xác định mật độ, lượng đạm bón phù hợp và khả năng kháng bệnh bạc lá của giống lúa tbr225 tại thái bình - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THOA
XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ, LƯỢNG ĐẠM BÓN PHÙ HỢP
VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH BẠC LÁ
CỦA GIỐNG LÚA TBR225 TẠI THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

HÀ NỘI – 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

- Tác giả xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tác giả xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Thái Bình, ngày 12 tháng 6 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thoa Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii


Mục lục iii
Da nh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1. Mục đích 2
2.2. Yêu cầu của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 3
1.1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 5
1.1.3. Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất lúa gạo ở Thái Bình 7
1.2. Vai trò của phân đạm và những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa 9
1.2.1. Vai trò của phân đạm đối với cây lúa 9
1.2.2. Những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa 11
1.3. Những kết quả nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy 16
1.3.1. Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy 16
1.3.2. Những kết quả nghiên cứu về số dảnh cấy 19
1.4. Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón
cho lúa 20
1.5. Tổng quan về bệnh bạc lá lúa (Xanthomonas oryzae. pv.oryzae) 22
Chương 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Vật liêu, thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
2.1.1. Vật liệu nghiên cứu 26
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

54
3.1.8. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến năng suất sinh vật
học và hệ số kinh tế của giống lúa TBR225
61
3.2. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế của giống
lúa TBR225 64
3.3. Khả năng kháng bệnh bạc lá của giống lúa TBR225 bằng lây nhiễm nhân tạo 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1. Kết luận 68
2. Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Năng suất kinh tế NSKT
Năng suất sinh vật hoc NSSVH
Hệ số kinh tế HSKT
Năng suất lý thuyết NSLT
Năng suất thực thu NSTT
Thời gian sinh trưởng TGST
Chiều cao cây CCC
Tích lũy chất khô TLCK
Khối lượng chất khô KLCK
khô và tốc độ tích lũy chất khô vụ mùa 2014 50
3.6a. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống chịu sâu
bệnh hại vụ Xuân năm 2014 53
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

3.6b. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống chịu sâu
bệnh hại vụ Mùa năm 2014 54
3.7a. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất giống lúa TRB225 trong vụ Xuân 2014 56
3.7b. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống TBR225 vụ Mùa 2014 60
3.8a. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến năng suất sinh vật học và
hệ số kinh tế của giống TBR225 vụ Xuân 2014 62
3.8b. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến năng suất sinh vật học và
hệ số kinh tế của giống TBR225 vụ Mùa2014 63
3.9a. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế của giống lúa
TBR225 trong vụ Xuân 2014 64
3.9b. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế của giống
lúa TBR225 trong vụ Mùa 2014 65
3.10. Phản ứng của giống TBR225 với bệnh bạc lá trong điều kiện nhân tạo vụ
Mùa 2014 67
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

định mật độ, lượng đạm bón phù hợp và khả năng kháng bệnh bạc lá của giống
lúa TBR225 tại Thái Bình” nhằm đáp ứng nhu cầu tăng năng suất và sản lượng lúa
gạo trên địa bàn tỉnh.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Xác định được mật độ, lượng đạm bón phù hợp và khả năng kháng bệnh bạc lá
nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho giống lúa TBR225 tại Thái Bình.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các chỉ tiêu sinh
trưởng phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống lúa TBR225 vụ Xuân và
Vụ Mùa 2014 tại Thái Bình.
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất, năng suất, chất lượng và hệ số kinh tế của giống lúa TBR225 vụ Xuân và
vụ Mùa 2014 tại Thái Bình.
- Đánh giá khả năng kháng bệnh bạc lá của giống TBR225 ở vụ Mùa năm
2014 tại Thái Bình.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo góp phần
định hướng cho việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng như đề xuất
xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cho giống lúa TBR225.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tích cực trong việc chỉ đạo, hướng dẫn
sản xuất nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế cũng như mở rộng sản xuất giống
lúa TBR225 vụ Xuân 2014 tại Thái Bình.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

đóng góp rất quan trọng cho sản lượng lúa trên thế giới (trên 90%). Các quốc gia dẫn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

đầu về sản lượng lúa theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt
Nam, Thái Lan và Myanmar, tất cả đều nằm ở Châu Á. Như vậy, có thể nói Châu Á
là vựa lúa quan trọng nhất thế giới. Trong 10 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới,
Trung Quốc, Việt Nam, Indonexia là những nước có năng suất lúa cao đạt 5,1 đến 6,7
tấn/ha (FAOSTAT.FAO - 2013).
Bảng 1.1. Sản xuất lúa gạo của thế giới từ năm 2006 – 2012
Chỉ tiêu

Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2006
155,850 4,12 641,21
2007
155,039 4,24 656,98
2008
159,999 4,30 688,41
2009
158,294 4,33 684,81
2010
161,666 4,34 701,05
2011

(triệu tấn)
Ấn Độ 42,500 3,590 152,600
Trung Quốc 30,297 6,743 204,285
Inđônêxia 13,443 5,136 69,045
Thái Lan 12,600 3,000 37,800
Banglades 11,700 2,923 34,200
Myanmar 8,150 4,049 33,000
Việt Nam 7,753 5,631 43,661
Philippin 4,689 3,845 18,032
Cambodia 3,100 3,000 9,300
Pakistan 2,700 3,482 9,400
Toàn cầu 163,463 4,39 718,456
Nguồn: FAOSTAT.FAO - 2013
Hiện nay Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ cũng là những quốc gia xuất khẩu
gạo lớn nhất thế giới. Đặc biệt, năm 2012 sản lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ đạt
9,5 triệu tấn, vượt Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới (Phúc
Duy, 2013).
Tuy nhiên theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD),
Thái Lan sẽ sớm giành lại và duy trì được danh hiệu nước xuất khẩu gạo lớn nhất
thế giới trong vòng ít nhất 10 năm tới.
1.1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa,
nóng ẩm. Đã từ lâu, cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan
trọng trong nền kinh tế và xã hội của nước ta. Với địa bàn trải dài trên 15
0
vĩ độ
Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa
phì nhiêu, màu mỡ không những cung cấp đủ nguồn lương thực cho gần 90 triệu
dân mà còn xuất khẩu đứng thứ hai sau Thái Lan. Vì thế Việt Nam được coi là cái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

2008
7.400,2 5,23 38,73
2009
7.437,2 5,24 38,95
2010
7.489,4 5,34 40,01
2011
7.655,4 5,54 42,40
2012
7.753,2 5,63 43,66
Nguồn: Tổng cục thống kê - 2015

Qua bảng số liệu trên cho thấy từ năm 2005 đến năm 2007 sản lượng lúa của
nước ta ở mức ổn định xấp xỉ 36 triệu tấn. Đến năm 2012 diện tích sản xuất lúa của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

cả nước đạt khoảng 7,75 triệu ha, tăng 110 nghìn ha so với năm 2011; năng suất
cũng đạt trên 5,6 tấn/ha, nâng sản lượng lúa nước ta lên trên 43 triệu tấn/năm. Đặc
biệt, xuất khẩu gạo đạt sản lượng cao nhất từ trước tới nay với hơn 7,7 triệu tấn gạo,
tăng 630 nghìn tấn so với năm 2011. Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT: việc sản
xuất lúa của các địa phương đã tập trung và có bước đột phá mạnh mẽ trong khâu tổ
chức sản xuất, nhất là chú trọng việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn.
Năm 2007 Việt Nam đã chính thức hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, nhưng
người nông dân sản xuất lúa gạo đã tham gia vào thị trường toàn cầu từ hai thập
niên trước. Từ năm 1989, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia cung cấp
gạo quan trọng trên thị trường gạo thế giới. Trong giai đoạn từ 1989-1995, Việt
Nam xuất khẩu bình quân hàng năm trên 3 triệu tấn sang 128 quốc gia, đạt mức
đỉnh 5,2 triệu tấn vào năm 2005 và từ 2006 đến nay đạt kỷ lục mới trên 7 triệu tấn
gạo xuất khẩu. Đến tháng 8 năm 2013 Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) cho

dụng mạnh mẽ, có hiệu quả các tiến bộ khoa học, công nghệ ở tất cả các khâu của
quá trình sản xuất lúa gạo. Đặc biệt, có một số giống lúa được chọn lọc, nhân giống
tại Thái Bình như: CNR36, TBR1, BC15, TBR36, TBR45 Thái Xuyên 111 đã được
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống Quốc gia.
Cùng với đó, tỉnh đã đẩy mạnh việc ứng dụng nhanh chóng, có hiệu quả các
quy trình quản lý cây trồng tổng hợp (ICM), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quy
trình gieo thẳng bằng công cụ xạ hàng cải tiến, quy trình sản xuất lúa sạch, các loại
phân NPK chuyên dùng và phân sinh học,…Nhờ đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ, bước đầu tỉnh đã hình thành những vùng sản xuất tập trung với
quy mô vài chục đến hàng trăm ha có hiệu quả kinh tế cao, giá trị thu hoạch lúa đạt
80 – 90 triệu đồng/ha/năm.
Chính vị vậy, những năm qua dù gặp rất nhiều khó khăn, thách thức do thiên
tai, dịch bệnh và diện tích đất lúa giảm nhưng năng suất lúa của tỉnh luôn đạt từ 125
– 130 tạ/ha/năm, tổng sản lượng lúa đạt ổn định trên một triệu tấn/năm, góp phần
quan trọng bảo đảm an ninh lương thực cho cả vùng và quốc gia. Hằng năm Thái
Bình dư thừa khoảng 400 nghìn tấn lúa phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu. Tổng
giá trị sản xuất lúa của tỉnh chiếm tỷ trọng khoảng 7% GDP của tỉnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

Bảng 1.4. Tình hình sản xuất lúa ở Thái Bình trong những năm gần đây
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn/ha)
2007 168,3 61,54 1,014,750
2008 167,1 65,67 1,105,231
2009 167,1 66,15 1,105,806
2010 166,4 66,37 1,104,436
2011 165,7 65,86 1,091,326

kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62% (Nguyễn Văn Bộ, 2003).
Từ kết quả nghiên cứu của mình tác giả Nguyễn Như Hà (2006) khẳng định,
đạm có vai trò quan trọng trong phát triển bộ rễ, thân, lá, chiều cao và đẻ nhánh của
cây lúa. Tuy nhiên theo Sarker (2002), lượng đạm càng cao thì lúa đẻ nhánh càng
nhiều nhưng lụi đi cũng nhiều. Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa vừa
đẻ nhánh nhanh lại tập trung, tạo được nhiều dảnh hữu hiệu, là yếu tố cấu thành
năng suất có vai trò quan trọng nhất đối với lúa.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và Đỗ Thị Hường (2009) khi xác
định liều lượng đạm viên nén bón cho lúa tẻ thuần chất lượng cao N46 cũng chỉ ra
rằng khi tăng lượng đạm bón từ 0 - 120 kg N/ha thì chiều cao cây, tổng số nhánh, số
nhánh hữu hiệu/khóm, chỉ số diện tích lá (LAI) giai đoạn đẻ nhánh rộ và trước trỗ
cũng tăng. Bên cạnh đó đạm ảnh hưởng đến quang hợp thông qua hàm lượng diệp
lục có trong lá, nếu bón lượng đạm cao thì cường độ quang hợp ít bị ảnh hưởng mặc
dù điều kiện ánh sáng yếu.
Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994), khi tăng lượng đạm cường độ quang hợp,
cường độ hô hấp và hàm lượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp độ quang hợp, hô
hấp không khác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô
hấp gấp 10 lần do vậy làm tăng tích luỹ chất khô của cây.
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Cường và cs. (2005), khi nghiên cứu ảnh
hưởng của liều lượng đạm đến năng suất chất khô ở các giai đoạn sinh trưởng và
năng suất hạt của một số giống lúa lai và lúa thuần cho thấy khi tăng lượng đạm bón
từ 0 đến 120 kg N/ha thì chỉ số diện tích lá (LAI), trọng lượng chất khô (DM) và tốc
độ tích luỹ chất khô của lúa lai (Việt lai 20, Bắc Ưu 903) và lúa thuần (CR 203) đều
tăng, song tốc độ tích lũy chất khô của hai giống lúa lai vượt trội so với giống lúa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

thuần khi tăng mức bón đạm từ 60-180 kg N/ha.
Bên cạnh vai trò làm tăng tích lũy chất khô, đạm có tác dụng làm tăng số hoa
phân hoá, tăng số hạt trên bông, cùng với kali xúc tiến các sản phẩm tích luỹ trong

Page 12

kg N trung bình cần 20,5 kg. Thông thường các giống có tiềm năng năng suất cao
bao giờ cũng cần một lượng đạm cao.
Ở các nước nhiệt đới, lượng các chất dinh dưỡng (N,P,K) cần để tạo ra 1 tấn
thóc trung bình là: 20,5 kg N: 5,1 kg P
2
O
5
: 44 kg K
2
O. Trên nền phối hợp 90 P
2
O
5
-
60 K
2
O hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức phân bón từ 40 -
120 kg N/ha (theo Yoshida,1985).
Kết quả tổng kết của Mai Văn Quyền (2002) trên 60 thí nhiệm thực tiễn ở 40
nước có khí hậu khác nhau cho thấy: Nếu đạt năng suất lúa 3 tấn thóc/ha, thì cây lúa
lấy đi hết 50kg đạm, 260kg lân, 80kg kali, 10kg CaO, 6kg Mg, 5kg S và nếu ruộng
lúa đạt năng suất đến 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100kg đạm,
50kg lân, 160kg kali, 19kg CaO, 12kg Mg, 10kg S. Trung bình cứ tạo 1 tấn thóc cây
lúa lấy đi hết 17kg đạm, 8kg lân, 27kg kali, 3kg CaO, 2kg Mg và 1,7kg S (Mai Văn
Quyền, 2002). Nguyễn Văn Bộ và cs (2003) chỉ ra rằng, trung bình 1 tấn thóc kèm
cả rơm rạ cây lấy đi lượng dinh dưỡng từ đất là: 22,2 kg N; 7,1 kg P
2
O

2
O làm nền thì khi có bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ 15% - 48,5%
trong vụ Đông xuân và vụ Hè thu tăng từ 8,5% - 35,6%. Hướng chung của hai vụ
đều bón đến mức 90 kg N/ha có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90 kg N/ha năng
suất lúa tăng không đáng kể.
Trên đất phù sa sông Hồng, theo Quách Ngọc Ân (1995), bón 180 kg N/ha
trong vụ Xuân và 150 kg N/ha trong vụ Mùa vẫn chưa thấy lúa lai giảm năng suất
trong khi lúa thường chỉ bón 90 - 110 kg N/ha, quá ngưỡng này năng suất có chiều
hướng giảm.
Tuy nhiên theo Nguyễn Như Hà (1999), với trình độ thâm canh như hiện nay
thì lượng phân đạm bón tối thích cho lúa là 120 kg N/ha. Kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Văn Duy (2009) trên giống lúa Xi23 trong vụ Xuân
năm 2008 tại Thạch Hà - Hà Tĩnh cũng cho thấy lượng đạm 120 Kg N/ha phối hợp
với 80-100 kg K
2
O/ha cho hiệu quả kinh tế của lúa đạt cao nhất.
Đối với lúa cạn, khi nghiên cứu về bón phân đạm, Nguyễn Thị Lẫm (1994)
đã kết luận: Liều lượng đạm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa phương
là 60 kg N/ha. Đối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì lượng đạm
thích hợp từ 90 - 120kg N/ha.
Đối với giống lúa chịu hạn CH
5,
theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như Hà
(2006), tại Bắc Quang - Hà Giang
,
lượng phân đạm thích hợp cho lúa CH
5
sinh
trưởng tốt và cho năng suất cao cũng từ 90- 120 kg N/ha, tùy thuộc vào mật độ cấy.
Đối với lúa, nhu cầu đạm có tính chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho

rằng, cây lúa cũng cần nhiều đạm trong thời kỳ phân hoá đòng và phát triển đòng
thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản. Thời kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng
như số hạt/bông, khối lượng nghìn hạt (P1000). Pham Van Cuong (2003) cũng nhấn
mạnh thêm về vấn đề này đó là: Việc cung cấp đạm lúc cây trưởng thành là điều
kiện cần thiết để làm chậm quá trình già hoá của lá, duy trì cường độ quang hợp khi
hình thành hạt chắc và tăng Protein tích luỹ vào hạt.
Về hiệu suất bón đạm:
Hiệu suất bón đạm được tính theo công thức sau:
Ef = Kth * Ku
Trong đó: Ef : Hiệu suất bón đạm
Kth: Tỷ lệ đạm thu hồi. Nó được tính bằng tỷ số giữa lượng đạm cây hút
được và lượng đạm bón vào đất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

Ku: Hiệu suất sử dụng đạm. Được tính bằng số kg thóc được tạo ra do 1kg
đạm cây hút được.
Theo Nguyễn Tất Cảnh (2005), đối với đạm bón theo kiểu truyền thống hiệu
quả rất thấp cây chỉ sử dụng được khoảng 30 – 40% lượng phân bón.
Ở vùng nhiệt đới, theo Yoshida (1981), hiệu suất sử dụng đạm đối với sản
lượng hạt vào khoảng 50 kg thóc khô/1kg đạm cây hút được. Ở Nhật khoảng 62 kg,
còn ở các nước ôn đới hiệu suất này cao hơn khoảng 20%. Như vậy ở vùng nhiệt
đới, hiệu suất bón đạm đạt khoảng 15-20 kg thóc khô/1kg đạm bón vào đất.
Theo Trần Thúc Sơn (1996), trên đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất 1 kg N
là 10 – 15 kg thóc ở vụ Xuân và 6 – 9 kg thóc vụ Mùa. Nếu bón trên 160 kg N/ha
thì hiệu suất của phân đạm giảm rõ rệt.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cộng sự (2007), khi xác
định lượng đạm bón vãi cho dòng lúa thuần N18 tại Phúc Thọ - Hà Tây vụ mùa năm
2005, nhóm tác giả nhận thấy hiệu suất bón đạm đạt cao nhất là 9,2 kg thóc/1 kg N
khi bón 100 kg N/ha trên nền 5 tấn phân chuồng + 90 kg P

hơn so với các yếu tố còn lại.
Tác động kỹ thuật làm tăng số bông tới mức tối đa là vô cùng quan trọng
trong thâm canh lúa. Tuy nhiên nếu cấy quá dày hoặc quá nhiều dảnh trên khóm thì
bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng là năng suất giảm. Vì
vậy muốn đạt năng suất cao người sản xuất phải điều khiển cho quần thể ruộng lúa
có số bông tối ưu mà vẫn không làm cho bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt
trên bông không thay đổi. Các giống lúa khác nhau có khả năng cho số bông tối ưu
trên một đơn vị diện tích khác nhau, việc xác định số bông cần đạt trên một đơn vị
diện tích quyết định mật độ gieo cấy, khảng cách cấy và số dảnh cơ bản khi cấy.
Căn cứ vào tiềm năng cho năng suất của giống, tiềm năng đất đai, khả năng
thâm canh của người sản xuất và vụ gieo cấy trong năm để dịnh ra số bông cần đạt
một cách hợp lý. Những yếu tố quyết định số bông bao gồm: mật độ cấy và số dảnh
cấy/khóm.
1.3.1. Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy
Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích. Với
lúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/m
2
, còn với lúa gieo thẳng thì mật độ được
tính bằng số hạt mọc/m
2
(Nguyễn Văn Hoan, 2003). Quan hệ giữa mật độ và năng
suất cây lấy hạt là quan hệ parabol, tức là mật độ lúc đầu tăng thì năng suất tăng
nhưng nếu tiếp tục tăng thì năng suất lại giảm.
Điều chỉnh mật độ có thể làm tăng năng suất do khi điều chỉnh mật độ có thể
làm tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích lá thích hợp cho
cá thể và quần thể ruộng lúa, tăng khả năng quang hợp của cá thể và quần thể ruộng
lúa, cũng như tăng khả năng chống chịu sâu bệnh…Bên cạnh đó, mật độ cấy liên
quan chặt chẽ đến quá trình đẻ nhánh, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành
số bông – yếu tố quan trọng cấu thành năng suất lúa (Nguyễn Ích Tân và cs.,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status