3.3.2. Hiện trạng sử dụng giống cây trồng tại thành phố 62
3.3.3. Thời vụ gieo trồng 65
3.3.4. Thực trạng hệ thống cây trồng tại thành phố 67
3.3.5. Tình hình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tại thành phố 73
3.3.6. Nông sản hàng hóa và thị trường tiêu thụ nông sản 75
3.4. Kết quả thử nghiệm trồng giống cây trồng mới trong hệ thống cây trồng
dự kiến đề xuất tại thành phố Thái Bình 76
3.4.1. Thời gian sinh trưởng của các giống thử nghiệm 76
3.4.2. Năng suất của các giống thử nghiệm 80
3.4.3. Tình hình sâu bệnh của các giống nghiên cứu 84
3.4.4. Hiệu quả kinh tế trong các thử nghiệm 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
phố Thái Bình năm 2013 64
3.13. Hiện trạng sử dụng các giống rau quả ở thành phố năm 2013 65
3.14 Các công thức trồng trọt chính của thành phố năm 2013 67
3.15 Hiệu quả kinh tế trung bình một số cây trồng trên diện tích 1ha đất
trồng trong thành phố năm 2013 69
3.16 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên 1 ha đất trồng tại
thành phố Thái Bình năm 2013 71
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
3.17 Lượng phân bón trung bình sử dụng trong canh tác tại thành phố năm 2013 73
3.18 Thời gian sinh trưởng của 5 giống rau thử nghiệm 76
3.19 Thời gian gieo trồng của rau vụ đông trong công thức luân canh Dưa
lê xuân hè – lúa mùa – rau đông năm 2014 tại thành phố. 79
3.20 Năng suất su hào chịu nhiệt B40 và bí ngồi TN 220 tại thành phố
năm 2014 80
3.21 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống xà lách san hô
TN 618, suplơ xanh Marathon và ớt ngọt Lam Tinh tại thành phố
Thái Bình năm 2014 81
3.22 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống xà lách san hô
TN 618, suplơ xanh Marathon và ớt ngọt Lam Tinh Đài Loan tại hành
phố Thái Bình năm 2014. 83
3.23 Tình hình sâu bệnh hại trên su hào chịu nhiệt B40 trong vụ hè thu
năm 2014 tại thành phố Thái Bình 84
3.24 Tình hình sâu bệnh trên cây bí ngồi vụ đông năm 2014 tại thành phố
Thái Bình 84
3.25 Tình hình sâu bệnh hại trên cây suplơ xanh vụ đông năm 2014 tại
thành phố Thái Bình 85
3.26 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên 1ha đất trồng tại
thành phố Thái Bình năm 2014. 87
DANH MỤC VIẾT TĂT
DT : Diện tích
ĐC : Đối chứng
ĐVT : Đơn vị tính
GĐ : Giai đoạn
GTNC : Giá trị ngày công
HSĐV : Hệ số đồng vốn
KLTB : Khối lượng trung bình
MBCR : Tỉ suất lợi nhuận biên
Ng.đồng : Nghìn đồng
NN : Nông nghiệp
NS : Năng suất
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
SNC : Số ngày công
SL : Sản lượng
NCLĐ : Ngày công lao động
TB : Trung bình
TGST : Thời gian sinh trưởng
TPTB : Thành phố Thái Bình Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, có truyền thống lâu đời với nghề trồng
trồng mới, đưa những giống cây trồng mới ưu thế hơn vào trong sản xuất, tìm hiểu
khả năng thích ứng của các giống mới này trong địa phận thành phố Thái Bình. Từ
đó giúp phát triển sản phẩm nông nghiệp cho năng suất, chất lượng cao, trước hết là
phục vụ cho chính người dân thành phố, sau là các địa phương lân cận xung quanh.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, để góp phần thực hiện chương trình
phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững của thành phố Thái Bình, việc tiến hành
thực hiện đề tài: " Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng thích hợp
tại thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình" là hết sức cấp thiết.
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được hiện trạng hệ thống cây trồng tại thành phố Thái Bình, tìm ra
điểm mạnh điểm yếu, từ đó đề xuất một số hệ thống cây trồng thích hợp với thành
phố Thái Bình.
* Yêu cầu của đề tài
- Phân tích điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tác động đến hệ
thống cây trồng của thành phố Thái Bình.
- Đánh giá hiện trạng đất nông nghiệp của thành phố Thái Bình.
- Đánh giá hiệu quả của hệ thống cây trồng và các biện pháp kỹ thuật canh
tác đang áp dụng tại thành phố Thái Bình.
- Thử nghiệm một số loại giống cây mới trên địa phận thành phố Thái Bình.
- Đề xuất một số hệ thống cây trồng thích hợp cho thành phố Thái Bình.
3. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung cơ sở khoa học cũng như
phương pháp luận trong nghiên cứu về hệ thống cây trồng.
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả thử nghiệm các công thức trồng trọt mới tại thành phố là cơ sở
thực tiễn cho việc chuyển đổi hệ thống cây trồng theo hướng phù hợp với đặc
điểm đặc thù về điều kiện sinh thái, kinh tế chính trị của thành phố Thái Bình.
Theo Mazoyer (1986), hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức
khai thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sức
sản xuất thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu của một không gian nhất
định, đáp ứng các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Theo Zandstra H.G (1981), hệ thống nông nghiệp là tập hợp trong không
gian sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật, do một xã hội thực hiện để thỏa
mãn các nhu cầu.
HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP
(Nguồn: Zandstra, 1981)
Sơ đồ 1.1: Các thành phần của hệ thống nông nghiệp
Theo Đào Thế Tuấn (1989) hệ thống nông nghiệp thực chất là sự thống nhất
của hai hệ thống: (1) Hệ sinh thái nông nghiệp (Agro - Ecosystems) là bộ phận của
xuất và kỹ thuật do xã hội thực hiện để thoả mãn các nhu cầu. Nó biểu hiện sự tác
động qua lại giữa một hệ thống sinh học - sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại
diện và một hệ thống xã hội - văn hoá, qua các hoạt động xuất phát từ những thành
quả kỹ thuật.
1.1.1.2. Khái niệm hệ thống canh tác (Farming systems)
Thuật ngữ tiếng Anh “Farming systems” ngày nay được sử dụng rất phổ biến
trong nghiên cứu và phát triển sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo Phạm Tiến Dũng, Vũ Đình Tôn (2013), hiện nay có một số khái niệm
về hệ thống canh tác như sau:
Hệ thống canh tác là sự tập hợp các đơn vị chức năng riêng biệt, đó là các
hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, tiếp thị. Các đơn vị đó có mối quan hệ qua lại với
nhau vì cùng dùng chung các nguồn lực nhận từ môi trường. Khái niệm này thường
được dùng với những giới hạn vượt khỏi ranh giới cụ thể của từng nông trại, đã nói
lên những đơn vị nông trại có hình thức tương tự (IRRI, 1980).
Hệ thống canh tác là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành
nghề trong nông trại được quản lý bởi hộ gia đình trong một môi trường tự nhiên,
sinh học, kinh tế, xã hội phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của hộ
(Shanor Philip, 1981).
Theo tác giả Nguyễn Tất Cảnh, Trần Thị Hiền, Nguyễn Xuân Mai (2008), hệ
thống canh tác là một hệ thống độc lập/ổn định của những bố trí sản xuất các hoạt
động sản xuất của nông hộ do người nông dân phải quản lí, trong mối tương tác các
điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội phù hợp với mục đích, nhu cầu và
tiềm năng của nông dân.
Hệ thống canh tác trong nông nghiệp đã phát triển từ rất lâu đời, trải qua rất
nhiều thời kì với những cuộc cách mạng nông nghiệp vượt bậc. Qua mỗi giai đoạn,
mỗi hệ thống canh tác lại bộc lộ những ưu điểm, nhược điểm khác nhau, và từ đó có
thể tồn tại hay đào thải dựa trên nhu cầu của xã hội, của con người.
1.1.1.3. Khái niệm hệ thống trồng trọt và hệ thống cây trồng
Theo Zandstra H.G (1981), hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất cây
địa phương khác nhau, sử dụng được các nguồn lực sẵn có và đảm bảo an toàn sinh
thái với địa phương về lâu dài. Một mô hình muốn nhân rộng và phát triển tốt thì
bắt buộc phải khơi dậy sự hứng thú, nhiệt tình của người nông dân thông qua các
yếu tố về thị trường tiêu thụ, về hiệu quả kinh tế hay mức độ an toàn sinh học cho
cả người sản xuất và người tiêu dùng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
Việc xác định hệ thống cây trồng cần phải dựa trên cơ sở của rất nhiều yếu tố,
trong đó yếu tố hàng đầu là đặc điểm tự nhiên như khí hậu, đất đai, địa hình…, đặc
điểm của quần xã sinh vật tại khu vực trồng trọt và đặc điểm của từng giống cây trồng.
Xây dựng cơ cấu cây trồng cũng cần đảm bảo được hiệu quả về kinh tế, sản xuất được
các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng từ đó
mang lại lợi nhuận cho người trồng đồng thời bảo đảm cân bằng sinh thái. Một hệ
thống canh tác chỉ bền vững khi đạt cả 3 hiệu quả: kinh tế, xã hội, môi trường.
1.1.2.1. Yếu tố khí hậu và đất đai
Yếu tố khí hậu là yếu tố hàng đầu trong việc xác định hệ thống cây trồng.
Khi xây dựng hệ thống cây trồng cần phải dựa trên cơ sở các đặc điểm thời tiết, khi
hậu để bố trí mùa vụ, chọn giống cây trồng phù hợp để hạn chế được tối đa ảnh
hưởng xấu do điều kiện ngoại cảnh gây ra.
- Ảnh hưởng của nhiệt độ tới hệ thống cây trồng
Theo Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chính (1987), cây trồng chỉ
phát triển tốt nhất khi ở điều kiện nhiệt độ thích hợp và chỉ an toàn ở một nhiệt độ
nhất định. Nhiệt độ lại có sự thay đổi theo tháng trong năm…Để bố trí cơ cấu cây
trồng phù hợp với nhiệt độ của cây, viện sĩ nông học Đào Thế Tuấn đã nêu ra: cần
phân biệt cây ưa nóng và cây ưa lạnh và cần nắm được tình hình nhiệt độ các tháng
trong năm, thời gian nóng bố trí cây ưa nóng, thời gian lạnh bố trí cây ưa lạnh. Với
từng loại cây trồng khác nhau, từng giống khác nhau, người trồng cần phải căn cứ
vào đặc điểm nhiệt độ của từng vùng, từng mùa, từng thời kì để bố trí cây trồng
theo mùa vụ cho phù hợp. Cây sẽ đạt năng suất chất lượng cao khi tránh được các
có thể trồng một cây vụ lạnh được hay không. Ngoài ra cần chú ý đảm bảo nhiệt độ
thích hợp cho cây ở giai đoạn cuối (khoảng 45-60ngày). Nếu không có nhiệt độ phù
hợp với đặc tính ưa nhiệt của cây thì quá trình thụ phấn thụ tinh không an toàn, dẫn
đến hiện tượng hoa bị thui, hạt lép, giảm sức sống và năng suất chất lượng giảm.
Biên độ nhiệt ngày đêm và biên độ nhiệt năm cũng là yếu tố quan trọng trong
việc xác định cơ cấu, thời vụ của cây trồng. Biên độ nhiệt ngày đêm cao giúp tăng
năng suất và phẩm chất sản phẩm. Biên độ nhiệt năm ở những vùng có sự sai khác
sẽ là cơ hội đa dạng hóa cây trồng giữa các vùng và mùa trong năm.
Như vậy có thể khẳng định, nhiệt độ chính là yếu tố hàng đầu quyết định cơ
cấu cây trồng của từng vùng miền.
- Ánh sáng và hệ thống cây trồng
Ánh sáng là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát
triển và cho năng suất của cây trồng. Đồng thời nó cũng là cơ sở để xác định cơ
cấu giống, xác định thời vụ gieo trồng để có thể đạt năng suất, phẩm chất sản
phẩm tốt nhất.
Độ dài ngày ở một vùng ảnh hưởng đến việc đưa những giống cây trồng có
phản ứng quang chu kì vào hệ thống cây trồng. Dựa vào thời gian chiếu sáng trong
ngày người ta chia thành cây ngày ngắn, cây ngày dài và cây trung tính. Nhóm cây
ngày ngắn là những cây chỉ ra hoa khi có thời gian chiếu sáng trong ngày nhỏ hơn
thời gian chiếu sáng tới hạn như lúa, kê, đay, đậu tương…Nhóm cây dài ngày là
những cây chỉ ra hoa khi có độ dài chiếu sáng lớn hơn độ dài chiếu sáng tới hạn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
Nhóm cây trung tính là những cây ra hoa không phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng
mà chỉ cần đạt được một mức độ sinh trưởng nhất định như cà chua, đậu Hà Lan.
Dựa trên cơ sở độ dài ngày, khi bố trí cây trồng hợp lý chúng ta cần quan tâm đến
nhu cầu ánh sáng của từng loại cây cho phù hợp.
Cường độ ánh sáng cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp.
Dựa vào yêu cầu về cường độ ánh sáng với quang hợp mà người ta chia ra thành các
- Độ ẩm không khí và hệ thống cây trồng
Độ ẩm không khí có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển và năng suất
cây trồng. Độ ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp đều hạn chế sự phát triển bình
thường của cây, làm giảm năng suất, chất lượng của nông sản.
Để sắp xếp cơ cấu cây trồng hợp lý, chúng ta cần nắm được tình hình diễn
biến độ ẩm các tháng trong năm của từng vùng, nắm được đặc điểm thích ứng với
độ ẩm của từng loại cây trồng. Ví dụ như cây khoai tây, cà chua, tỏi, đậu tương
thích ứng với độ ẩm không khí thấp. Cây su hào, rau diếp, rau cải…là những cây ăn
lá nhu cầu lượng nước lớn mà rễ cây lại không khỏe nên lại thích ứng với điều kiện
độ ẩm không khí cao. Từ đó, cần bố trí hệ thống cây trồng phù hợp với điều kiện độ
ẩm nhằm tạo tiềm năng về năng suất, chất lượng cao hơn.
- Đất đai và hệ thống cây trồng:
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho sự phát triển của cây
trồng. Do hậu quả của nạn phá rừng cùng sự biến đổi về khí hậu như mưa bão, lũ
lụt, hạn hán , nhiều vùng đất trước kia đã từng rất màu mỡ, phì nhiêu phải chịu ảnh
hưởng của hiện tượng xói mòn, rửa trôi xảy ra mạnh từ đó làm ảnh hưởng rất lớn
đến tính chất đất, từ đó cũng làm biến đổi hệ thống cây trồng.
Cũng như yếu tố khí hậu, mỗi vùng miền có những đặc trưng riêng về đặc
điểm đất. Để xây dựng hệ thống cây trồng thích hợp, chúng ta cần nắm vững được
các chỉ tiêu yêu cầu của cây với đất, nắm được đặc điểm địa hình, thành phần cơ
giới, chế độ nước của đất, độ dày tầng canh tác đất hay độ chua mặn, độ phì của đất
ở từng vùng sinh thái. Từ việc nắm rõ mối quan hệ giữa cây trồng và các đặc điểm
của đất thì mới xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý.
+ Địa hình
Địa hình là yếu tố quan trọng chi phối nhiều yếu tố khác như nhiệt độ, độ
ẩm, độ phì, chế độ nước Dựa vào địa hình người ta chia thành hai nhóm chính là
đất dốc và đất bằng. Với nhóm đất dốc, việc sử dụng đất để trồng các loại cây nào
còn tùy thuộc vào các yếu tố khác như: mưa gây xói mòn, tính chất đất và nhất là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
- Chế độ nước của đất
Chế độ nước của đất phụ thuộc vào độ cao tương đối, chế độ thủy văn và khả
năng tưới tiêu của vùng đồng thời phụ thuộc vào thành phần cơ giới của đất. Về mùa
mưa, những vùng thấp thường có lớp nước cao hơn các vùng đất cao, dễ bị ngập úng.
Về mùa khô, mưa ít, bốc hơi nước nhiều thì những vùng đất cao thường thiếu nước
nghiêm trọng. Đất bị ngập úng hay hạn lâu ngày đều ảnh hưởng đến sinh trưởng phát
triển của cây. Do đó cần bố trí cây trồng theo nguyên tắc: đất ngập nước bố trí cây
trồng nước, đất ẩm bố trí cây trồng cạn, đất ít ẩm bố trí cây trồng chịu hạn.
+ Độ chua mặn
Do hậu quả của việc bón nhiều phân hóa học, độ chua của đất ngày càng gia
tăng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của cây trồng. Các cây trồng khác
nhau có khả năng thích ứng với các độ chua khác nhau của đất. Có những cây ưa độ
chua như chè, có những cây không chịu được độ chua như lạc, đậu tương Độ chua
không phù hợp sẽ ức chế khả năng hút dinh dưỡng của đất, hệ vi sinh vật đất không
phát triển được.
Một số các vùng ven biển thường bị mặn do ảnh hưởng của nước biển. Ngoài
ra, việc bón nhiều phân hóa học, thực chất các phân hóa học này chính là các muối, làm
tăng nguy cơ nhiềm mặn của đất. Ngoài ra việc nông dân ở nhiều vùng đưa nước mặn
vào sâu trong đất liền để nuôi hải sản cũng làm tỉ lệ đất nhiễm mặn tăng cao.
Dựa vào độ chua hay độ mặn của đất, khi xây dựng hệ thống cây trồng cần
bố trí các loại cây trồng thích hợp. Một số giống có khả năng chịu chua mặn cao
như cói, sú vẹt hay các giống lúa mang gen chịu mặn Với những vùng đất chua
mặn, độ phì thấp thì việc đưa lúa vào cơ cấu cây trồng có ý nghĩa rất lớn trong việc
cải tạo độ mặn của đất, tăng tích lũy lớp mùn đất.
- Độ phì của đất
Độ phì của đất thể hiện hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất. Độ phì là
nhân tố chủ yếu sẽ quyết định năng suất cây trồng. Cây được trồng ở nơi có độ phì
cao thường cho năng suất chất lượng cao hơn. Tuy nhiên, độ phì là yếu tố có thể cải
thiện được dựa vào chế độ bón phân hay xây dựng các công thức luân canh, xen
canh cây trồng theo hướng bổ sung cho nhau.
- Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của giống phụ thuộc vào giống, môi trường. Không
phải năng suất bao giờ cũng tỉ lệ với thời gian sinh trưởng. Giống dài ngày và giống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
ngắn ngày có thời gian sinh trưởng khác nhau chủ yếu là ở giai đoạn sinh trưởng
sinh dưỡng. Giai đoạn tập trung cho năng suất của cả cây ngắn ngày và dài ngày
đều thường tập trung vào thời kì cuối của cây trồng. Trồng giống dài ngày thì số vụ
trong năm ít. Do đó xu hướng hiện nay là sử dụng các giống ngắn ngày với năng
suất cao, trồng được nhiều vụ trong năm, đa dạng hóa được cây trồng bằng các công
thức luân canh khác nhau. Giống ngắn ngày cũng giúp bố trí thời vụ thuận lợi hơn,
tránh được những tác nhân bất lợi của thời tiết.
- Yêu cầu của cây với điều kiện ngoại cảnh và khả năng chống chịu với các yếu
tố bất lợi.
Các yếu tố bất lợi bao gồm:
+ Yếu tố khí hậu bất lợi: Nhiệt độ quá cao, quá thấp, cường độ ánh sang…
+ Yếu tố đất bất lợi: úng, hạn, chua, mặn…
+ Yếu tố sâu bệnh hại: sâu hại, bệnh do nấm, vi khuẩn, virus.
Dựa trên yêu cầu của từng loại cây với điều kiện ngoại cảnh và khả năng
chống, chịu với điều kiện bất lợi mà bố trí cơ cấu cây trồng cho phù hợp. Khi cây
sống ở vùng có những yếu tố ngoại cảnh không thuận lợi, vượt quá ngưỡng chống
chịu thì năng suất rất thấp, thậm chí cây không thể sinh trưởng được. Việc xây dựng
cơ cấu mùa vụ dựa trên đặc điểm của cây, yêu cầu của cây sẽ giúp cây sống khỏe,
năng suất cao, giảm thiểu dùng thuốc bảo vệ thực vật.
1.1.2.3. Hình thức gieo trồng và cơ cấu cây trồng
- Hình thức gieo trồng trực tiếp
Đây là hình thức áp dụng ở những nơi, thời điểm đủ thời gian cho sinh
trưởng và phát triển của một vụ cây trồng. Các giống ngắn ngày, sinh trưởng nhanh,
khi bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ theo nguyên tắc:
- Lợi dụng được mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng
- Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống tác hại đối với cây trồng do các
vi sinh vật gây nên
Quan hệ tốt như quan hệ giữa cây họ đậu với vi sinh vật cộng sinh cố định
đạm. Quan hệ có hại biểu thị ở sự ký sinh và ăn nhau. Ví dụ như các loài sâu và vi
sinh vật gây hại lá, thân, củ quả…phát triển thành dịch, phá hoại mùa màng.
Do đó khi xác định cơ cấu cây trồng cần lựa chọn những giống, loài thích
hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng. Dịch sâu bệnh phát triển theo mùa, theo lứa
và chỉ gây hại mạnh ở một số giai đoạn sinh trưởng nhất định. Vì vậy cần xác định