TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ DIỆP TUYỀN
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY HOẠT ĐỘNG
LÊN LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
GÒ ĐÀNG VĨNH LONG
Ngành Tài chính doanh nghiệp
Mã số ngành: 52340201
Tháng 12-Năm 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
3
LỜI CẢM TẠ
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô khoa Kinh tế và Quản
trị kinh doanh, trường Đại học CầnThơ. Đặc biệt là quý thầy cô bộ môn Tài
chính – Ngân hàng, những người đã truyền thụ kiến thức chuyên ngành quý
báu cho em trong suốt thời gian theo học tại trường Đại học Cần Thơ. Em xin
cảm ơn quý Thầy Cô tham gia trong hội đồng phản biện đã dành thời gian đọc
và đóng góp ý kiến cho bài luận văn của em, đặc biệt em xin chân thành cảm
ơn Thầy Nguyễn Tuấn Kiệt và Cô Hồ Hữu Phương Chi, đã tận tình giúp đỡ
cung cấp ý kiến và trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình thực hiện luận văn
này.
Em xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Công ty TNHH MTV Gò
Đàng Vĩnh Long, các Anh Chị phòng Kế toán, phòng Hành chính, phòng Kế
hoạch và Phòng sản xuất đã tạo điều kiện cho em có cơ hội được tiếp xúc thực
tế và tận tình giúp đỡ em thực hiện tốt việc nghiên cứu đề tài này. Em xinh
kính chúc Quý doanh nghiệp gặt hái nhiều thắng lợi lớn hơn nữa trong thời
gian tới.
Mặc dù đã thực sự cố gắng nhưng sự hiểu biết và kinh nghiệm của em vẫn
còn có những hạn chế nhất định, nên chắc chắn bài báo cáo của em không thể
tránh khỏi những sai xót. Mong được sự đánh giá và góp ý quý báu của thầy
cô và cô chú, anh chị trong Công ty để bài luận văn của em được hoàn thiện
hơn. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn tất cả và kính chúc quý Thầy Cô,
Ban Giám đốc và toàn thể nhân viên Công ty TNHH MTV Gò Đàng Vĩnh
Long dồi dào sức khỏe và thành công.
Cần Thơ, ngày… tháng….năm…
Sinh viên thực hiện
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU……………………………………………… 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………………………………………… 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian 2
1.3.2 Thời gian 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2: cƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU…………………………………………………………………… 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1 Khái niệm đòn bẩy hoạt động 5
2.1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan 5
2.1.3 Cách tính chi phí đối với đòn bẩy hoạt động 8
2.1.4 Đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động 8
2.1.5 Yếu tố tác động đòn bẩy hoạt động 9
2.1.5 Yếu tố tác động đòn bẩy hoạt động 9
2.1.6 Đánh giá rủi ro kinh doanh thông qua việc phân tích hòa vốn 10
2.1.7 Phương thức đo lường rủi ro 14
2.1.8 Quan hệ giữa độ bẩy hoạt động và rủi ro doanh nghiệp 15
2.1.9 Ý nghĩa của độ bẩy hoạt động đối với quản trị tài chính 15
2.1.10 Khái niệm về độ bẩy tài chính, đòn bẩy tổng hợp 16
2.1.11 Thực trạng của ngành chế biến thức ăn thủy sản tại Việt Nam giai
đoạn hiện nay 17
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu 19
4.1.2 Đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành 33
4.1.3 Phương pháp tính giá thành 34
4.2 PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM 39 7
4.4 ĐỘ NGHIÊNG CỦA ĐÒN BẨY HOẠT ĐỘNG (DOL). TÁC ĐỘNG
CỦA ĐÒN BẨY KINH DOANH LÊN LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA
CÔNG TY 40
4.5 ĐO LƯỜNG TÁC ĐỘNG CỦA DOL LÊN LỢI NHUẬN 43
4.6 KẾT CẤU CHI PHÍ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐÒN BẨY HOẠT
ĐỘNG…………… 45
4.7. PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY HOẠT ĐỘNG LÊN RỦI
RO CỦA CÔNG TY 50
4.7.1 Đo lường mức độ rủi ro và dự đoán sự thay đổi lợi nhuận hoạt động
của công ty năm 2013 50
4.7.2 Phân tích tác động của đòn bẩy tổng hợp lên rủi ro của công
ty………………… 52
4.8 Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA ĐÒN BẨY HOẠT ĐỘNG 54
4.9 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY QUA CÁC
TỈ SỐ LỢI NHUẬN 55
CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHUẾCH ĐẠI TÁC ĐỘNG
CỦA ĐÒN BẨY LÊN LỢI NHUẬN VÀ HẠN CHẾ RỦI
RO…………………. 58
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
6.1 KẾT LUẬN 60
6.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
năm (2011-2012) 36
Bảng 4.4.1: Độ nghiêng đòn bẩy hoạt động và các chỉ tiêu doanh thu hòa vốn,
doanh thu an toàn, thời gian hòa vốn của Công ty qua ba năm (2010-2012) 40
Bảng 4.4.1: Độ nghiêng đòn bẩy hoạt động và các chỉ tiêu doanh thu hòa vốn,
doanh thu an toàn, thời gian hòa vốn của Công ty trong 6 tháng đầu năm (2012
và 2013) 41
Bảng 4.2.2: Mức độ tác động của từng nhân tố trong %EBIT 43
Bảng 4.6.2: Kết cấu chi phí của Công ty trong ba năm 2010, 2011, 2012 46
Bảng 4.6.2: Kết cấu chi phí của Công ty 6 tháng đầu năm (2012, 2013) 47
Bảng 4.7.1: Mức cầu đối với sản phẩm và xác suất 51
Bảng 4.7.2.1: Độ bẩy tổng hợp trong ba năm (2010-2012) 52
Bảng 4.7.2.2: Độ bẩy tổng hợp trong 6 tháng đầu năm (2012 và 2013) 53
Bảng 4.9: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên tổng
tài sản và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 56
9
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1.6.2: Phân tích hòa vốn 11
Hình 2.1.6.4: Cấu trúc chi phí của ba phương án 12
Hình 2.1.6.5: Quan hệ giữa DOL và doanh thu hòa vốn 13
Hình 3.1.1: Lo go công ty Cổ Phần Gò Đàng 20
Hình 3.1.2: Công ty TNHH MTV Gò Đàng Vĩnh Long 21
Hình 3.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty TNHH MTVGò Đàng Vĩnh
Long 22
Hình 3.1.3: Chuỗi khép kín quy trình sản xuất cá tra và cá basa 24
: Chi phí khấu hao cơ bản
CP NC tt
: Chi phí nhân công trực tiếp
CP NVLtt
: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CP SXC
: Chi phí sản xuất chung
CPBH
: Chi phí bán hàng
CPQLDN
: Chi phí quản lý doanh nghiệp
ĐBSCL
: Đồng Bằng Sông Cửu Long
DFL
: Độ bẩy tài chính
DN
: Doanh nghiệp
DOL
: Độ bẩy hoạt động
DTAT
: Doanh thu an toàn
DTBH & DV
: Doanh thu bán hàng và dich vụ
DTL
: Đòn bẩy tổng hợp
EBIT
: Lợi nhuận hoạt động
EPS
: lợi nhuận trên cổ phần
Gt
khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đòn bẩy trong tài chính là
con dao hai lưỡi. Nếu hoạt động của doanh nghiệp tốt, đòn bẩy sẽ khuếch đại
cái tốt lên gấp bội lần và ngược lại. Ta có thể đánh giá được mức độ rủi ro
mà một doanh nghiệp có thể gặp phải thông qua tác động của các chỉ số đòn
bẩy. Do đó, doanh nghiệp có thể căn cứ vào phân tích đòn bẩy để điều chỉnh
các yếu tố liên quan sao cho phù hợp với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và thái độ
chấp nhận rủi ro của mình. Đây là một vấn đề mà bất cứ doanh nghiệp nào
cũng đều quan tâm đến trong định hướng phát triển của mình, làm sao tối
thiểu hóa mức độ rủi ro mà vẫn duy trì suất sinh lợi cao để mang lại hiệu quả
bền vững cho Công ty. Hệ thống đòn bẩy được các doanh nghiệp sử dụng
trong quản lý tài chính là đòn bẩy hoạt động, đòn bẩy tài chính, đòn bẩy tổng
hợp. Tuy nhiên doanh nghiệp chỉ có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính trong khi
không thể lựa chọn đòn bẩy hoạt động. Bởi lẽ, đòn bẩy hoạt động do đặc điểm
hoạt động của doanh nghiệp qui định, ví dụ: các doanh nghiệp kinh doanh vận
tải và sản xuất nguyên liệu cơ bản như thép, xi măng, cơ khí, vật liệu xây
dựng… có đòn bẩy hoạt động cao trong khi các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực dịch vụ như tư vấn, du lịch…có đòn bẩy hoạt động thấp.
Đòn bẩy hoạt động là mức độ sử dụng chi phí cố định của doanh nghiệp
(thường được tính toán trong ngắn hạn) so với chi phí biến đổi. Trong kinh
doanh doanh nghiệp đầu tư chi phí cố định với mong muốn số lượng sản phẩm
tiêu thụ sẽ tạo ra doanh thu đủ lớn để trang trải chi phí cố định và chi phí biến
đổi. Giống như chiếc đòn bẩy trong cơ học, sự hiện diện của chi phí hoạt động
cố định tạo ra sự thay đổi trong số lượng tiêu thụ sản phẩm để khuyếch đại sự
thay đổi về lãi hoặc lỗ. Độ bẩy hoạt động là công cụ giúp nhà quản trị xem ở
một mức định phí nào đó, sự thay đổi doanh thu sẽ biết trước ảnh hưởng thế
nào đến lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp có độ bẩy hoạt động cao, chỉ có biến
động nhỏ trên doanh thu sẽ gây ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận hoạt động. Đôi
khi biết trước độ bẩy hoạt động, Công ty có thể dễ dàng hơn trong việc quyết
định chính sách doanh thu và chi phí của mình (Nguyễn Minh Kiều, 2011).
Công ty sẽ đầu tư thêm dây chuyền sản xuất thức ăn thủy sản thứ 2.
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ phân tích tác động của đòn bẩy hoạt động đến khả năng sinh lợi
và rủi ro đối với lĩnh vực sản xuất thức ăn thủy sản, tập trung nghiên cứu về
chi phí sản xuất, tình hình kết cấu chi phí, độ lớn đòn bẩy hoạt động, ảnh
hưởng của đòn bẩy hoạt động lên lợi nhuận và rủi ro của Công ty và đưa ra
giải pháp sử dụng chi phí hợp lý. 13
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Trong quá trình thực hiện đề tài, việc tham khảo các tài liệu có liên quan
là rất hữu ích, giúp cho đề tài nghiên cứu sẽ được hoàn thiện hơn, phong phú
hơn. Sau đây là một số đề tài mà tôi đã tham khảo, phục vụ cho đề tài của tôi:
Trương Thị Huyền Trang (2008) nghiên cứu “Phân tích tác động đòn bẩy
lên lợi nhuận và rủi ro của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Delta AGF”,
LVTN đại học, Đại học An Giang. Tác giả đã thu thập số liệu thứ cấp từ
phòng kế toán của Công ty từ các báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán Sử
dụng phương pháp xử lý số liệu là: phân loại, tính toán số liệu để tìm ra các
chỉ tiêu giải quyết vấn đề, sau đó phân tích, lý luận, tổng hợp thông tin để đưa
ra giải pháp và đề nghị. Nội dung phân tích chủ yếu của đề tài là: tổng hợp tác
động đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính lên lợi nhuận và rủi ro của Công
ty, đề tài đã phân tích và thấy được mức độ ảnh hưởng khác nhau của đòn bẩy
hoạt động lên lợi nhuận hoạt động và rủi ro kinh doanh là do đầu tư định phí
thay đổi. Tác giả nhận xét rằng: Sự chênh lệch khá xa giữa tỷ trọng định phí
và biến phí trong kết cấu chi phí chứng tỏ Công ty không hoạt động dưới điều
kiện độ bẩy hoạt động cao, ứng với điều kiện khó khăn của nền kinh tế. Tuy
nhiên, việc sử dụng độ bẩy hoạt động cao hơn độ bẩy tài chính chứng đòn bẩy
hoạt động vẫn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số …), trong đó chủ
yếu là phương pháp phân tích so sánh. Nội dung chủ yếu là phân tích tình hình
kết cấu chi phí, độ lớn đòn bẩy hoạt động, ảnh hưởng của đòn bẩy lên lợi
nhuận và rủi ro của Công ty. Đề tài chỉ xem xét tác động của đòn bẩy hoạt
động lên lợi nhuận và rủi ro của 2 sản phẩm chính của Công ty là: sản phẩm
Clinker và Xi măng và tác giả đã rút ra kết luận: Qua việc phân tích ta thấy
DOL của sản phẩm Clinker cao hơn so với DOL của sản phẩm Xi măng. Điều
đó cho thấy rằng hoạt động sản xuất và kinh doanh Clinkek sẽ mang về lợi
nhuận cao hơn nhiều (khi trong điều kiện kinh tế phát triển tốt) và rủi ro thua
lỗ nặng hơn nhiều (khi nền kinh tế có nhiều bất ổn) so với sản xuất và kinh
doanh sản phẩm Xi măng, và đưa ra giải pháp sử dụng chi phí cho Công ty rất
cụ thể và thiết thực như: sơ đồ tiến trình nghiệm thu, bàn giao TSCĐ mới đầu
tư vào quản lý sử dụng, sơ đồ tiến trình quản lý khấu hao, phân bổ chi phí
khấu hao, tài sản cố định, sơ đồ tiến trình kiểm kê tài sản cố định,…
Khi đọc qua các tài liệu cho thấy các nghiên cứu trước đây đều sử dụng
các số liệu thứ cấp thu thập từ phòng kế toán; phương pháp thống kê mô tả,
phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số từ đó tác giả phân tích tác động của
DOL lên lợi nhuận và rủi ro của Công ty qua từng giai đoạn. Bên cạnh đó còn
tiến hành phỏng vấn nhân viên kế toán và quan sát quy trình sản xuất để từ đó
đưa ra các giải pháp tiết kiệm chi phí. Do vậy nghiên cứu này kế thừa của
Trương Thị Huyền Trang (2008), Võ Thị Trúc Lê (2007), Nguyễn Thị Vân
(2009) để thực hiện phân tích tác động của đòn bẩy hoạt động lên lợi nhuận và
rủi ro của Công ty TNHH MTV Gò Đàng Vĩnh Long. Bên cạnh việc phát huy
các điểm mạnh mà các đề tài trước đã đạt được, đề tài của tôi sẽ đi sâu hơn
phân tích tác động của đòn bẩy hoạt động lên lợi nhuận và rủi ro, đặc biệt là
phân tích rủi ro kinh doanh thông qua phương pháp đo lường rủi ro và phân
tích hòa vốn. Đây là vấn đề mà hầu như các đề tài trên phân tích chưa sâu hay
ít đề cập tới, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khuếch đại tác động của đòn bẩy
hoạt động lên lợi nhuận, hạn chế rủi ro trong kinh doanh và đề ra giải pháp để
quản lý và sử dụng chi phí hợp lý tại Công ty.
chi phí giá vốn hàng bán, chi phí bao bì đóng gói, hoa hồng bán hàng…
(Lê Phước Hương et al., 2011).
Định phí (định phí) là những chi phí khi căn cứ ứng xử của nó biến động
thì tính theo tổng số tiền nó không thay đổi, còn tính theo một đơn vị căn cứ
ứng xử nó sẽ thay đổi như chi phí thuê nhà, chi phí khấu hao tài sản cố định
theo đường thẳng. Vì tổng số không thay đổi nên khi mức độ hoạt động tăng
thì định phí tính trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi, và ngược lại. Thông
thường trên các báo cáo, định phí được thể hiện dưới dạng tổng số. Định phí
gồm những chi phí có liên quan đến những máy móc thiết bị, nhà xưởng, cơ sở
hạ tầng, chi phí quản lý, chi phí lương văn phòng, thuê tài chính dài hạn, 16
chi phí bảo trì, bảo hiểm, chi phí quảng cáo… Trong đều kiện kỹ thuật
sản xuất ngày càng phát triển, tự động hóa càng cao, định phí sẽ ngày càng gia
tăng tỷ trọng so với chi phí khả biến. Do đó, tăng tỷ trọng định phí có ý nghĩa
rất quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của tổ chức, nhưng nhược điểm của
định phí cao là các nhà quản lý dễ bị động và có rất ít sự lựa chọn có thể trong
các quyết định hằng ngày (Lê Phước Hương et al., 2011).
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố biến
phí và yếu tố khả biến. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường
thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản
nó thể hiện đặc điểm của yếu tố khả biến. Sự pha trộn giữa phần bất biến và
khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất định (Lê Phước Hương et al., 2011).
Nhận xét: Chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tài sản, sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy hiểu được bản chất kinh tế, hình thức,
đặc điểm của từng loại chi phí sẽ giúp ích ít nhiều cho việc quản lý chi phí ở
các doanh nghiệp. Quản lý chi phí thích hợp trên tường đối tượng là: đối với
biến phí phải xây dựng và kiểm soát tốt định mức ở từng mức độ, định phí
người quản lý sẽ có căn cứ dự đoán các chi phí sẽ phải ứng xử như thế nào vì
các biến động của mức độ hoạt động trong toàn doanh nghiệp.
Gọi Q: sản lượng tiêu thụ, p: giá bán, v: biến phí đơn vị, F: định phí.
Bảng 2.1: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí
Tổng số
Đơn vị
(1)Doanh thu: S
(2)Biến phí: V
(3)Số dư đảm phí (1) – (2)
(4)Định phí
(5)Lợi nhuận hoạt động: EBIT (3) – (4)
pQ
vQ
(p – v)Q
F
(p – v)Q – F
p
v
(p – v)
Từ những dữ kiện trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nêu trên,
ta có:
Tại sản lượng Q
1
=> Doanh thu: PQ
1
=> EBIT
1
= (p – v)Q
1
Thông qua khái niệm tỷ lệ số dư đảm phí ta rút ra mối quan hệ giữa
doanh thu và lợi nhuận, mối quan hệ đó là: nếu doanh thu tăng (giảm)
một lượng thì lợi nhuận tăng lên (giảm xuống) một lượng bằng doanh thu tăng
lên (giảm xuống) nhân với tỷ lệ số dư đảm phí (điều kiện định phí không đổi)
(Lê Phước Hương et al., 2011). Từ kết luận trên ta rút ra hệ quả sau: nếu tăng
cùng một lượng doanh thu (do tăng sản lượng tiêu thụ) ở tất cả những sản
phẩm, những bộ phận, những Công ty… thì những Công ty nào, những bộ
phận nào có tỷ lệ số dư đảm phí lớn thì lợi nhuận tăng lên càng nhiều.
Kết cấu chi phí biểu thị mối quan hệ tỷ lệ giữa hai bộ phận biến phí và
định phí của một doanh nghiệp trong điều kiện khối lượng bán (doanh số bán)
tăng trưởng thì doanh nghiệp nào có sử dụng định phí nhiều hơn sẽ có
khả năng tạo ra lợi nhuận nhiều hơn hay về phương diện chi phí thì có ưu thế
cạnh tranh cao hơn. Ngược lại trong điều kiện doanh số bán sụt giảm thì
doanh nghiệp nào sử dụng biến phí nhiều hơn sẽ có khả năng chống đở
tổn thất lổ tốt hơn. Khi doanh nghiệp dự định xác lập một kết cấu chi phí phải
xem xét các yếu tố tác động như: kế hoạch phát triển dài hạn và trước mắt của 18
doanh nghiệp, tình hình biến động của doanh số hàng năm, quan niệm của
nhà quản trị đối với rủi ro… (Lê Phước Hương et al., 2011)
2.1.3 Cách tính chi phí đối với đòn bẩy hoạt động
Nếu đặt câu hỏi khi gia tăng doanh thu thì chi phí sẽ biến động như
thế nào, lợi nhuận sẽ thay đổi như thế nào, những chi phí nào liên quan
trực tiếp đến sự biến động doanh thu để có giải pháp điều chỉnh, dự báo thích
hợp thì thông tin trên báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng chi phí
Phần trăm thay đổi
lợi nhuận hoạt động
Độ bẩy hoạt động (DOL)
ở mức sản lượng Q
(doanh thu S)
Phần trăm thay đổi
sản lượng (hoặc doanh thu)
= 19
Cần lưu ý rằng độ bẩy có thể khác nhau ở những mức sản lượng (hoặc
doanh thu) khác nhau. Do đó, khi nói đến độ bẩy phải chỉ rõ độ bẩy ở mức
sản lượng Q, doanh thu S nào đó.
Kết luận: Tại mức sản lượng cho sẵn (hoặc doanh thu) sẽ xác định được
đòn bẩy hoạt động, nếu dự kiến được tốc độ tăng lợi nhuận thì sẽ dự kiến được
tốc độ tăng doanh thu và ngược lại.
Để đo lường tác động của DOL lên EBIT ta dùng công thức sau:
EBIT
Q2
= EBIT
Q1
+ (EBIT
Q1
x DOL
Giả định có hai Công ty cùng doanh thu và lợi nhuận, nếu tăng cùng một
lượng doanh thu như nhau, thì những Công ty có tỷ lệ số dư đảm phí lớn,
lợi nhuận tăng lên càng nhiều, vì vậy tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn và độ bẩy
hoạt động sẽ lớn hơn. Điều này cho thấy những Công ty mà tỷ trọng chi phí
bất biến lớn hơn khả biến thì tỷ lệ số dư đảm phí lớn, từ đó đòn bẩy hoạt động
sẽ lớn và lợi nhuận sẽ rất nhạy cảm.
2.1.5 Yếu tố tác động đòn bẩy hoạt động
Yếu tố tác động đến đòn bẩy hoạt động có ý nghĩa quan trọng và quyết
định nhất chính là kết cấu chi phí. Những Công ty có định phí chiếm tỷ trọng
lớn, biến phí chiếm tỷ trọng nhỏ thì tỷ lệ số dư đảm phí lớn nên nếu tăng
(giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng (giảm) nhiều hơn. Những Công ty có định
phí chiếm tỷ trọng lớn là những Công ty có mức đầu tư lớn, nếu gặp thuận lợi
tốc độ phát triển nhanh. Ngược lại nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêu thụ
được, doanh thu giảm thì lợi nhuận giảm nhanh, sự phá sản diễn ra nhanh
chóng. Những Công ty có định phí chiếm tỷ trọng nhỏ, biến phí chiếm tỷ trọng
lớn thì tỷ lệ số dư đảm phí nhỏ nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận
Độ bẩy hoạt động
Số dư đảm phí
Lợi nhuận
= 20
tăng (giảm) ít hơn. Những Công ty có định phí chiếm tỷ trọng nhỏ là những
Công ty có mức đầu tư thấp vì vậy tốc độ phát triển chậm, nhưng nếu gặp rủi
ro sản phẩm không tiêu thụ được thì sự thiệt hại cũng sẽ thấp hơn (Lê Phước
Hương et al., 2011, p.69).
Có thể hiểu theo cách khác, độ bẩy hoạt động cao có thể giúp doanh
việc phân tích hòa vốn là để xác định lợi nhuận từ kinh doanh sẽ thay đổi 21
như thế nào so với mức sản xuất và nhận biết mức sản xuất mà tại đó quá trình
từ lỗ sang lãi diễn ra, ta có: EBIT = Doanh thu – Tổng chi phí
Mà: Tổng chi phí = Biến phí + Định phí
Suy ra: EBIT = Doanh thu – (Biến phí + Định phí)
Tại điểm hòa vốn, thì EBIT = 0, tức:
Doanh thu hòa vốn – (Biến phí + Định phí) = 0
Hay: Doanh thu hòa vốn = Biến phí + Định phí S
hv
= V + F; từ đó ta có
được các công thức sau:
Sản lượng hòa vốn (Q
hv
): Q
hv
=
Doanh thu hòa vốn (S
hv
): S
hv
=
Thời gian hoà vốn (T
hv
), (tính theo ngày): T
S
lỗ
lãi 22
Như vậy, phân tích hòa vốn là một công cụ phân tích tài chính được dùng
để nghiên cứu các mối liên hệ giữa doanh thu, các định phí, biến phí, và EBIT
của một doanh nghiệp tại nhiều mức sản lượng khác nhau. Phân tích hòa vốn
có thể được dùng hỗ trợ việc dự báo lợi nhuận, phân tích các thay đổi trong
cấu trúc vốn hay cấu trúc giá cả và trong hoạch định cấu trúc vốn.
2.1.6.3 Rủi ro kinh doanh thông qua việc phân tích hòa vốn
Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro tiềm tàng trong bản thân hoạt động của
từng doanh nghiệp, sẽ không có gì chắc chắn xoay quanh doanh thu và lợi
nhuận của doanh nghiệp. Chính điều này sẽ tạo ra rủi ro, thể hiện ở chổ Công
ty không tạo đủ doanh thu hàng năm từ việc tiêu thụ sản phẩm đến mức đủ
thanh toán các định phí trong sản xuất kinh doanh. Hay nói cách khác, rủi ro
kinh doanh phụ thuộc vào sự phân bổ các chi phí hoạt động. Mối quan hệ giữa
các loại chi phí và lợi nhuận là công cụ phân tích rủi ro quan trọng của nhà
quản trị tài chính. Chính vì thế, các nhà quản trị trong doanh nghiệp giữ vai trò
kiểm soát đối với mức độ rủi ro kinh doanh thông qua sự lựa chọn dự án đầu
tư, công nghệ và các chiến lược đầu tư cụ thể (Phạm Văn Dược, 2006).
Phân tích hòa vốn thường được sử dụng để đánh giá rủi ro của một doanh
nghiệp bằng cách chỉ ra tác động của chúng lên EBIT khi chúng có những thay
đổi của môi trường kinh doanh. Một khi tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp đang ở gần điểm hòa vốn là không tốt, vì đó là tình trạng mức độ rủi ro
khá lớn và cực kỳ mạo hiểm. Khi các điều kiện như chi phí biến đổi đơn vị,
giá bán, sản lượng tiêu thụ thay đổi hoặc có đột biến về chi phí cố định thì
doanh nghiệp phải chịu rủi ro và thua lỗ.
thay đổi cấu trúc chi phí và giá bán, do dó phân tích hòa vốn thường được sử
dụng để phân tích những sự lựa chọn khác nhau và dự báo những hậu quả có
thể xảy ra của chúng đối với hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp
thay đổi phương án sản xuất: qua phân tích hòa vốn của các nhà quản trị cũng
có thể lựa chọn phương án sản xuất nào là tối ưu. Và dự báo những ảnh hưởng
có thể xảy ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm lại,
thông qua việc phân tích hòa vốn có thể rút ra được một số ý nghĩa như:
giúp ta phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp như: giá bán đơn vị, biến phí đơn vị, định phí;
xác định được mục tiêu lợi nhuận cho doanh nghiệp để lựa chọn các phương
án kinh doanh khác nhau; giúp cho doanh nghiệp đánh giá được mức độ rủi ro
của một dự án đầu tư hay mức độ rủi ro của hoạt động sản xuất kinh doanh…
2.1.6.5 Quan hệ giữa điểm hòa vốn và đòn bẩy hoạt động
Quan hệ giữa sản lượng tiêu thụ và lợi nhuận hoạt động là quan hệ tuyến
tính, nếu sản lượng di chuyển càng xa điểm hoà vốn thì lợi nhuận hoạt động
hoặc lỗ sẽ càng lớn, ngược lại độ bẩy hoạt động càng nhỏ. Độ bẩy hoạt động
tiến đến vô cực khi số lượng sản xuất và tiêu thụ tiến dần đến điểm hoà vốn.
Khi số lượng sản xuất và tiêu thụ càng vượt xa điểm hoà vốn thì độ bẩy sẽ tiến
dần đến 1 (Nguyễn Minh Kiều, 2011), điều này thể hiện qua phương trình:
DOL tại X = Q
Q − Q
hv
n
i
PiEBITi
1
)(
-Lợi nhuận kỳ vọng được tính như sau:
Ri: lợi nhuận ứng với biến cố i; n: số biến cố có thể xảy ra; Pi: xác suất
xảy ra biến cố i
Từ đó ta thấy, lợi nhuận kỳ vọng cũng chính là trung bình gia quyền của
các lợi nhuận có thể xảy ra với trọng số là xác suất xảy ra từng biến cố. Để đo
lường độ phân tán hay sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng,
người ta dùng độ lệch chuẩn (σ). Độ lệch chuẩn chính là căn bậc hai của
phương sai. Công thức phương sai là:
25
2.1.8 Quan hệ giữa độ bẩy hoạt động và rủi ro doanh nghiệp
Rủi ro doanh nghiệp là rủi ro do những bất ổn phát sinh trong hoạt động
của doanh nghiệp khiến cho lợi nhuận hoạt động giảm. Độ bẩy hoạt động chỉ
là một bộ phận của rủi ro doanh nghiệp. Yếu tố chính của rủi ro doanh nghiệp
là sự thay đổi hay sự bất ổn của doanh thu và chi phí sản xuất, còn đòn bẩy
hoạt động làm khuếch đại sự ảnh hưởng của các yếu tố này lên lợi nhuận hoạt
động của doanh nghiệp. Bản thân đòn bẩy hoạt động không phải là nguồn gốc
của rủi ro, bởi lẽ độ bẩy cao cũng chẳng có ý nghĩa gì cả nếu doanh thu và